Phát triển kinh tế tư nhân ở Trung Bộ và Tây Nguyên: Thực trạng và hàm ý chính sách

Kinh tế tư nhân tại Trung Bộ và Tây Nguyên đã có bước phát triển tích cực, tuy nhiên, khu vực này vẫn đối mặt với những hạn chế về quy mô doanh nghiệp, năng lực tài chính, công nghệ, quản trị, chất lượng nguồn nhân lực và khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị.

Thu hoạch cà-phê Arabica tại Lâm Đồng.
Thu hoạch cà-phê Arabica tại Lâm Đồng.

Kinh tế tư nhân ngày càng được xác định là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng, huy động nguồn lực xã hội, tạo việc làm và nâng cao năng lực cạnh tranh. Cùng với sự thay đổi trong nhận thức, các chủ trương, chính sách gần đây của Đảng và Nhà nước tập trung hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh và tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân phát triển bền vững

Đối với Trung Bộ và Tây Nguyên, phát triển kinh tế tư nhân có ý nghĩa quan trọng trong việc chuyển hóa tiềm năng thành động lực tăng trưởng. Trung Bộ lợi thế về kinh tế biển, du lịch, dịch vụ, logistics, công nghiệp chế biến, Tây Nguyên nổi bật nông nghiệp hàng hóa, tài nguyên rừng, năng lượng tái tạo, du lịch sinh thái và vị trí kết nối vùng.

Thực tế cho thấy khu vực tư nhân tại hai vùng đã có bước phát triển trong sản xuất, chế biến nông sản, du lịch, thương mại, dịch vụ và năng lượng. Tuy nhiên, quy mô doanh nghiệp còn nhỏ, năng lực tài chính, công nghệ, quản trị và khả năng tham gia chuỗi giá trị còn hạn chế. Vì vậy, cần đánh giá thực trạng và chính sách hỗ trợ để xác định những hàm ý phù hợp, phát huy lợi thế từng vùng và thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững.

Thực trạng phát triển và chính sách hỗ trợ kinh tế tư nhân

Khu vực kinh tế tư nhân tại Trung Bộ và Tây Nguyên những năm gần đây có bước phát triển tích cực, gắn với quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và triển khai các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Các chính sách về cải cách thủ tục hành chính, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, thúc đẩy khởi nghiệp, chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh đã góp phần tạo môi trường thuận lợi hơn cho khu vực tư nhân (Chính phủ, 2025).

Trên phạm vi cả nước, năm 2024 có hơn 157,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và gần 76,2 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, đưa tổng số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường lên hơn 233,4 nghìn doanh nghiệp, tăng 7,1% so với năm 2023. Kết quả này cho thấy môi trường kinh doanh có sự phục hồi và khu vực doanh nghiệp tiếp tục là một động lực quan trọng của nền kinh tế (Tổng cục Thống kê, 2026).

Đối với Trung Bộ, khu vực tư nhân có điều kiện phát triển dựa trên các lợi thế về kinh tế biển, cảng biển, du lịch, dịch vụ, công nghiệp chế biến và năng lượng. Trong khi đó, Tây Nguyên có thế mạnh đặc thù về nông nghiệp hàng hóa, tài nguyên rừng, năng lượng tái tạo, du lịch sinh thái và các sản phẩm gắn với điều kiện tự nhiên.

Khu vực tư nhân đã góp phần mở rộng sản xuất, đầu tư chế biến, xây dựng thương hiệu và kết nối thị trường tiêu thụ. Đặc biệt, Tây Nguyên là vùng sản xuất quan trọng đối với các mặt hàng cà-phê, cao-su, hồ tiêu, điều, rau quả và cây dược liệu; sự tham gia của doanh nghiệp tư nhân đang từng bước chuyển từ thu mua, kinh doanh nguyên liệu sang đầu tư vùng nguyên liệu, chế biến và phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Nông nghiệp và chế biến nông sản là lĩnh vực nổi bật nhất của kinh tế tư nhân Tây Nguyên. Theo số liệu thống kê năm 2024, diện tích cà phê của cả nước đạt khoảng 730,5 nghìn ha, sản lượng đạt 2,016 triệu tấn, tăng 3,0% so với năm trước; diện tích cao su đạt 908,9 nghìn ha, sản lượng khoảng 1,297 triệu tấn; hồ tiêu đạt 259,2 nghìn tấn, tăng 0,7% (Tổng cục Thống kê, 2026).

