Bảo đảm tính khả thi của các kịch bản tăng trưởng

Đại biểu Quốc hội Hà Sỹ Đồng cho rằng cần xem xét tính thực tế và khả thi của các mục tiêu cũng như các kịch bản tăng trưởng đặt ra, trong bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế có nhiều yếu tố bất định, khó lường như dịch bệnh, lạm phát.
Đại biểu Quốc hội Hà Sỹ Đồng góp ý vào dự thảo Quy hoạch tổng thể quốc gia trong phiên thảo luận Tổ sáng 6/1.
Đại biểu Quốc hội Hà Sỹ Đồng góp ý vào dự thảo Quy hoạch tổng thể quốc gia trong phiên thảo luận Tổ sáng 6/1.

Sáng 6/1, tiếp tục chương trình Kỳ họp bất thường lần thứ 2, Quốc hội khóa XV, Quốc hội tiến hành thảo luận tại Tổ về về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Làm rõ các nguồn lực và giải pháp thực hiện quy hoạch

Nhiều ý kiến đại biểu cho rằng, đây là nội dung quan trọng cần thiết sớm thông qua, tuy nhiên cần xem xét, bảo đảm tính khả thi của các mục tiêu cũng như kịch bản tăng trưởng trong các giai đoạn đặt ra.

Mục tiêu tổng quát đến năm 2030 phấn đấu là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, tăng trưởng kinh tế dựa trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; bảo đảm các cân đối lớn, nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế…

Trong đó, phấn đấu tăng trưởng GDP cả nước bình quân đạt khoảng 7%/năm giai đoạn 2021-2030; đến năm 2030, GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt khoảng 7.500 USD, tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP….

Đại biểu Hà Sỹ Đồng (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Trị) đánh giá, các mục tiêu phấn đấu đến năm 2030 trong Quy hoạch tổng thể quốc gia khá cao. Do đó, cần xem xét tính thực tế và khả thi của các mục tiêu cũng như các kịch bản tăng trưởng đặt ra trong bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế có nhiều yếu tố bất định, khó lường như chiến tranh, dịch bệnh, lạm phát, biến đổi khí hậu…

“Công nghệ và các mô hình kinh doanh mới sẽ là những yếu tố đầu vào then chốt, tác động đến doanh số của các kịch bản nêu ra”, đại biểu Hà Sỹ Đồng nói.

Đại biểu Phan Đức Hiếu phát biểu trong phiên thảo luận ở Tổ sáng 6/1.

Đại biểu Phan Đức Hiếu phát biểu trong phiên thảo luận ở Tổ sáng 6/1.

Theo đại biểu Phan Đức Hiếu (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Bình), Quy hoạch tổng thể quốc gia là một nội dung khó. Khác với quy hoạch tỉnh với các cơ sở tương đối rõ ràng, Quy hoạch tổng thể quốc gia là một bức tranh hoàn toàn khác. Tuy nhiên, đây là nền tảng cơ sở cho các quy hoạch ngành và địa phương, cho nên dù khó nhưng cũng cần sớm hoàn thiện để thông qua.

Đại biểu Phan Đức Hiếu cũng đề nghị Chính phủ cần làm rõ các nội dung liên quan đến nguồn lực và giải pháp thực hiện Quy hoạch tổng thể quốc gia để tránh lúng túng khi triển khai, đồng thời làm rõ tính chi tiết của các nội dung trong Quy hoạch.

Cần tránh tình trạng quy hoạch “treo”

Góp ý vào dự thảo Quy hoạch tổng thể quốc gia, đại biểu Trần Hoàng Ngân (Đoàn đại biểu Quốc hội TP Hồ Chí Minh) cho rằng còn nhiều lúng túng khi dự thảo chưa phân biệt được thế nào là vùng kinh tế trọng điểm, vùng động lực, thế nào là hành lang tăng trưởng…

Với lĩnh vực công nghiệp, đại biểu bày tỏ quy hoạch hiện được xây dựng chưa hình dung được sẽ ưu tiên ngành công nghiệp nào. Bởi có rất nhiều ngành công nghiệp, bao gồm chế biến chế tạo, công nghiệp nền tảng, năng lượng tái tạo, năng lượng thông minh, dệt may, cơ khí luyện kim, công nghiệp xanh… được đưa ra nhưng lại không rõ trình tự ưu tiên cụ thể.

Đại biểu Ngân cũng lưu ý, quy hoạch đang xây dựng có giai đoạn 2030-2050, nên tình trạng quy hoạch “treo” là vấn đề đặt ra. Do đó, đại biểu cho rằng xây dựng quy hoạch cần có tầm nhìn, với những dự án chưa thực hiện ngay nhưng đưa vào quy hoạch thì cần bảo đảm quyền lợi người dân trong việc thực hiện quy hoạch.

