Nhờ tiếp cận mô hình phát triển kinh tế mới, đời sống của bà con dân tộc thiểu số vùng biên giới Quảng Trị đã được cải thiện.
Nhờ tiếp cận mô hình phát triển kinh tế mới, đời sống của bà con dân tộc thiểu số vùng biên giới Quảng Trị đã được cải thiện.

Hỗ trợ bà con dân tộc thiểu số vùng biên giới Quảng Trị tiếp cận mô hình phát triển kinh tế mới

Từ chỗ quanh năm quần quật làm nương rẫy, “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” mà không đủ ăn đủ mặc, giờ đây đời sống của bà con dân tộc thiểu số vùng biên giới tỉnh Quảng Trị dần được cải thiện nhờ tiếp cận với những mô hình phát triển kinh tế mới theo hướng bền vững.

Góp phần cải thiện cuộc sống của phụ nữ dân tộc thiểu số vùng biên giới

Vào những ngày trung tuần tháng 9, theo chân Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Tà Rụt (tỉnh Quảng Trị), chúng tôi đến thôn A Đăng, địa phương có nhiều hộ gia đình đã thoát nghèo nhờ tham gia vào dự án “Nhóm chăm sóc lợn nái đen bản địa tuần hoàn xã Tà Rụt” - một trong những dự án nằm trong chương trình "Tiến về phía trước".

Chia sẻ với chúng tôi, Trưởng thôn A Đăng Hồ Thị Hoa cho biết, thôn A Đăng có 453 hộ dân với 1.882 nhân khẩu, trong đó có khoảng 130 hộ nghèo. Trước đây, chị em phụ nữ trong thôn chỉ quanh năm làm rẫy, trồng chuối, trồng sắn, nhưng do diện tích nhỏ, thời tiết khắc nghiệt, nên trồng cây không mang lại hiệu quả kinh tế cao, đời sống gặp nhiều khó khăn. Từ khi tham gia dự án “Nhóm chăm sóc lợn nái đen bản địa tuần hoàn xã Tà Rụt”, chị em được hỗ trợ con giống, hỗ trợ làm chuồng trại và tham gia các lớp tập huấn về kỹ thuật chăn nuôi tuần hoàn thích ứng biến đổi khí hậu. Nhờ đó, đời sống chị em dần được cải thiện, con cái được đến trường…

ndo_bl_chi-ro2.jpg
Đàn lợn của nhà chị Hồ Thị Rổ (thôn A Đăng, xã Tà Rụt) đã mang lại nguồn thu đáng kể, giúp chị trang trải tiền học cho con trai đang học đại học tại Huế. (Ảnh: KHÁNH LAN)

Được sự giới thiệu của lãnh đạo xã và lãnh đạo thôn, chúng tôi đến thăm khu chăn nuôi của gia đình chị Hồ Thị Rổ (39 tuổi), một trong những người đầu tiên tham gia dự án “Nhóm chăm sóc lợn nái đen bản địa tuần hoàn xã Tà Rụt”.

Chia sẻ về động lực khiến chị tham gia dự án này, chị Hồ Thị Rổ cho biết, trước đây, thu nhập chính của gia đình chủ yếu từ làm rẫy, bán tạp hóa và thu mua nông sản, mỗi tháng thu nhập khoảng 5 triệu đồng, chỉ vừa đủ ăn. Tuy nhiên, thời tiết ngày càng khắc nghiệt, nguồn thu từ nông sản bấp bênh, có tháng không đủ ăn. Trong khi đó, con trai lớn của chị đang học đại học tại Huế. Dù cháu thuộc đối tượng được miễn học phí, nhưng hằng tháng gia đình vẫn gửi ít nhất 2 triệu đồng để lo tiền ăn, tiền trọ và sinh hoạt cho con. Chính vì vậy, gánh nặng kinh tế đè nặng lên vai người phụ nữ khiến chị luôn đau đáu tìm cách thoát nghèo.

ndo_bl_chi-xien.jpg
Chị Hồ Thị Xiên ở thôn A Liêng, xã Tà Rụt dùng cây chuối rừng, rau lang, ngô… ủ lên men vi sinh làm thức ăn chăn nuôi. (Ảnh: KHÁNH LAN)