Đây là những ngành hàng mà doanh nghiệp tư nhân tham gia tương đối rộng, từ thu mua, chế biến, xuất khẩu đến xây dựng thương hiệu. Tuy nhiên, vai trò của doanh nghiệp vẫn tập trung nhiều ở các công đoạn đầu của chuỗi giá trị; những khâu tạo giá trị gia tăng cao như nghiên cứu sản phẩm, chế biến sâu, logistics, thương hiệu và phân phối quốc tế còn hạn chế.

Du lịch và kinh tế dịch vụ cũng đang trở thành hướng phát triển quan trọng. Tây Nguyên có cảnh quan tự nhiên, hệ sinh thái và văn hóa bản địa đặc sắc, tạo điều kiện phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch trải nghiệm và du lịch nông nghiệp. Doanh nghiệp tư nhân đã tham gia đầu tư cơ sở lưu trú, dịch vụ và sản phẩm trải nghiệm; đồng thời có khả năng tạo liên kết giữa du lịch với nông nghiệp, chế biến, thương mại và văn hóa.

Về vai trò của chính sách, hỗ trợ kinh tế tư nhân ngày càng chuyển từ việc tạo điều kiện gia nhập thị trường sang nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh. Các nhóm chính sách trọng tâm gồm cải cách thủ tục hành chính, minh bạch hóa quy định, giảm chi phí tuân thủ; hỗ trợ tiếp cận vốn, đất đai, logistics, công nghệ và nhân lực; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và liên kết sản xuất.

Nghị quyết số 68-NQ/TW năm 2025 tiếp tục khẳng định yêu cầu tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, tăng khả năng tiếp cận nguồn lực và nâng cao năng lực công nghệ của khu vực tư nhân; Nghị quyết số 138/NQ-CP cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp để triển khai định hướng này.

Từ thực tiễn trên, chính sách hỗ trợ tại Trung Bộ và Tây Nguyên cần chuyển mạnh từ “hỗ trợ theo chiều rộng” sang “hỗ trợ theo chiều sâu”, tập trung vào đổi mới công nghệ, quản trị, chuyển đổi số, tiếp cận vốn và hình thành các chuỗi giá trị bền vững.

Đối với Tây Nguyên, chính sách cần gắn phát triển doanh nghiệp tư nhân với nâng cao giá trị nông sản, bảo vệ tài nguyên, bảo đảm sinh kế và thích ứng với biến đổi khí hậu, qua đó chuyển dần từ mô hình dựa vào khai thác lợi thế tự nhiên sang mô hình dựa nhiều hơn vào tri thức, công nghệ và giá trị gia tăng

Hạn chế và thách thức

Mặc dù khu vực kinh tế tư nhân tại Trung Bộ và Tây Nguyên đã có bước phát triển, hiệu quả khai thác tiềm năng và đóng góp vào tăng trưởng vẫn chưa tương xứng. Hạn chế trước hết nằm ở quy mô và năng lực nội tại của doanh nghiệp. Phần lớn doanh nghiệp có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, năng lực tài chính, quản trị và đầu tư cho nghiên cứu-phát triển còn hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ và nâng cao sức cạnh tranh.

Tại Tây Nguyên, hạn chế này thể hiện rõ trong các ngành hàng nông sản chủ lực. Doanh nghiệp tư nhân đã tham gia tương đối rộng vào cà-phê, hồ tiêu, cao-su, rau quả và cây dược liệu, nhưng vẫn tập trung chủ yếu ở các khâu thu mua, sơ chế và thương mại. Những công đoạn tạo giá trị gia tăng cao như chế biến sâu, nghiên cứu sản phẩm, xây dựng thương hiệu, logistics và phân phối quốc tế còn hạn chế. Điều này khiến nhiều sản phẩm vẫn phụ thuộc vào thị trường nguyên liệu và dễ chịu tác động của biến động giá.

