Các nhà khoa học hàng đầu thế giới hiến kế phát triển nông nghiệp bền vững

Yếu tố quan trọng làm nên một nền nông nghiệp bền vững là tìm được sự cân bằng giữa nhu cầu sản xuất lương thực, thực phẩm và việc bảo tồn hệ sinh thái môi trường, sức khỏe cộng đồng. Đồng thời cũng thúc đẩy ổn định kinh tế cho nông dân, giúp người nông dân có chất lượng cuộc sống tốt hơn.
Phiên tọa đàm Nông nghiệp bền vững trong bình thường mới.
Phiên tọa đàm Nông nghiệp bền vững trong bình thường mới.

Ngày 19/12, trong khuôn khổ Tuần lễ Khoa học - Công nghệ VinFuture 2022 đã diễn ra tọa đàm “Khoa học vì cuộc sống”. Tại đây, trong phiên họp Nông nghiệp bền vững trong bình thường mới, những nhà khoa học hàng đầu thế giới đã thảo luận và đưa ra những kết quả nghiên cứu giúp nhân loại có đủ lương thực, thực phẩm trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu.

Biến đổi khí hậu tác động đến nền nông nghiệp và kinh tế nông nghiệp như một “bình thường mới” đối với hệ thống kinh tế xã hội của từng quốc gia và toàn thế giới. Để nông nghiệp phát triển bền vững trong bình thường mới này, cần có sự đầu tư một cách có hệ thống cho khoa học-công nghệ và chính sách kinh tế-xã hội.

Thứ trưởng Khoa học - Công nghệ Bùi Thế Duy phát biểu.

Thứ trưởng Khoa học - Công nghệ Bùi Thế Duy phát biểu.

Phát biểu khai mạc phiên họp, Thứ trưởng Khoa học - Công nghệ Bùi Thế Duy cho biết, gần một nửa dân số ở các nước đang phát triển dựa vào nông nghiệp để kiếm sống; 75% người nghèo trên thế giới sống ở các vùng nông thôn.

Chuỗi tọa đàm “Khoa học vì Cuộc sống” là điểm hẹn kết nối giữa cộng đồng khoa học công nghệ Việt Nam với các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách và doanh nhân hàng đầu trong nước và quốc tế.

Theo ông Bùi Thế Duy, sản xuất nông nghiệp là lĩnh vực chịu tác động nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, nhưng sản xuất nông nghiệp cũng là một trong các nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu.

"Vậy giải pháp nào cho nông nghiệp có thể cân bằng và phát triển nền nông nghiệp bền vững, thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu và dịch bệnh đang diễn biến ngày càng phức tạp cũng như đảm bảo an ninh lương thực toàn cầu", Thứ trưởng Bùi Thế Duy đặt vấn đề.

Theo ông, yếu tố quan trọng làm nên một nền nông nghiệp bền vững là tìm được sự cân bằng giữa nhu cầu sản xuất lương thực thực phẩm và việc bảo tồn hệ sinh thái môi trường, sức khỏe cộng đồng. Đồng thời cũng thúc đẩy ổn định kinh tế cho nông dân, giúp người nông dân có chất lượng cuộc sống tốt hơn.

Thách thức này đòi hỏi các quốc gia phải có hướng đi mới, giải pháp mới đột phá và chỉ có khoa học công nghệ mới giải quyết được.

Giáo sư Ermias Kebreab (Giáo sư Khoa học Động vật tại Đại học California, Davis, Thành viên Hội đồng Sơ khảo VinFuture) cho biết, có một số giải pháp để xây dựng nông nghiệp thích ứng trong bối cảnh biến đổi khí hậu gây ra hiện tượng ấm lên toàn cầu.

Đưa gene chịu ngập vào giống lúa

Giáo sư Pamela Ronald trình bày tại phiên thảo luận.

Giáo sư Pamela Ronald trình bày tại phiên thảo luận.

