Cần chính sách thúc đẩy nguồn nhân lực mới

Ngày 30/11/2024, Quốc hội thông qua Nghị quyết về việc Việt Nam tiếp tục thực hiện chủ trương đầu tư Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận sau 8 năm tạm dừng, mở ra cơ hội quan trọng cho ngành hạt nhân, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức. Việt Nam cần xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ nghiên cứu, quản lý và vận hành có năng lực, đồng thời nâng cao trình độ khoa học-công nghệ và phát triển sản xuất công nghiệp, bảo đảm chất lượng và an toàn trong quá trình xây dựng và vận hành nhà máy điện hạt nhân.
Đoàn công tác của Bộ Khoa học và Công nghệ thăm Viện Liên hiệp nghiên cứu hạt nhân Dubna (Nga).
Đoàn công tác của Bộ Khoa học và Công nghệ thăm Viện Liên hiệp nghiên cứu hạt nhân Dubna (Nga).

Tiến sĩ Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam cho biết, lĩnh vực điện hạt nhân gồm 3 trụ cột: Thứ nhất, các tổ chức vận hành các nhà máy điện hạt nhân; thứ hai, cơ quan pháp quy hạt nhân giám sát về an toàn và đưa ra các yêu cầu đối với tổ chức vận hành để luôn bảo đảm an toàn; thứ ba, các tổ chức nghiên cứu thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu tìm hiểu về công nghệ và an toàn hạt nhân, cũng như phát triển công nghệ phù hợp với đặc thù của từng quốc gia.

Theo mô hình của các nước đã phát triển thành công điện hạt nhân, vai trò của Viện quốc gia về năng lượng nguyên tử là rất lớn. Các viện có vai trò nghiên cứu, tư vấn lựa chọn, đánh giá an toàn, ưu nhược điểm của công nghệ; xây dựng các chương trình nghiên cứu và phát triển liên quan công nghệ lò phản ứng…

Chính vì vậy, trước mắt, việc nghiên cứu công nghệ điện hạt nhân và an toàn hạt nhân là nhiệm vụ quan trọng của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam để tư vấn, hỗ trợ chủ đầu tư lựa chọn công nghệ phù hợp trong quá trình tái khởi động các dự án điện hạt nhân Ninh Thuận. Đội ngũ cán bộ nghiên cứu về công nghệ và an toàn điện hạt nhân sẽ luôn đồng hành cùng các tổ chức vận hành nhà máy điện hạt nhân cũng như cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia.

Trong giai đoạn tiếp theo, việc triển khai xây dựng các nhà máy điện hạt nhân đòi hỏi Việt Nam phải có đội ngũ chuyên gia giỏi ở nhiều lĩnh vực, để xây dựng một chương trình quốc gia về phát triển nghiên cứu, hỗ trợ bảo đảm an toàn trong điều kiện đặc thù của Việt Nam, cũng như nâng cao năng lực, từng bước tham gia nội địa hóa, sản xuất các thiết bị điện hạt nhân.

Việc phát triển điện hạt nhân cũng đòi hỏi Việt Nam cần tập trung xây dựng năng lực nghiên cứu khoa học với đội ngũ cán bộ nghiên cứu giỏi trong nhiều lĩnh vực liên quan như vật lý hạt nhân, điều khiển tự động, cơ học dòng chảy, cơ khí chế tạo, công nghệ hóa học, sức bền vật liệu thép, hợp kim, nhiên liệu hạt nhân…

Chương trình điện hạt nhân là dài hạn, đòi hỏi sự nỗ lực của nhiều thế hệ các nhà lãnh đạo và người làm nghiên cứu khoa học, quản lý trong một quá trình lâu dài và liên tục, bền bỉ để có được sự thành công và đóng góp tốt cho phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Theo Tiến sĩ Trần Chí Thành, dù đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong những năm qua, nguồn nhân lực hiện nay của ngành hạt nhân Việt Nam vẫn còn hạn chế và thiếu đội ngũ cán bộ nghiên cứu đầu đàn. Vì vậy, cần có một chương trình nghiên cứu cấp quốc gia và xây dựng một kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực bài bản, để triển khai đào tạo cán bộ, đào tạo lại, đào tạo nâng cao, bao gồm đào tạo trong nước và ngoài nước với nhiều cấp độ khác nhau từ đại học đến chuyên gia đầu ngành tầm quốc tế.

