Phát triển con người là ưu tiên quyết định cho tăng trưởng hai con số.
Phát triển con người là ưu tiên quyết định cho tăng trưởng hai con số.

Phát triển con người là ưu tiên quyết định cho tăng trưởng hai con số

Để duy trì tăng trưởng hai con số, Việt Nam phải chuyển từ mô hình dựa chủ yếu vào vốn và lao động sang dựa trên năng suất, tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong đó, phát triển con người là ưu tiên có ý nghĩa quyết định.

Đó là nhận định của ông Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi khi trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân về những nền tảng cần thiết để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số trong nhiều năm liên tiếp.

Phóng viên: Theo ông, để duy trì tốc độ tăng trưởng GDP hai con số trong nhiều năm liên tiếp, nền kinh tế cần hình thành những động lực tăng trưởng mới nào thay cho mô hình dựa chủ yếu vào vốn và lao động như trước đây?

Ông Nguyễn Quang Huy: Tăng trưởng GDP hai con số trong nhiều năm liên tiếp không chỉ là mục tiêu về tốc độ mà còn là yêu cầu về chất lượng phát triển. Khi các dư địa tăng trưởng dựa vào vốn đầu tư, khai thác tài nguyên và lao động chi phí thấp dần thu hẹp, Việt Nam cần chuyển mạnh sang mô hình dựa trên năng suất, tri thức, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng thể chế.

Theo tôi, yếu tố quan trọng nhất quyết định thành công chính là con người. Một quốc gia muốn phát triển nhanh và bền vững phải xây dựng được đội ngũ hoạch định chính sách có tư duy dài hạn, đội ngũ lãnh đạo dám đổi mới, đội ngũ chuyên gia giỏi chuyên môn và bộ máy thực thi hiệu quả.

Cùng với đó, làm chủ công nghệ lõi sẽ là nền tảng tạo nên năng lực cạnh tranh quốc gia. AI, bán dẫn, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, công nghệ sinh học, vật liệu mới hay năng lượng sạch đang trở thành những “hạ tầng phát triển” của nền kinh tế hiện đại. Điều quan trọng không chỉ là tiếp cận công nghệ, mà phải từng bước làm chủ, cải tiến và sáng tạo để hình thành những sản phẩm, giải pháp có lợi thế cạnh tranh của Việt Nam.

copy-of-ban-sao-cua-canguntitled.jpg
Hoạt động xuất nhập khẩu và sự tham gia sâu hơn của doanh nghiệp vào chuỗi giá trị toàn cầu là những động lực quan trọng cho tăng trưởng trong giai đoạn mới. (Ảnh: CHQ)

Thể chế cũng cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng hiện đại, minh bạch, ổn định và có khả năng thích ứng. Đây là “hạ tầng mềm” tạo niềm tin cho nhà đầu tư, doanh nghiệp và người dân, đồng thời bảo đảm các nguồn lực được phân bổ hiệu quả.

Tăng trưởng kinh tế chỉ thực sự có ý nghĩa khi nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân, bảo đảm an sinh xã hội và mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục, y tế, việc làm chất lượng. Theo tôi, con người phải là trung tâm, khoa học công nghệ là động lực, thể chế hiện đại là nền tảng và hạnh phúc của người dân là thước đo cuối cùng của sự phát triển.

Tạo niềm tin và dẫn vốn vào những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao

Phóng viên: Khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân, được kỳ vọng sẽ đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn phát triển mới. Theo ông, cần những chính sách gì để doanh nghiệp đủ năng lực đầu tư dài hạn, đổi mới công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu?

Ông Nguyễn Quang Huy: Doanh nghiệp tư nhân là lực lượng quan trọng trong đổi mới sáng tạo, tạo việc làm, nâng cao năng suất và mở rộng năng lực cạnh tranh quốc gia. Việt Nam có cơ hội hình thành một thế hệ doanh nghiệp mới đủ sức tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu nếu xây dựng được hệ sinh thái phát triển phù hợp.

Điều doanh nghiệp cần trước tiên là niềm tin, được hình thành từ môi trường thể chế minh bạch, ổn định, nhất quán và có khả năng dự báo. Khi yên tâm về môi trường đầu tư, doanh nghiệp sẽ mạnh dạn dành nguồn lực cho những dự án dài hạn, nghiên cứu và phát triển, đổi mới công nghệ và xây dựng thương hiệu.

Cần phát triển đồng bộ các kênh huy động vốn trung và dài hạn, giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực tài chính với chi phí hợp lý để đầu tư vào công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nâng cao năng lực quản trị.