Tại phiên tọa đàm, Giáo sư Pamela Ronald (Khoa Bệnh học Thực vật và Trung tâm Bộ Gene tại Đại học California, Davis) cho biết, để đối phó với tình trạng ngập úng do biến đổi khí hậu, các nhà nghiên cứu tại Viện nghiên cứu lúa gạo quốc tế IRRI đã tìm cách tạo ra các giống lúa chịu ngập tốt. Kết quả là giống lúa mới đã chịu ngập được trong khoảng thời gian 2 tuần, trong khi giống truyền thống chỉ chịu 3 ngày. Nếu không có công nghệ thì không thể "cô lập" và mang được các bộ gene tốt vào giống lúa mới.

Gene chịu ngập sub1 đã được đồng nghiệp tại đơn vị Nghiên cứu bệnh học cây trồng và di truyền học (David Mackill), thuộc Đại học California, Davis đưa vào giống lúa sub1 với mục tiêu là tạo ra giống lúa chịu ngập dài ngày. Họ đã đối chứng giữa giống truyền thống và giống lúa được bổ sung gene sub1 trong thí nghiệm ngập nước hoàn toàn. Đây là dự án do David Mackill và đồng nghiệp tại IRRI thực hiện, nhằm mang lại giống lúa chịu ngập cho nông dân.

Trong thí nghiệm, giống lúa IR64 bổ sung gene chịu ngập sub 1 được trồng trong điều kiện ngập nước phát triển tốt hơn, cho sản lượng tốt hơn trong thời gian 4 tháng.

Nhóm nghiên cứu đã tới Ấn độ và Bangladesh để thăm thử nghiệm của nông dân. Đây là địa bàn thường xuyên chịu ngập úng, nhất là khi biến đổi khí hậu gia tăng. Tại đây, dân trồng lúa Swarna, bổ sung gen chịu ngập sub1 thì sinh trưởng tốt, chịu ngập tốt, sản lượng cao hơn. Dự án đã thành công. Năm vừa rồi, 6 triệu nông dân toàn cầu đã trồng giống lúa có gene sub1.

Người hưởng lợi từ các công nghệ nông nghiệp chính là nông dân. Tại Ấn Độ, các vùng đất thấp thường xuyên bị ngập cũng là địa bàn sống của người nghèo, dễ bị tổn thương. Các nhà khoa học phát hiện giống lúa có gene sub1 có sản lượng cao hơn 45%, mang lại lợi ích nhiều hơn cho người dân. Nay ngập lụt xảy ra, mùa màng không bị mất trắng như trước nữa.

Tự tin và tràn đầy hy vọng, cộng đồng các nhà khoa học sẽ tiếp tục đưa ra các phát minh, sáng kiến đổi mới sáng tạo thích ứng biến đổi khí hậu. Nông nghiệp càng phát triển càng ít người dân chịu nghèo đói.

Cần dự báo xu hướng dịch bệnh của nông nghiệp

Tiến sĩ Van Schepler-Luu.

Tiến sĩ Van Schepler-Luu.

Tiến sĩ Van Schepler-Luu (Trưởng Bộ môn Bệnh thực vật và Tính kháng của cây ký chủ tại Viện Nghiên cứu Lúa quốc tế (IRRI) cho biết, hàng năm các dịch bệnh làm giảm 30% năng suất cây trồng. Ngoài ra, thuốc trừ sâu làm ảnh hưởng cuộc sống và môi trường, biến đổi khí hậu cũng làm ảnh hưởng tới dịch bệnh trong nông nghiệp, gây ra thiết hụt lương thực toàn cầu.

Như ta đã biết, bức tranh về dịch bệnh nông nghiệp ngày càng tăng và chúng ta cần đưa ra mô hình dự báo về dịch bệnh. Tiếp đến là cần năng lực xác định và khắc chế dịch bệnh nông nghiệp. Khi có được mô hình và điều kiện giải pháp phòng chống dịch bệnh, chúng ta cần nhân rộng ngay giải pháp đó.