Đại biểu Quốc hội Trần Hoàng Ngân cho rằng cần lưu ý vấn đề quy hoạch "treo".

Đại biểu Quốc hội Trần Hoàng Ngân cho rằng cần lưu ý vấn đề quy hoạch "treo".

“Đang là quy hoạch và ý tưởng, mà khu nhà dân đã được quy hoạch thì sẽ bị vướng quyền lợi, nên cần phải có tầm nhìn và phân đoạn. Người dân lo lắng là sẽ dính quy hoạch gì đây, nên khi thực hiện phải thông báo cho người dân” – đại biểu Ngân nói.

Cũng theo đại biểu, để thực hiện quy hoạch thì cần bảo đảm tính khả thi, có cơ chế và làm rõ nguồn lực thực hiện quy hoạch. Mặc dù chúng ta học tập kinh nghiệm các nước, song khi thực hiện, vẽ ra đồ án thì phải đặt trong bối cảnh nguồn lực của Việt Nam. “Ta không thể vẽ viễn cảnh như New York hay Paris trong khi nguồn lực của ta có hạn” – đại biểu cho biết.

Liên quan vấn đề thể chế để thực hiện quy hoạch, đại biểu Ngân cho rằng do nguồn lực đầu tư công là có hạn, nên thay vì đầu tư dàn trải trước đây cần phải chuyển hướng đầu tư trọng điểm. Gắn với đó, thể chế phải khai thác được nguồn lực trong dân, gắn với đẩy mạnh hợp tác công tư, huy động nguồn lực này trong xã hội…

Phát biểu tại phiên thảo luận Tổ, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn đánh giá cao nỗ lực, cố gắng của Chính phủ trong việc phấn đấu hoàn thành Quy hoạch tổng thể quốc gia theo yêu cầu tiến độ tại Nghị quyết số 61/2022/QH15 của Quốc hội.

Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn phát biểu trong phiên thảo luận ở Tổ 10.
Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn phát biểu trong phiên thảo luận ở Tổ 10.

Theo Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội, Quy hoạch quốc gia phải mang tính chất chiến lược, tổng thể. Do là cấp quốc gia nên rất cần yếu tố ổn định, cần độ tĩnh để đảm bảo tính nhất quán và dài hạn trong tổ chức thực hiện nhưng cũng cần phải xem xét tới yếu tố biến động trong tương lai.

Để hoàn thiện Quy hoạch tổng thể quốc gia, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội lưu ý, cần bổ sung thêm các đánh giá về ưu điểm, lợi thế của các điều kiện tự nhiên, khoa học công nghệ…, đồng thời làm rõ hiện trạng mối quan hệ giữa Quy hoạch tổng thể quốc gia và các quy hoạch, kế hoạch khác có liên quan như quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc gia, quy hoạch ngành quốc gia, quy hoạch vùng và quy hoạch tỉnh đã được cấp có thẩm quyền quyết định phê duyệt, quy hoạch khác chưa được quyết định phê duyệt.

Có thể bạn quan tâm

Tọa đàm "Quản trị rủi ro các dự án hạ tầng trong kỷ nguyên đầu tư công" do Báo Xây dựng tổ chức sáng 16/9 tại Hà Nội. (Ảnh: HẢI MINH)

Quản trị rủi ro các dự án hạ tầng xây dựng

Đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển kết cấu hạ tầng với quy mô lớn, tốc độ nhanh với hàng loạt dự án đường bộ cao tốc, đường sắt, hàng không, cảng biển, hạ tầng đô thị, năng lượng… Tuy nhiên, quy mô đầu tư càng lớn, yêu cầu đối với quản trị rủi ro càng cao.

Ảnh minh họa. (Nguồn: TTXVN)

Chứng khoán ngày 16/9: Cổ phiếu tài chính và bất động sản gây sức ép, VN-Index giảm điểm

Trong phiên giao dịch ngày 16/9, thị trường chứng khoán Việt Nam diễn biến giằng co khi áp lực bán tại nhiều cổ phiếu vốn hóa lớn khiến VN-Index giảm 1,04 điểm, xuống mức 1.810,11 điểm. Trong bối cảnh thị trường phân hóa, dòng tiền nước ngoài tiếp tục là điểm đáng chú ý khi mua ròng hơn 259 tỷ đồng trên cả ba sàn.

Đại diện JICA, VNUA và Toyo ký kết bàn giao hệ thống thiết bị máy móc. (Ảnh: ANH THƯ)

Thúc đẩy sản xuất điện và phân bón hữu cơ từ các loại rác thải rắn

Ngày 16/9, tại Hà Nội, JICA Việt Nam và Học viện Nông nghiệp Việt Nam (VNUA) tổ chức hội nghị chia sẻ kết quả và sản phẩm của dự án “Khảo sát tiềm năng phát triển kinh doanh bền vững đối với doanh nghiệp tư nhân trong sản xuất điện và phân bón hữu cơ bằng công nghệ lên men tạo khí mê-tan từ các loại rác thải rắn ở Việt Nam”.