Bản thân doanh nghiệp cũng phải chuyển đổi tư duy phát triển. Nếu trước đây chủ yếu cạnh tranh bằng chi phí và lợi thế nhân công thì trong giai đoạn mới, năng lực cạnh tranh sẽ được quyết định bởi tri thức, công nghệ, quản trị và khả năng đổi mới sáng tạo.

Trong nền kinh tế số, giá trị ngày càng được hình thành từ sự kết nối giữa doanh nghiệp với trường đại học, viện nghiên cứu, trung tâm đổi mới sáng tạo, tổ chức tài chính và các đối tác trong nước, quốc tế. Đó là nền tảng để doanh nghiệp Việt Nam từng bước khẳng định vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu bằng năng lực cạnh tranh thực chất.

Phóng viên: Thị trường tài chính được ví như “mạch máu” của nền kinh tế. Theo ông, cần phát triển thị trường vốn, tín dụng và các kênh huy động vốn như thế nào để đáp ứng nhu cầu đầu tư rất lớn trong giai đoạn tới?

Ông Nguyễn Quang Huy: Một nền kinh tế đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số sẽ cần nguồn lực đầu tư rất lớn. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ là quy mô vốn mà còn là chất lượng phân bổ vốn. Việt Nam cần xây dựng hệ thống tài chính hiện đại, đa tầng, có khả năng dẫn dắt dòng vốn đến những lĩnh vực tạo ra năng suất và giá trị gia tăng cao.

Trước hết, hệ thống ngân hàng tiếp tục giữ vai trò trung tâm trong cung ứng vốn nhưng cần chuyển mạnh từ cấp tín dụng dựa chủ yếu vào tài sản bảo đảm sang xem xét hiệu quả dự án, năng lực quản trị và triển vọng phát triển. Dòng vốn cần được hướng nhiều hơn tới doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và doanh nghiệp nhỏ và vừa có mô hình kinh doanh hiệu quả.

Thị trường vốn cần được phát triển sâu rộng để trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng. Một thị trường chứng khoán minh bạch, thị trường trái phiếu doanh nghiệp vận hành an toàn, cùng với các quỹ đầu tư, quỹ hưu trí và quỹ đầu tư mạo hiểm sẽ giúp giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng.

Cùng với đó, cần thúc đẩy tài chính số và tài chính xanh. AI, dữ liệu lớn, chuỗi khối và các công nghệ số có thể nâng cao khả năng tiếp cận vốn, giảm chi phí giao dịch và tăng tính minh bạch. Các công cụ tài chính xanh sẽ tạo thêm nguồn lực phát triển năng lượng sạch, hạ tầng xanh và kinh tế tuần hoàn.

56a0a97b-209c-47b8-8285-ac6941ffd5cc.png

Yếu tố cốt lõi không chỉ là huy động được nhiều vốn hơn mà phải xây dựng một hệ sinh thái tài chính có khả năng nuôi dưỡng những ý tưởng lớn, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và các ngành công nghiệp chiến lược. Phát triển thị trường tài chính đồng thời phải gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, an toàn hệ thống và niềm tin của nhà đầu tư.

Công nghệ có thể được mua, năng lực làm chủ phải được đào tạo

Phóng viên: Hiện nay, khoa học công nghệ và chuyển đổi số đang trở thành động lực tăng trưởng mới. Theo ông, doanh nghiệp Việt Nam cần chuẩn bị gì để tận dụng làn sóng AI, bán dẫn, kinh tế số và đổi mới sáng tạo nhằm nâng cao năng suất?

Ông Nguyễn Quang Huy: AI, bán dẫn, dữ liệu và công nghệ số không chỉ là những ngành kinh tế mới mà đang trở thành nền tảng của mọi lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và quản trị xã hội. Đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội để Việt Nam rút ngắn khoảng cách phát triển.

Điều doanh nghiệp cần thay đổi đầu tiên không phải là đầu tư ngay vào công nghệ mà là đổi mới tư duy. Chuyển đổi số không đơn thuần là số hóa quy trình, mà là thay đổi mô hình quản trị, mô hình kinh doanh và phương thức tạo ra giá trị.

sua-loi.png

Tiếp theo là đầu tư cho nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong kỷ nguyên AI, công nghệ có thể được mua, nhưng con người biết làm chủ công nghệ mới tạo nên lợi thế cạnh tranh bền vững. Doanh nghiệp cần coi đào tạo lại và nâng cao kỹ năng số cho người lao động là khoản đầu tư chiến lược chứ không phải chi phí.