"Vậy đâu là xu hướng dịch bệnh của nông nghiệp? Chúng ta cần có mô hình dự báo toàn cầu, để biết và dự báo khả năng bùng nổ dịch bệnh. Với mạng lưới toàn cầu, ta có thể xác định được xu hướng dịch bệnh và nhanh chóng xác định được giống lúa có thể kháng bệnh tật", Tiến sĩ Van Schepler-Luu bày tỏ.

Theo bà, khả năng kháng bệnh không chỉ ở 1-2 giống cây trồng mà hệ thực vật nói chung. Ngoài ra, chúng ta cần xác định các nhân tố có thể tác động tới năng lực điều chỉnh hệ gen để can thiệp gen trong cây trồng có khả năng kháng bệnh.

"Để làm được điều đó, chúng ta cần một loạt công nghệ để cải thiện hiệu suất trồng trọt. Công nghệ này có thể là kết hợp giống cây cùng loại để có loài mới cải tiến. Hoặc ta có thể lai ghép 2 giống gần nhau để có dòng mới. Thứ ba là làm biến đổi gene hoặc sử dụng biến dị. Chúng ta có thể dùng tia phóng xạ, và các hình thức biến dị qua hóa học vật lý khác và lai tạo cấy ghép để chuyển gene có lợi từ thực vật này sang thực vật khác, hoặc hiệu chỉnh hệ gene để tạo ra mang ADN bản địa", Tiến sĩ Van Schepler-Luu đề xuất.

Theo bà, những công nghệ này cần được nhân rộng và triển khai nhanh. Để làm được điều đó, chúng ta cần chiến lược đồng bộ. Mô hình nông nghiệp kháng bệnh hiệu quả với công nghệ mới như vậy có thể giúp ta xây dựng mạng lưới để dự báo và điều chỉnh mô hình canh tác phù hợp.

Vai trò của đất trong đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0

Giáo sư Claudia Wagner-Riddle.

Giáo sư Claudia Wagner-Riddle.

Đề cập theo một hướng nghiên cứu khác, Giáo sư Claudia Wagner-Riddle (Khoa Khoa học - Môi trường, Đại học Guelph, Canada) đã đưa ra câu trả lời về việc nông nghiệp tác động ngược lại ra sao tới biến đổi khí hậu.

"Chúng ta trồng trọt, chăn nuôi, phá rừng làm nương rẫy, hoặc vận tải chế biến lương thực... Tính chung những hoạt động này, nông nghiệp đóng góp 30% vào lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu. Riêng phát thải từ chăn nuôi chiếm 50% phát thải trong tổng ngành", bà Claudia Wagner-Riddle nói.

Chúng ta có thể giải quyết tình trạng này qua việc sử dụng đất thông minh bền vững hơn. Ngoài ra, có thể “bẫy CO2” và giảm phát thải N2O.

Theo bà, phát thải khí nhà kính không chỉ do carbon mà nitrogen cũng là cấu phần quan trọng, và phát thải từ nông nghiệp rất lớn. Chúng ta cần bảo đảm nitrogen hấp thụ vào cây trồng và đổi mới sáng tạo để giảm phát thải vào không khí.

"Hiện nông dân bón phân nhưng làm sao để biết chính xác 100% hấp thụ vào cây trồng. Chúng ta cũng cần lấy mẫu đo lường để biết lượng phát thải nitrogen trong 1 năm là bao nhiêu, thay vì chỉ đo đột xuất. Khi có dữ liệu, chúng ta có thể đưa vào mô hình tính toán để áp dụng trên địa bàn lớn, thời gian dài hơn để có giải pháp", Giáo sư Claudia Wagner-Riddle nói.

Theo bà, người nông dân thực sự không có động lực đầu tư vào môi trường nên chúng ta cần triển khai mẫu và thuyết phục người nông dân. Khi làm tốt thì cây trồng được lợi và rộng hơn là có lợi cho cộng đồng xã hội.