“Ngay khi dự án ‘Nhóm chăm sóc lợn nái đen bản địa tuần hoàn xã Tà Rụt’ được chính thức triển khai tại địa phương, tôi đã đăng ký tham gia. Khi đó, tôi được nhận 2 con lợn nái và 1 con lợn đực để gây đàn. Sau hơn một năm, đàn lợn của tôi đã tăng lên 14 con. Tôi đã cho xuất chuồng được 2 con đầu tiên, thu về hơn 18 triệu đồng. Số tiền đó, tôi dành một phần cho việc học của các con, phần còn lại mua thêm lợn rừng lai để tái đàn. Hiện đàn lợn của tôi đã có 18 con, trong đó lứa lợn nái thứ hai sắp đẻ”, chị Hồ Thị Rổ hồ hởi kể.

Theo chị Hồ Thị Rổ, nuôi lợn đen bản địa tuy mất nhiều thời gian hơn, nhưng lợn ít bị bệnh do thích nghi được với điều kiện thời tiết khắc nghiệt ở địa phương. Lợn đen bản địa thịt ngon, chắc và sạch, giá bán khoảng 150.000 đồng/kg, cao gần gấp đôi so với lợn nuôi thông thường, mang lại giá trị kinh tế cao.

ndo_bl_plan.jpg
Ông Lê Phong, cán bộ dự án của chương trình “Tiến về phía trước” của Plan Việt Nam tại Quảng Trị (bên phải ảnh) trao đổi về kỹ năng phòng bệnh cho đàn lợn nái đen bản địa cho gia đình chị Hồ Thị Hiền ở thôn Ta Xía, xã Tân Lập. (Ảnh: KHÁNH LAN)

Cũng như chị Hồ Thị Rổ, gia đình chị Hồ Thị Xiên 42 tuổi, trú tại thôn A Liêng, xã Tà Rụt cũng tham gia dự án “Nhóm chăm sóc lợn nái đen bản địa tuần hoàn xã Tà Rụt”.

Chị Xiên phấn khởi chia sẻ: “Khi tham gia dự án, gia đình tôi được tổ chức Plan International Việt Nam hỗ trợ 3 con lợn nái đen bản địa. Sau 6 tháng chăm sóc, tôi đã bán 2 con được 9 triệu đồng. Số tiền này tôi dùng để tái đàn và đầu tư thêm con giống. Đến nay, tổng đàn lợn của gia đình đã lên tới 11 con”.

ban-sao.png

Theo chị Hồ Thị Xiên, nhờ được tập huấn cách chăn nuôi, phòng bệnh cho đàn lợn nên cách nuôi này nhàn hơn cách nuôi truyền thống rất nhiều. Thay vì phải đi kiếm củi nấu cám như trước, chị tận dụng tối đa các phụ phẩm nông nghiệp sẵn có tại địa phương như cây chuối rừng, rau lang, sắn, ngô, cám gạo... rồi đem ủ với men vi sinh. Phương pháp này vừa giúp giảm chi phí thức ăn, vừa tăng cường hệ miễn dịch cho đàn lợn. Nhờ không phải vào rừng lấy củi nuôi lợn, chị Xiên tiết kiệm được nhiều thời gian để chăm lo cho các công việc khác của gia đình.

Là người luôn đồng hành với chị em trong nhóm tham gia dự án, Phó Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Tà Rụt Hồ Thị Liễu cho biết: Nhờ tham gia vào dự án, các chị em đã được hỗ trợ hướng dẫn về kỹ thuật chăn nuôi tuần hoàn, hỗ trợ con giống và chuồng trại và cám gạo. Bên cạnh đó nhóm sinh kế cũng được tập huấn hướng dẫn về cách chăm sóc lợn theo hướng tuần hoàn thích ứng biến đổi khí hậu như: cách ủ, chế biến thức ăn, vệ sinh chuồng trại, ủ phân hoai mục… Nhiều hộ đã phát triển tốt mô hình và đem lại nguồn thu đáng kể cho gia đình. Chị Hồ Thị Liễu mong muốn, mô hình này sẽ được nhân rộng để bà con Tà Rụt phát triển kinh tế, đặc biệt, nâng cao đời sống của phụ nữ tại thôn, xã.