Nhờ tiếp cận mô hình phát triển kinh tế mới, đời sống của bà con dân tộc thiểu số vùng biên giới Quảng Trị đã được cải thiện.

Hỗ trợ bà con dân tộc thiểu số vùng biên giới Quảng Trị tiếp cận mô hình phát triển kinh tế mới

Từ chỗ quanh năm quần quật làm nương rẫy, “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” mà không đủ ăn đủ mặc, giờ đây đời sống của bà con dân tộc thiểu số vùng biên giới tỉnh Quảng Trị dần được cải thiện nhờ tiếp cận với những mô hình phát triển kinh tế mới theo hướng bền vững.

Dù đang có cơ hội vươn xa hơn trên thị trường thế giới, song hàng xuất khẩu Việt Nam cũng đứng trước sức ép ngày càng lớn về công nghệ, tiêu chuẩn xanh và truy xuất nguồn gốc. (Ảnh: TTXVN)

Tham gia thực chất hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu

Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới nhờ lợi thế từ 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA), năng lực sản xuất không ngừng nâng cao, hệ thống doanh nghiệp năng động và khả năng tiếp cận thị trường quốc tế liên tục được mở rộng.

Một trạm sạc xe điện Vinfast thực hiện theo phương án nhượng quyền. (Ảnh: BÍCH VÂN)

Quy hoạch mạng lưới trạm sạc cho đô thị

Sự gia tăng phương tiện giao thông sử dụng điện đang đặt các thành phố trước một bài toán mới về hạ tầng. Không chỉ cần thêm trạm sạc, vấn đề trước mắt cần giải quyết là các đô thị phải quy hoạch mạng lưới này như thế nào để phù hợp nhu cầu đi lại, khả năng cung cấp điện và không gian đô thị.

Công chức Thuế cơ sở 10 tỉnh Phú Thọ hỗ trợ người nộp thuế cài đặt, sử dụng ứng dụng eTax Mobile. (Ảnh: VĂN HỌC)

Gỡ điểm nghẽn thủ tục khi làm sạch mã số thuế

Theo ước tính, cả nước hiện còn khoảng 500.000 doanh nghiệp cần được rà soát, làm sạch mã số thuế để chuẩn hóa dữ liệu người nộp thuế, tạo thuận lợi cho người nộp thuế tuân thủ và sàng lọc rủi ro, ngăn chặn doanh nghiệp “ma”, phản ánh thực chất bức tranh phát triển của nền kinh tế.

[Video] EVN hết lỗ lũy kế, ghi nhận lãi hơn 12.200 tỷ đồng trong 8 tháng

[Video] EVN hết lỗ lũy kế, ghi nhận lãi hơn 12.200 tỷ đồng trong 8 tháng

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho biết đã chính thức xóa hết khoản lỗ lũy kế tồn đọng từ giai đoạn 2022 - 2023 nhờ đẩy mạnh tiết giảm chi phí và cơ cấu lại toàn diện hoạt động vận hành. Trước đó, do chi phí đầu vào chưa được phản ánh đầy đủ vào giá bán lẻ, doanh nghiệp từng chịu mức lỗ hơn 50.000 tỷ đồng.

Logistics là một lĩnh vực đặc biệt mà hoạt động kinh doanh có thể đồng thời chạm tới thương mại, vận tải, giao thông, đầu tư, đất đai, hải quan, thuế, bảo hiểm, thương mại điện tử và nhiều lĩnh vực quản lý khác. (Ảnh: H.M)

Bài 1: Hoàn thiện Luật logistics cần những “điểm nối”

Thể chế đang được đặt ở vị trí đầu tiên trong 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp của Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050. Làm sao để những quy định đang có thực sự đồng bộ, thống nhất và “ăn khớp” với nhau trong toàn bộ chuỗi logistics là vấn đề được đặt ra.

Tập trung theo dõi, vận hành hệ thống điện, bảo đảm cung ứng điện những tháng cuối năm. (Ảnh: EVN cung cấp)

Sản lượng điện 8 tháng tăng 9,3%, EVN chủ động cho các tháng cuối năm

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) vừa thông tin, trong 8 tháng đầu năm 2026, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống đạt 235,82 tỷ kWh, tăng 9,3% so cùng kỳ năm 2025. EVN tiếp tục triển khai các giải pháp bảo đảm cung ứng điện, đẩy nhanh đầu tư nguồn, lưới điện và chủ động phương án vận hành trong những tháng cuối năm.