Còn theo Giáo sư Josse De Baerdemaeker (KU Leuven, Bỉ), để tiến tới nông nghiệp thông minh, cần quản lý dữ liệu để biết dữ liệu đất, giống cây nào thực sự phù hợp khí hậu địa phương. Dữ liệu này để mô hình hóa theo không gian thời gian, để nếu có khủng hoảng thì có thể chuẩn bị trước.

Dữ liệu phải thu thập từ người nông dân, quan trắc mặt đất, không trung…, để biết vấn đề sự sinh trưởng cây trồng, bệnh hại, đa dạng sinh học theo thời gian thực để biết đâu là tập quán tốt, đâu là giống cây nên trồng năm sau. Từ đó, ta mới có nền nông nghiệp thông minh chính xác.

Có thể bạn quan tâm

Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương đã có buổi làm việc với Giám đốc điều hành bộ phận Open Government Products thuộc Cơ quan Công nghệ Chính phủ Singapore (GovTech) Lý Hồng Nghị.

Thúc đẩy những định hướng hợp tác chiến lược về khoa học, công nghệ đi vào thực tiễn

Làm việc với Giám đốc điều hành bộ phận Open Government Products thuộc Cơ quan Công nghệ Chính phủ Singapore (GovTech) Lý Hồng Nghị, đồng chí Nguyễn Duy Ngọc cho biết, đào tạo nhân lực; phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đều là những vấn đề Việt Nam ưu tiên và mong muốn Singapore chia sẻ kinh nghiệm.

Sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội thực hành trên hệ thống thiết bị đo kiểm phục vụ đào tạo, nghiên cứu IoT và bán dẫn. (Ảnh: VNU)

Làm chủ công nghệ, tăng sức cạnh tranh

Hành lang chính sách cho phát triển công nghệ chiến lược đang từng bước được hoàn thiện, cùng với cơ chế đặt hàng, tài trợ, thử nghiệm và hỗ trợ doanh nghiệp. Vấn đề hiện nay là đưa các cơ chế đó vào thực tiễn, tạo ra sản phẩm cụ thể, nâng cao năng lực làm chủ công nghệ, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.

Các diễn giả tham dự hội thảo “Chuyển đổi số trong khu vực công: Kiến tạo hạ tầng bền vững và bảo đảm an ninh dữ liệu hướng đến mục tiêu tăng trưởng quốc gia”. (Ảnh: Ban tổ chức)

Chuyển đổi số khu vực công: Làm chủ dữ liệu, kiến tạo hạ tầng bền vững

Chuyển đổi số khu vực công đang chuyển từ số hóa quy trình sang quản trị dựa trên dữ liệu. Cùng với hạ tầng có khả năng kết nối, chia sẻ và mở rộng, bảo đảm an ninh dữ liệu và năng lực phục hồi sau sự cố đang trở thành những điều kiện nền tảng để nâng cao hiệu quả quản trị và tạo động lực tăng trưởng.

Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân.

Kết nối chuyên gia trí tuệ nhân tạo toàn cầu để giải bài toán Việt Nam

Mạng lưới chuyên gia trí tuệ nhân tạo (AI) Việt Nam toàn cầu được hình thành không chỉ để tập hợp trí thức người Việt trong và ngoài nước, mà còn mở ra cơ chế để các chuyên gia trực tiếp tham gia giải quyết những bài toán cụ thể, phát triển sản phẩm trí tuệ nhân tạo có ý nghĩa chiến lược đối với đất nước.

Tọa đàm “Định hướng nội dung khung chính sách hỗ trợ quản trị tài sản trí tuệ thuộc các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo Việt Nam” do Trường Khoa học và Nhân văn tổ chức.