Nâng cao nhận thức phòng chống biến đổi khí hậu, góp phần duy và phát triển mô hình theo hướng bền vững

Ngoài xã Tà Rụt, thôn Ta Xía, xã Tân Lập (tỉnh Quảng Trị) cũng là địa phương có nhiều hộ gia đình thoát nghèo nhờ tham gia dự án nuôi lợn đen bản địa. Trong số đó phải kể đến gia đình chị Hồ Thị Hiền.

Chị Hồ Thị Hiền cho biết, khi tham gia dự án, chị được hỗ trợ một con lợn nái và làm chuồng. Sau một năm, chị đã có đàn lợn 9 con. Chị đã bán một con khoảng 40kg, được 3 triệu đồng, lấy tiền mua sách vở cho con vào năm học mới. Số lợn còn lại, chị Hiền tiếp tục chăm sóc trước khi xuất chuồng, lấy tiền để tiếp tục tái đàn.

Điều mà chị Hồ Thị Hiền cũng như các chị em địa phương tâm đắc là được tham gia các buổi tập huấn về cách chọn giống, làm chuồng, vệ sinh chuồng trại, ủ thức ăn bằng các nguyên liệu sẵn có ở địa phương, qua đó góp phần bảo vệ môi trường.

Chị Hồ Thị Thủy, cán bộ xã Hướng Lộc (cũ) người đã luôn theo sát và đồng hành cùng chị em địa phương từ những ngày đầu dự án nuôi lợn đen bản địa tại thôn Ta Xía cho biết, cái được nhất của dự án là đã thay đổi nhận thức của người dân việc chăn nuôi gia súc cũng như có ý thức hơn trong việc bảo vệ môi trường sống trong sạch hơn.

ndo_br_phunu.jpg
Chị Hồ Thị Liễu, Phó Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Tà Rụt. (Ảnh: KHÁNH LAN)

“Trước kia, bà con chăn thả lợn tự nhiên trên nương rẫy, chặt gỗ lấy củi về nấu thức ăn chăn nuôi, con giống không bảo đảm nên không mang lại hiệu quả kinh tế, cuộc sống quanh năm khó khăn thiếu thốn. Kể từ khi tham gia dự án nuôi lợn đen bản địa, bà con được tham gia các lớp tập huấn về kỹ năng từ khâu chọn giống, cách chế biến thức ăn, cách phòng chống dịch bệnh… Những kiến thức bổ ích này đã giúp không ít chị em thành công trong việc phát triển mô hình chăn nuôi, tạo thêm thu nhập giúp cải thiện cuộc sống.”, chị Hồ Thị Thủy chia sẻ.

2.png

Là cán bộ dự án của chương trình “Tiến về phía trước” của Plan International Việt Nam tại Quảng Trị, ông Lê Phong chia sẻ: “Tân Lập là xã vùng núi có tỷ lệ hộ nghèo cao, đời sống của bà con dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn, đặc biệt ở đây thời tiết vô cùng khắc nghiệt, nắng gắt, mưa lũ triền miên. Mô hình nuôi lợn nái đen bản địa được triển khai tại địa phương đã giúp bà con tận dụng những nguồn nguyên liệu sẵn có, giảm phụ thuộc vào đầu vào bên ngoài và tiết kiệm nhiên liệu, các hộ gia đình có thể giảm bớt chi phí chăn nuôi. Cách làm này cũng giúp việc sản xuất phù hợp hơn với điều kiện thời tiết ngày càng thất thường, khi người dân cần những sinh kế có thể duy trì ngay từ những nguồn lực sẵn có tại địa phương”.