Khả năng tiếp cận các nguồn lực phát triển cũng là một điểm nghẽn. Hạ tầng giao thông và logistics chưa đồng bộ, chi phí sản xuất, tiếp cận vốn, đất đai và công nghệ còn khó khăn; chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản trị của nhiều doanh nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mới.

Những hạn chế này làm giảm khả năng đầu tư dài hạn và mở rộng quy mô của khu vực tư nhân. Bên cạnh đó, liên kết giữa doanh nghiệp với nông hộ, hợp tác xã, cơ sở nghiên cứu và các tổ chức tài chính còn yếu. Chuỗi liên kết thiếu ổn định dẫn đến khó kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường. Quá trình chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh và thích ứng với biến đổi khí hậu cũng đặt ra yêu cầu mới đối với doanh nghiệp.

Bài học kinh nghiệm

Thực tiễn phát triển kinh tế tư nhân tại Trung Bộ và Tây Nguyên cho thấy, trước hết, chính sách hỗ trợ cần gắn với đặc điểm và lợi thế riêng của từng vùng, thay vì áp dụng một cách đồng nhất. Trung Bộ cần phát huy lợi thế về kinh tế biển, du lịch, dịch vụ, công nghiệp chế biến và năng lượng; trong khi Tây Nguyên cần ưu tiên nâng cao giá trị nông sản, phát triển công nghiệp chế biến, du lịch sinh thái và các ngành kinh tế dựa trên lợi thế tự nhiên theo hướng bền vững.

Thứ hai, cần chuyển trọng tâm từ hỗ trợ doanh nghiệp theo chiều rộng sang nâng cao năng lực nội tại và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Hỗ trợ vốn cần đi cùng hỗ trợ công nghệ, quản trị, chuyển đổi số, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường. Đối với Tây Nguyên, việc thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp, nông hộ, hợp tác xã và các cơ sở nghiên cứu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong ổn định vùng nguyên liệu, nâng cao chất lượng và tăng giá trị gia tăng.

Thứ ba, phát triển kinh tế tư nhân phải gắn với yêu cầu phát triển bền vững. Chính sách cần đồng thời quan tâm đến bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo đảm sinh kế và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây là cơ sở để Trung Bộ và Tây Nguyên chuyển từ mô hình khai thác chủ yếu lợi thế tự nhiên sang mô hình phát triển dựa nhiều hơn vào công nghệ, tri thức, liên kết và giá trị gia tăng.

Định hướng, hàm ý chính sách

Trong thời gian tới, chính sách hỗ trợ kinh tế tư nhân tại Trung Bộ và Tây Nguyên cần chuyển mạnh sang nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh. Trọng tâm trước hết là tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ và bảo đảm khả năng tiếp cận bình đẳng đối với các nguồn lực như vốn, đất đai, công nghệ và thông tin thị trường.

Đối với Trung Bộ, cần ưu tiên phát triển doanh nghiệp tư nhân trong các lĩnh vực có lợi thế như kinh tế biển, du lịch, dịch vụ, logistics, công nghiệp chế biến và năng lượng. Chính sách nên khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ, nâng cao chất lượng dịch vụ và hình thành các liên kết giữa doanh nghiệp trong vùng với các trung tâm kinh tế lớn, qua đó mở rộng thị trường và nâng cao khả năng tham gia chuỗi giá trị.

Đối với Tây Nguyên, trọng tâm cần là nâng cao giá trị các ngành hàng nông sản chủ lực thông qua phát triển vùng nguyên liệu, chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường. Đồng thời, cần tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp với nông hộ, hợp tác xã và cơ sở nghiên cứu để hình thành chuỗi sản xuất ổn định, đáp ứng yêu cầu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn thị trường. Chính sách hỗ trợ cũng cần thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng và du lịch nông nghiệp gắn với bảo tồn văn hóa, tài nguyên rừng và môi trường.