Nghiên cứu phải đi đôi với đào tạo, và việc đào tạo cần mở rộng sang các lĩnh vực nền tảng khác để phục vụ cho nhu cầu phát triển của nghiên cứu ứng dụng năng lượng nguyên tử trong bối cảnh biến đổi khí hậu cũng như chương trình phát triển điện hạt nhân.

Tiến sĩ Võ Văn Thuận, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân cho rằng, đứng trước những cơ hội to lớn, nước ta đang đối mặt với thách thức thiếu hụt chuyên gia có trình độ. Vì vậy, đào tạo nhân lực là nhiệm vụ cấp thiết, cần có chính sách đặc biệt động viên nhân lực chất lượng cao gia nhập đội ngũ quản lý, nghiên cứu triển khai khoa học, công nghệ và vận hành nhà máy điện hạt nhân.

Một chương trình đào tạo gấp rút cũng phải mất 5-7 năm mới có kết quả cụ thể. Việc đào tạo bồi dưỡng nhân lực phải được thực hiện liên tục và bài bản theo tiến độ phát triển lâu dài của chương trình điện hạt nhân để có đội ngũ các nhà khoa học và kỹ sư ngang tầm với các nước tiên tiến, có năng lực từng bước nội địa hóa công nghệ điện hạt nhân.

Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn về nghiên cứu ứng dụng năng lượng nguyên tử, hướng đến nhiệm vụ hỗ trợ cho chương trình điện hạt nhân của đất nước, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam đã xác định một số nhiệm vụ cụ thể, đó là: Xây dựng chương trình nghiên cứu dài hạn, tập trung xây dựng tiềm lực khoa học, triển khai nhiệm vụ nghiên cứu với chất lượng tốt; ưu tiên các hướng nghiên cứu hỗ trợ cho chương trình điện hạt nhân của Việt Nam.

Bên cạnh đó, Viện cần xây dựng một số nhóm nghiên cứu xuất sắc, trong đó có các nhóm tập trung vào công nghệ điện hạt nhân, vật lý hạt nhân, thủy nhiệt và phân tích, đánh giá an toàn hạt nhân đối với một số công nghệ điện hạt nhân được lựa chọn. Viện sẽ phối hợp, hợp tác với một số đơn vị nghiên cứu, trường đại học trong nghiên cứu triển khai; xây dựng và từng bước hoàn thiện chương trình đào tạo về công nghệ hạt nhân.

Ngoài ra, tích cực đào tạo nguồn nhân lực qua các kênh đào tạo trong nước và quốc tế, đào tạo qua công việc, thế hệ trước tham gia đào tạo, truyền kiến thức và kinh nghiệm cho thế hệ sau, kết hợp nghiên cứu với đào tạo, gửi các nhóm nghiên cứu sang nước ngoài làm việc, ưu tiên đào tạo cán bộ trẻ; triển khai các khóa đào tạo ngắn hạn và trung hạn trong nước về lĩnh vực hạt nhân.

Giáo sư Lê Hồng Khiêm, điều phối viên của chương trình hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam và Viện Liên hiệp nghiên cứu hạt nhân Dubna (JINR, Nga), cho biết, thời gian tới, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam cũng như các nhà khoa học trong lĩnh vực hạt nhân nên có chương trình nghiên cứu, được thông qua bởi Viện Liên hiệp nghiên cứu hạt nhân Dubna, để các nhà khoa học Việt Nam có thể khai thác hiệu quả các thiết bị hiện đại của Viện này, qua đó, đào tạo cán bộ, nhất là cán bộ vật lý hạt nhân ở trình độ cao, tạo ra những nhóm nghiên cứu riêng của Việt Nam nhằm hỗ trợ tốt nhất cho chương trình phát triển điện hạt nhân sắp tới.