Việt Nam cũng cần từng bước làm chủ công nghệ lõi, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị AI, bán dẫn, dữ liệu, an ninh mạng, robot và tự động hóa. Chúng ta không thể mãi đứng ở vị trí gia công hay tiêu dùng công nghệ mà phải phát triển năng lực nghiên cứu, thiết kế, sáng tạo và thương mại hóa sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Làm chủ công nghệ không đồng nghĩa với khép kín. Công nghệ tiên tiến cần được tiếp thu có chọn lọc, nội địa hóa và cải tiến phù hợp với điều kiện Việt Nam. Doanh nghiệp đồng thời phải tăng cường kết nối với trường đại học, viện nghiên cứu, trung tâm đổi mới sáng tạo, quỹ đầu tư và các đối tác quốc tế.

Điều quan trọng hơn cả là AI không thay thế con người, mà sẽ thay thế những mô hình quản trị cũ. Doanh nghiệp biết kết hợp trí tuệ con người với trí tuệ nhân tạo và khát vọng phát triển với năng lực thực thi sẽ có cơ hội dẫn dắt trong giai đoạn tới.

Phóng viên: Nếu phải lựa chọn một ưu tiên lớn nhất trong 5 năm tới để tạo nền tảng cho tăng trưởng hai con số, ông sẽ chọn điều gì?

Ông Nguyễn Quang Huy: Nếu chỉ được lựa chọn một ưu tiên có ý nghĩa quyết định, tôi sẽ lựa chọn phát triển con người.

Tài nguyên thiên nhiên có thể cạn kiệt, vốn đầu tư có thể dịch chuyển và công nghệ có thể được chuyển giao, nhưng nguồn nhân lực chất lượng cao, có khát vọng, năng lực đổi mới sáng tạo và tinh thần cống hiến mới là lợi thế cạnh tranh bền vững nhất của một quốc gia.

Đầu tư cho con người không chỉ là đầu tư cho giáo dục, mà còn là đầu tư cho tư duy, năng lực sáng tạo, kỹ năng số, đạo đức nghề nghiệp và văn hóa học tập suốt đời. Một nền giáo dục hiện đại phải đào tạo được những con người biết tư duy độc lập, hợp tác, sáng tạo và đủ năng lực giải quyết những vấn đề lớn của quốc gia.

Việt Nam cần xây dựng hệ sinh thái phát triển nhân lực chất lượng cao với sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu. Đào tạo phải gắn với nhu cầu của thị trường lao động, chiến lược phát triển các ngành công nghiệp tương lai và yêu cầu hội nhập quốc tế.

Giới hạn lớn nhất thường không nằm ở nguồn lực mà nằm ở tư duy. Khi mỗi cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức dám thay đổi, học hỏi, đổi mới và theo đuổi những mục tiêu lớn hơn lợi ích ngắn hạn, chúng ta sẽ tạo ra những bước phát triển mang tính đột phá.

Khi con người được đặt ở vị trí trung tâm, khoa học công nghệ trở thành động lực, đổi mới sáng tạo trở thành văn hóa và thể chế trở thành lợi thế cạnh tranh, mục tiêu tăng trưởng hai con số sẽ trở thành dấu mốc của một giai đoạn phát triển mới.

Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn ông!

Có thể bạn quan tâm

Tọa đàm "Quản trị rủi ro các dự án hạ tầng trong kỷ nguyên đầu tư công" do Báo Xây dựng tổ chức sáng 16/9 tại Hà Nội. (Ảnh: HẢI MINH)

Quản trị rủi ro các dự án hạ tầng xây dựng

Đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển kết cấu hạ tầng với quy mô lớn, tốc độ nhanh với hàng loạt dự án đường bộ cao tốc, đường sắt, hàng không, cảng biển, hạ tầng đô thị, năng lượng… Tuy nhiên, quy mô đầu tư càng lớn, yêu cầu đối với quản trị rủi ro càng cao.

Ảnh minh họa. (Nguồn: TTXVN)

Chứng khoán ngày 16/9: Cổ phiếu tài chính và bất động sản gây sức ép, VN-Index giảm điểm

Trong phiên giao dịch ngày 16/9, thị trường chứng khoán Việt Nam diễn biến giằng co khi áp lực bán tại nhiều cổ phiếu vốn hóa lớn khiến VN-Index giảm 1,04 điểm, xuống mức 1.810,11 điểm. Trong bối cảnh thị trường phân hóa, dòng tiền nước ngoài tiếp tục là điểm đáng chú ý khi mua ròng hơn 259 tỷ đồng trên cả ba sàn.

Đại diện JICA, VNUA và Toyo ký kết bàn giao hệ thống thiết bị máy móc. (Ảnh: ANH THƯ)

Thúc đẩy sản xuất điện và phân bón hữu cơ từ các loại rác thải rắn

Ngày 16/9, tại Hà Nội, JICA Việt Nam và Học viện Nông nghiệp Việt Nam (VNUA) tổ chức hội nghị chia sẻ kết quả và sản phẩm của dự án “Khảo sát tiềm năng phát triển kinh doanh bền vững đối với doanh nghiệp tư nhân trong sản xuất điện và phân bón hữu cơ bằng công nghệ lên men tạo khí mê-tan từ các loại rác thải rắn ở Việt Nam”.