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho doanh nghiệp. Hỗ trợ không nên chỉ tập trung vào vốn mà cần kết hợp đào tạo quản trị, tư vấn công nghệ, xây dựng thương hiệu và kết nối thị trường. Đặc biệt, cần ưu tiên các doanh nghiệp có khả năng tạo liên kết vùng, tham gia sâu vào chuỗi giá trị và đóng góp vào chuyển đổi xanh.

Cuối cùng, chính sách cần có tính liên vùng và dài hạn, tăng cường phối hợp giữa Trung ương, địa phương, doanh nghiệp và các tổ chức hỗ trợ. Qua đó, tạo hệ sinh thái thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển từ khai thác lợi thế tự nhiên sang dựa nhiều hơn vào công nghệ, tri thức, liên kết và giá trị gia tăng.

Trong bối cảnh mới, chính sách hỗ trợ cần chuyển từ mở rộng về số lượng sang nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh, đồng thời phù hợp với đặc thù từng vùng. Tăng cường liên kết, chuyển đổi số, đổi mới công nghệ và phát triển xanh sẽ là những hướng quan trọng để kinh tế tư nhân trở thành động lực tăng trưởng bền vững của Trung Bộ và Tây Nguyên.

Có thể bạn quan tâm

Tọa đàm "Quản trị rủi ro các dự án hạ tầng trong kỷ nguyên đầu tư công" do Báo Xây dựng tổ chức sáng 16/9 tại Hà Nội. (Ảnh: HẢI MINH)

Quản trị rủi ro các dự án hạ tầng xây dựng

Đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển kết cấu hạ tầng với quy mô lớn, tốc độ nhanh với hàng loạt dự án đường bộ cao tốc, đường sắt, hàng không, cảng biển, hạ tầng đô thị, năng lượng… Tuy nhiên, quy mô đầu tư càng lớn, yêu cầu đối với quản trị rủi ro càng cao.

Ảnh minh họa. (Nguồn: TTXVN)

Chứng khoán ngày 16/9: Cổ phiếu tài chính và bất động sản gây sức ép, VN-Index giảm điểm

Trong phiên giao dịch ngày 16/9, thị trường chứng khoán Việt Nam diễn biến giằng co khi áp lực bán tại nhiều cổ phiếu vốn hóa lớn khiến VN-Index giảm 1,04 điểm, xuống mức 1.810,11 điểm. Trong bối cảnh thị trường phân hóa, dòng tiền nước ngoài tiếp tục là điểm đáng chú ý khi mua ròng hơn 259 tỷ đồng trên cả ba sàn.

Đại diện JICA, VNUA và Toyo ký kết bàn giao hệ thống thiết bị máy móc. (Ảnh: ANH THƯ)

Thúc đẩy sản xuất điện và phân bón hữu cơ từ các loại rác thải rắn

Ngày 16/9, tại Hà Nội, JICA Việt Nam và Học viện Nông nghiệp Việt Nam (VNUA) tổ chức hội nghị chia sẻ kết quả và sản phẩm của dự án “Khảo sát tiềm năng phát triển kinh doanh bền vững đối với doanh nghiệp tư nhân trong sản xuất điện và phân bón hữu cơ bằng công nghệ lên men tạo khí mê-tan từ các loại rác thải rắn ở Việt Nam”.

Nhờ tiếp cận mô hình phát triển kinh tế mới, đời sống của bà con dân tộc thiểu số vùng biên giới Quảng Trị đã được cải thiện.

Hỗ trợ bà con dân tộc thiểu số vùng biên giới Quảng Trị tiếp cận mô hình phát triển kinh tế mới

Từ chỗ quanh năm quần quật làm nương rẫy, “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” mà không đủ ăn đủ mặc, giờ đây đời sống của bà con dân tộc thiểu số vùng biên giới tỉnh Quảng Trị dần được cải thiện nhờ tiếp cận với những mô hình phát triển kinh tế mới theo hướng bền vững.