Có thể bạn quan tâm

Đào tạo an ninh mạng tại CyRadar giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực phòng thủ.

Tăng năng lực phòng vệ của doanh nghiệp

Chuyển đổi số đang mở ra nhiều cơ hội tăng trưởng cho doanh nghiệp Việt Nam nhưng cũng kéo theo những rủi ro an ninh mạng phức tạp. Khi dữ liệu trở thành tài sản chiến lược, khả năng bảo vệ hệ thống và thông tin không còn là vấn đề kỹ thuật mà trở thành năng lực phòng vệ quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp.

Hoạt động nghiên cứu tại Phòng Thí nghiệm trọng điểm Công nghệ Lọc, Hóa dầu (Viện Hóa học công nghiệp Việt Nam).

Đầu tư hạ tầng nghiên cứu cho công nghệ chiến lược

Phát triển hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia là một trong những giải pháp để hiện thực hóa mục tiêu đột phá về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo Nghị quyết 57-NQ/TW. Thực trạng lạc hậu về công nghệ đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tổ chức lại hạ tầng nghiên cứu theo hướng tập trung, đồng bộ và hiệu quả.

Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Công an thành phố Đà Nẵng đấu tranh tội phạm trên không gian mạng. (Ảnh: Công Vinh)

Nâng cao ý thức làm chủ, bảo vệ không gian mạng

Tại Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp tục khẳng định chủ trương của Đảng về bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới, khi nhấn mạnh yêu cầu: Tự chủ chiến lược, có năng lực kiểm soát rủi ro, có thể chế vững, có trật tự xã hội ổn định, có sự hội nhập quốc tế sâu rộng...

UAV được thử nghiệm phun thuốc cho cây cà-phê tại xã Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

Cơ chế sandbox đã sang giai đoạn triển khai thực tế

Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, bên cạnh chuẩn bị cấp phép mô hình thử nghiệm có kiểm soát đầu tiên về phát triển kinh tế tầm thấp, ứng dụng phương tiện bay không người lái (UAV) tại tỉnh Điện Biên, một số địa phương, doanh nghiệp cũng bày tỏ quan tâm đến việc triển khai thử nghiệm mô hình sandbox.

Định vị vị thế Việt Nam trên bản đồ sở hữu trí tuệ toàn cầu

Định vị vị thế Việt Nam trên bản đồ sở hữu trí tuệ toàn cầu

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, sở hữu trí tuệ ngày càng khẳng định vai trò là một trụ cột quan trọng của nền kinh tế tri thức. Những năm qua, Việt Nam đã chủ động hoàn thiện thể chế, từng bước xây dựng hệ thống sở hữu trí tuệ tương thích với chuẩn mực quốc tế và đạt được nhiều kết quả tích cực.

Bảo đảm pháp lý khi chuyển chất xám trí tuệ thành dòng vốn trên thị trường

Bảo đảm pháp lý khi chuyển chất xám trí tuệ thành dòng vốn trên thị trường

Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 được thông qua cho thấy những vấn đề pháp lý sở hữu trí tuệ đã được điều chỉnh gần và sát thực tiễn hiện nay. Trong đó, việc định giá tài sản sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm đang là nội dung thu hút sự quan tâm của đông đảo dư luận, nhất là với giới khởi nghiệp liên quan đổi mới sáng tạo.

Các sản phẩm của Hợp tác xã sản xuất và tiêu thụ dược liệu Yên Sơn (thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình) tăng mạnh về số lượng bán ra thị trường nhờ thực hiện truy xuất nguồn gốc. (Ảnh: Hà An)

Hạ tầng số nông nghiệp và môi trường

Việc nhanh chóng xây dựng hạ tầng số cho ngành nông nghiệp và môi trường không chỉ để đáp ứng các điều kiện cần của thị trường mà còn là cơ sở cho quá trình chuẩn hóa kỹ thuật, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và nâng cao chất lượng cuộc sống của con người.