Đánh giá về hiệu quả của dự án, ông Hồ Văn Nhiếp, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Tà Rụt, Trưởng ban quản lý dự án Plan Việt Nam tại xã Tà Rụt cho biết, dự án “Nhóm chăm sóc lợn nái đen bản địa tuần hoàn xã Tà Rụt” nằm trong khuôn khổ dự án “Tiến về phía trước” được tài trợ bởi Chương trình Hỗ trợ Phát triển quốc tế của Chính phủ Ireland thông qua Đại sứ quán Ireland tại Hà Nội và được triển khai bởi Plan International Việt Nam, CARE International tại Việt Nam và Trung tâm Nghiên cứu Sáng kiến phát triển cộng đồng (RIC) giai đoạn 2022-2028. Dự án được triển khai từ tháng 7/2025 với tổng số vốn hỗ trợ hơn 250 triệu đồng.

ndo_bl_pct-xa.jpg
Ông Hồ Văn Nhiếp, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Tà Rụt, Trưởng ban quản lý dự án Plan Việt Nam tại xã Tà Rụt. (Ảnh: KHÁNH LAN)

Sau hơn một năm triển khai dự án tại xã Tà Rụt, đã có 26 con lợn được xuất bán với tổng doanh thu 105 triệu đồng và còn đang nuôi 50 con. Mô hình bước đầu mang lại hiệu quả thiết thực, tạo công ăn việc làm, thêm nguồn thu nhập cho các hộ thành viên. Một số hộ đã chủ động tái đầu tư từ nguồn thu sau mỗi lứa nuôi, góp phần duy trì và phát triển mô hình theo hướng bền vững.

“Dự án đã tạo thêm nguồn phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao nhận thức phòng chống biến đổi khí hậu. Trong tương lai, chúng tôi mong rằng dự án được nhân rộng ở các thôn bản còn lại”, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Tà Rụt Hồ Văn Nhiếp bày tỏ.

Từ những kết quả trên, có thể khẳng định, những hoạt động sinh kế như dự án nuôi lợn nái đen bản địa ở xã Tà Rụt và xã Tân Lập không chỉ mang lại lợi ích về kinh tế mà còn góp phần nâng cao nhận thức của người dân, thích ứng với biến đổi khí hậu. Điều này hoàn toàn phù hợp với mục tiêu của chương trình "Tiến về phía trước" hướng tới, đó là tăng cường khả năng chống chịu của các cộng đồng dân tộc thiểu số và dễ bị tổn thương trước những tác động ngày càng gia tăng của biến đổi khí hậu, thiên tai và thúc đẩy phát triển kinh tế theo hướng bền vững.

Có thể bạn quan tâm

Tọa đàm "Quản trị rủi ro các dự án hạ tầng trong kỷ nguyên đầu tư công" do Báo Xây dựng tổ chức sáng 16/9 tại Hà Nội. (Ảnh: HẢI MINH)

Quản trị rủi ro các dự án hạ tầng xây dựng

Đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển kết cấu hạ tầng với quy mô lớn, tốc độ nhanh với hàng loạt dự án đường bộ cao tốc, đường sắt, hàng không, cảng biển, hạ tầng đô thị, năng lượng… Tuy nhiên, quy mô đầu tư càng lớn, yêu cầu đối với quản trị rủi ro càng cao.

Ảnh minh họa. (Nguồn: TTXVN)

Chứng khoán ngày 16/9: Cổ phiếu tài chính và bất động sản gây sức ép, VN-Index giảm điểm

Trong phiên giao dịch ngày 16/9, thị trường chứng khoán Việt Nam diễn biến giằng co khi áp lực bán tại nhiều cổ phiếu vốn hóa lớn khiến VN-Index giảm 1,04 điểm, xuống mức 1.810,11 điểm. Trong bối cảnh thị trường phân hóa, dòng tiền nước ngoài tiếp tục là điểm đáng chú ý khi mua ròng hơn 259 tỷ đồng trên cả ba sàn.

Đại diện JICA, VNUA và Toyo ký kết bàn giao hệ thống thiết bị máy móc. (Ảnh: ANH THƯ)

Thúc đẩy sản xuất điện và phân bón hữu cơ từ các loại rác thải rắn

Ngày 16/9, tại Hà Nội, JICA Việt Nam và Học viện Nông nghiệp Việt Nam (VNUA) tổ chức hội nghị chia sẻ kết quả và sản phẩm của dự án “Khảo sát tiềm năng phát triển kinh doanh bền vững đối với doanh nghiệp tư nhân trong sản xuất điện và phân bón hữu cơ bằng công nghệ lên men tạo khí mê-tan từ các loại rác thải rắn ở Việt Nam”.