Dù đang có cơ hội vươn xa hơn trên thị trường thế giới, song hàng xuất khẩu Việt Nam cũng đứng trước sức ép ngày càng lớn về công nghệ, tiêu chuẩn xanh và truy xuất nguồn gốc. (Ảnh: TTXVN)

Tham gia thực chất hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu

Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới nhờ lợi thế từ 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA), năng lực sản xuất không ngừng nâng cao, hệ thống doanh nghiệp năng động và khả năng tiếp cận thị trường quốc tế liên tục được mở rộng.

Một trạm sạc xe điện Vinfast thực hiện theo phương án nhượng quyền. (Ảnh: BÍCH VÂN)

Quy hoạch mạng lưới trạm sạc cho đô thị

Sự gia tăng phương tiện giao thông sử dụng điện đang đặt các thành phố trước một bài toán mới về hạ tầng. Không chỉ cần thêm trạm sạc, vấn đề trước mắt cần giải quyết là các đô thị phải quy hoạch mạng lưới này như thế nào để phù hợp nhu cầu đi lại, khả năng cung cấp điện và không gian đô thị.

Công chức Thuế cơ sở 10 tỉnh Phú Thọ hỗ trợ người nộp thuế cài đặt, sử dụng ứng dụng eTax Mobile. (Ảnh: VĂN HỌC)

Gỡ điểm nghẽn thủ tục khi làm sạch mã số thuế

Theo ước tính, cả nước hiện còn khoảng 500.000 doanh nghiệp cần được rà soát, làm sạch mã số thuế để chuẩn hóa dữ liệu người nộp thuế, tạo thuận lợi cho người nộp thuế tuân thủ và sàng lọc rủi ro, ngăn chặn doanh nghiệp “ma”, phản ánh thực chất bức tranh phát triển của nền kinh tế.

[Video] EVN hết lỗ lũy kế, ghi nhận lãi hơn 12.200 tỷ đồng trong 8 tháng

[Video] EVN hết lỗ lũy kế, ghi nhận lãi hơn 12.200 tỷ đồng trong 8 tháng

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho biết đã chính thức xóa hết khoản lỗ lũy kế tồn đọng từ giai đoạn 2022 - 2023 nhờ đẩy mạnh tiết giảm chi phí và cơ cấu lại toàn diện hoạt động vận hành. Trước đó, do chi phí đầu vào chưa được phản ánh đầy đủ vào giá bán lẻ, doanh nghiệp từng chịu mức lỗ hơn 50.000 tỷ đồng.

Logistics là một lĩnh vực đặc biệt mà hoạt động kinh doanh có thể đồng thời chạm tới thương mại, vận tải, giao thông, đầu tư, đất đai, hải quan, thuế, bảo hiểm, thương mại điện tử và nhiều lĩnh vực quản lý khác. (Ảnh: H.M)

Bài 1: Hoàn thiện Luật logistics cần những “điểm nối”

Thể chế đang được đặt ở vị trí đầu tiên trong 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp của Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050. Làm sao để những quy định đang có thực sự đồng bộ, thống nhất và “ăn khớp” với nhau trong toàn bộ chuỗi logistics là vấn đề được đặt ra.

Tập trung theo dõi, vận hành hệ thống điện, bảo đảm cung ứng điện những tháng cuối năm. (Ảnh: EVN cung cấp)

Sản lượng điện 8 tháng tăng 9,3%, EVN chủ động cho các tháng cuối năm

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) vừa thông tin, trong 8 tháng đầu năm 2026, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống đạt 235,82 tỷ kWh, tăng 9,3% so cùng kỳ năm 2025. EVN tiếp tục triển khai các giải pháp bảo đảm cung ứng điện, đẩy nhanh đầu tư nguồn, lưới điện và chủ động phương án vận hành trong những tháng cuối năm.