Nhờ tiếp cận mô hình phát triển kinh tế mới, đời sống của bà con dân tộc thiểu số vùng biên giới Quảng Trị đã được cải thiện.

Hỗ trợ bà con dân tộc thiểu số vùng biên giới Quảng Trị tiếp cận mô hình phát triển kinh tế mới

Từ chỗ quanh năm quần quật làm nương rẫy, “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” mà không đủ ăn đủ mặc, giờ đây đời sống của bà con dân tộc thiểu số vùng biên giới tỉnh Quảng Trị dần được cải thiện nhờ tiếp cận với những mô hình phát triển kinh tế mới theo hướng bền vững.

Dù đang có cơ hội vươn xa hơn trên thị trường thế giới, song hàng xuất khẩu Việt Nam cũng đứng trước sức ép ngày càng lớn về công nghệ, tiêu chuẩn xanh và truy xuất nguồn gốc. (Ảnh: TTXVN)

Tham gia thực chất hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu

Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới nhờ lợi thế từ 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA), năng lực sản xuất không ngừng nâng cao, hệ thống doanh nghiệp năng động và khả năng tiếp cận thị trường quốc tế liên tục được mở rộng.

Một trạm sạc xe điện Vinfast thực hiện theo phương án nhượng quyền. (Ảnh: BÍCH VÂN)

Quy hoạch mạng lưới trạm sạc cho đô thị

Sự gia tăng phương tiện giao thông sử dụng điện đang đặt các thành phố trước một bài toán mới về hạ tầng. Không chỉ cần thêm trạm sạc, vấn đề trước mắt cần giải quyết là các đô thị phải quy hoạch mạng lưới này như thế nào để phù hợp nhu cầu đi lại, khả năng cung cấp điện và không gian đô thị.

Công chức Thuế cơ sở 10 tỉnh Phú Thọ hỗ trợ người nộp thuế cài đặt, sử dụng ứng dụng eTax Mobile. (Ảnh: VĂN HỌC)

Gỡ điểm nghẽn thủ tục khi làm sạch mã số thuế

Theo ước tính, cả nước hiện còn khoảng 500.000 doanh nghiệp cần được rà soát, làm sạch mã số thuế để chuẩn hóa dữ liệu người nộp thuế, tạo thuận lợi cho người nộp thuế tuân thủ và sàng lọc rủi ro, ngăn chặn doanh nghiệp “ma”, phản ánh thực chất bức tranh phát triển của nền kinh tế.

[Video] EVN hết lỗ lũy kế, ghi nhận lãi hơn 12.200 tỷ đồng trong 8 tháng

[Video] EVN hết lỗ lũy kế, ghi nhận lãi hơn 12.200 tỷ đồng trong 8 tháng

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho biết đã chính thức xóa hết khoản lỗ lũy kế tồn đọng từ giai đoạn 2022 - 2023 nhờ đẩy mạnh tiết giảm chi phí và cơ cấu lại toàn diện hoạt động vận hành. Trước đó, do chi phí đầu vào chưa được phản ánh đầy đủ vào giá bán lẻ, doanh nghiệp từng chịu mức lỗ hơn 50.000 tỷ đồng.

Logistics là một lĩnh vực đặc biệt mà hoạt động kinh doanh có thể đồng thời chạm tới thương mại, vận tải, giao thông, đầu tư, đất đai, hải quan, thuế, bảo hiểm, thương mại điện tử và nhiều lĩnh vực quản lý khác. (Ảnh: H.M)

Bài 1: Hoàn thiện Luật logistics cần những “điểm nối”

Thể chế đang được đặt ở vị trí đầu tiên trong 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp của Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050. Làm sao để những quy định đang có thực sự đồng bộ, thống nhất và “ăn khớp” với nhau trong toàn bộ chuỗi logistics là vấn đề được đặt ra.

Tập trung theo dõi, vận hành hệ thống điện, bảo đảm cung ứng điện những tháng cuối năm. (Ảnh: EVN cung cấp)

Sản lượng điện 8 tháng tăng 9,3%, EVN chủ động cho các tháng cuối năm

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) vừa thông tin, trong 8 tháng đầu năm 2026, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống đạt 235,82 tỷ kWh, tăng 9,3% so cùng kỳ năm 2025. EVN tiếp tục triển khai các giải pháp bảo đảm cung ứng điện, đẩy nhanh đầu tư nguồn, lưới điện và chủ động phương án vận hành trong những tháng cuối năm.