Hệ sinh thái hỗ trợ quản trị tài sản trí tuệ

Tọa đàm khoa học “Định hướng nội dung khung chính sách hỗ trợ quản trị tài sản trí tuệ thuộc các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo Việt Nam” do Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn vừa tổ chức kỳ vọng cung cấp thêm luận cứ khoa học và thực tiễn cho quá trình hoàn thiện chính sách sở hữu trí tuệ.

Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ. (Ảnh: DUY LINH)

Luật sửa đổi 4 luật lĩnh vực khoa học-công nghệ: Cắt giảm điều kiện kinh doanh, đẩy mạnh phân cấp

Luật tập trung cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, hoàn thiện cơ sở pháp lý cho phát triển hạ tầng viễn thông phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, kinh tế gắn với quốc phòng-an ninh.

Ảnh thiết kế có yếu tố AI.

Tăng tốc chặng đường cuối, hướng tới chấm dứt nuôi nhốt gấu lấy mật trong năm 2026

Từ hơn 4.000 cá thể gấu nuôi nhốt năm 2005, đến nay cả nước còn 206 cá thể, phần lớn trong đó bị nuôi nhốt hơn 20 năm, sức khỏe suy giảm và cần được đưa đến các cơ sở cứu hộ. Việc hoàn thành mục tiêu chấm dứt tình trạng nuôi nhốt gấu lấy mật trong năm 2026 đang bước vào chặng đường cuối, nhưng cũng là giai đoạn nhiều thách thức.

Tổ lưu động thu thập thông tin về đất đai. (Ảnh: CÔNG VINH)

Tạo giá trị cho nền kinh tế số từ dữ liệu địa điểm

Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ của dữ liệu, với hành lang pháp lý ngày càng hoàn thiện và nhiều cơ sở dữ liệu quốc gia được hình thành. Tuy nhiên, việc có nhiều dữ liệu không đồng nghĩa với có nền kinh tế dữ liệu. 

Các giải pháp công nghệ cho ô-tô điện được trưng bày tại Triển lãm Thành tựu đất nước "80 năm hành trình Độc lập-Tự do-Hạnh phúc". (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Bộ Chính trị sửa đổi chức năng, nhiệm vụ Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Bộ Chính trị vừa ban hành Quy định số 215-QĐ/TW, ngày 18/8/2026 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định số 230-QĐ/TW, ngày 10/1/2025 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Toàn cảnh lễ khai mạc Trường hè IACR-VIASM về Mật mã năm 2026.

Thúc đẩy nghiên cứu học thuật mật mã giữa Việt Nam với quốc tế

Trường hè IACR-VIASM năm 2026 là hoạt động thúc đẩy nghiên cứu mật mã mang tầm quốc tế tiếp nối chuỗi hoạt động mật mã quốc tế đã được tổ chức tại Việt Nam, gồm: VietCrypt 2006, IACR ASIACRYPT 2016, Trường hè IACR-SEAMS 2016, Trường hè IACR-VIASM 2022 và ACM ASIACCS 2025 với diễn đàn vệ tinh Young Cryptographers Forum.

Nuôi cá lồng bè ở hồ Hòa Bình (Phú Thọ).

Ứng dụng khoa học cho chuỗi giá trị nông nghiệp xanh

Chuyển đổi sản xuất nông nghiệp đang là yêu cầu bắt buộc trong quá trình phát triển của xã hội hiện đại và hội nhập quốc tế. Xây dựng hệ thống ứng dụng khoa học, công nghệ đồng bộ cho chuỗi giá trị nông nghiệp được xác định là “chìa khóa” thành công cho việc hiện thực hóa mục tiêu nông nghiệp xanh, bền vững.

Khóa đào tạo về công nghệ lò phản ứng của Trung tâm Đào tạo hạt nhân (Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam). (Ảnh: AN LAM)

Xây dựng đội ngũ cho chương trình điện hạt nhân

Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng các yêu cầu của quốc gia cung cấp công nghệ và Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) là một trong những nền tảng quan trọng để Việt Nam triển khai chương trình điện hạt nhân an toàn, hiệu quả.