Dù đang có cơ hội vươn xa hơn trên thị trường thế giới, song hàng xuất khẩu Việt Nam cũng đứng trước sức ép ngày càng lớn về công nghệ, tiêu chuẩn xanh và truy xuất nguồn gốc. (Ảnh: TTXVN)

Tham gia thực chất hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu

Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới nhờ lợi thế từ 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA), năng lực sản xuất không ngừng nâng cao, hệ thống doanh nghiệp năng động và khả năng tiếp cận thị trường quốc tế liên tục được mở rộng.

Một trạm sạc xe điện Vinfast thực hiện theo phương án nhượng quyền. (Ảnh: BÍCH VÂN)

Quy hoạch mạng lưới trạm sạc cho đô thị

Sự gia tăng phương tiện giao thông sử dụng điện đang đặt các thành phố trước một bài toán mới về hạ tầng. Không chỉ cần thêm trạm sạc, vấn đề trước mắt cần giải quyết là các đô thị phải quy hoạch mạng lưới này như thế nào để phù hợp nhu cầu đi lại, khả năng cung cấp điện và không gian đô thị.

Công chức Thuế cơ sở 10 tỉnh Phú Thọ hỗ trợ người nộp thuế cài đặt, sử dụng ứng dụng eTax Mobile. (Ảnh: VĂN HỌC)

Gỡ điểm nghẽn thủ tục khi làm sạch mã số thuế

Theo ước tính, cả nước hiện còn khoảng 500.000 doanh nghiệp cần được rà soát, làm sạch mã số thuế để chuẩn hóa dữ liệu người nộp thuế, tạo thuận lợi cho người nộp thuế tuân thủ và sàng lọc rủi ro, ngăn chặn doanh nghiệp “ma”, phản ánh thực chất bức tranh phát triển của nền kinh tế.

[Video] EVN hết lỗ lũy kế, ghi nhận lãi hơn 12.200 tỷ đồng trong 8 tháng

[Video] EVN hết lỗ lũy kế, ghi nhận lãi hơn 12.200 tỷ đồng trong 8 tháng

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho biết đã chính thức xóa hết khoản lỗ lũy kế tồn đọng từ giai đoạn 2022 - 2023 nhờ đẩy mạnh tiết giảm chi phí và cơ cấu lại toàn diện hoạt động vận hành. Trước đó, do chi phí đầu vào chưa được phản ánh đầy đủ vào giá bán lẻ, doanh nghiệp từng chịu mức lỗ hơn 50.000 tỷ đồng.

Logistics là một lĩnh vực đặc biệt mà hoạt động kinh doanh có thể đồng thời chạm tới thương mại, vận tải, giao thông, đầu tư, đất đai, hải quan, thuế, bảo hiểm, thương mại điện tử và nhiều lĩnh vực quản lý khác. (Ảnh: H.M)

Bài 1: Hoàn thiện Luật logistics cần những “điểm nối”

Thể chế đang được đặt ở vị trí đầu tiên trong 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp của Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050. Làm sao để những quy định đang có thực sự đồng bộ, thống nhất và “ăn khớp” với nhau trong toàn bộ chuỗi logistics là vấn đề được đặt ra.

Tập trung theo dõi, vận hành hệ thống điện, bảo đảm cung ứng điện những tháng cuối năm. (Ảnh: EVN cung cấp)

Sản lượng điện 8 tháng tăng 9,3%, EVN chủ động cho các tháng cuối năm

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) vừa thông tin, trong 8 tháng đầu năm 2026, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống đạt 235,82 tỷ kWh, tăng 9,3% so cùng kỳ năm 2025. EVN tiếp tục triển khai các giải pháp bảo đảm cung ứng điện, đẩy nhanh đầu tư nguồn, lưới điện và chủ động phương án vận hành trong những tháng cuối năm.