Tận dụng thế mạnh sẵn có
Trong giai đoạn 2018 - 2025, thành phố đã triển khai “Đề án Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị thông minh” song song với Chương trình Chuyển đổi số. Đến thời điểm hiện tại, thành phố đã hình thành được hệ sinh thái ban đầu với hạ tầng số, nền tảng dữ liệu, các hệ thống thông tin dùng chung và nhiều ứng dụng chuyên ngành phục vụ công tác quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ công, đẩy mạnh hiệu quả tương tác với người dân, doanh nghiệp.
Nổi bật là việc xây dựng và vận hành Bản đồ số Thành phố Hồ Chí Minh với hơn 200 lớp dữ liệu GIS, phục vụ cho công tác quản lý đất đai, quy hoạch xây dựng, hạ tầng kỹ thuật, giao thông, môi trường cùng nhiều lĩnh vực đô thị khác. Thành phố hiện có 12 trung tâm dữ liệu lớn, đồng thời chuẩn bị hình thành bốn siêu trung tâm dữ liệu, từng bước tạo lập mạng lưới hạ tầng dữ liệu phục vụ chính quyền số và đô thị thông minh. Kho dữ liệu dùng chung toàn thành phố cũng đã được triển khai, giúp kết nối dữ liệu từ hệ thống thông tin của các sở, ban, ngành và địa phương, liên thông kết nối với Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia.
Sau quá trình sáp nhập, Thành phố Hồ Chí Minh đang từng bước chuyển sang mô hình đô thị - vùng với không gian phát triển mở rộng, đa cực, đa chức năng, bao gồm các khu vực đô thị trung tâm, đô thị vệ tinh, khu công nghiệp - công nghệ cao, khu logistics - cảng biển và các không gian sinh thái, dịch vụ liên vùng. Quy mô dân số, diện tích tự nhiên, hạ tầng kinh tế - xã hội và hạ tầng kỹ thuật của thành phố mới được mở rộng đáng kể, tạo điều kiện hình thành thị trường lao động, thị trường dịch vụ và thị trường công nghệ quy mô lớn.
Theo ông Đinh Hồng Kỳ, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp xanh Thành phố Hồ Chí Minh, thách thức lớn nhất hiện nay không phải là “làm thêm công nghệ”, mà là “thiết kế lại mô hình quản trị cho một siêu đô thị vùng”. Trong đó, công nghệ chỉ là công cụ, thứ quyết định là cơ chế điều phối vùng, cơ chế chia sẻ dữ liệu bắt buộc và cơ chế ra quyết định theo thời gian thực. Thay vì dàn trải ở quá nhiều hạng mục, thành phố nên ưu tiên tập trung vào ba bài toán điều hành cấp vùng, gồm: Giao thông liên vùng và logistics; Ngập nước, môi trường, phát thải và thích ứng khí hậu; Dịch vụ công và dòng di chuyển lao động không phụ thuộc địa giới hành chính.
Ông Kỳ cũng cho rằng, trong giai đoạn tới, Thành phố Hồ Chí Minh cần được quy hoạch như một “tam giác chức năng thông minh” để tận dụng tốt thế mạnh của cả ba địa phương trước khi sáp nhập.
Cần thêm nhiều đột phá
Theo lộ trình của dự thảo đề án, trong hai năm tới, Thành phố Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục hoàn thiện các nền tảng, thể chế để thúc đẩy các mô hình thí điểm. Trong đó có việc thành lập Hội đồng điều phối phát triển đô thị thông minh, xây dựng kho dữ liệu dùng chung, vận hành cơ chế sandbox cho trí tuệ nhân tạo (AI) và bản sao số (Digital Twin). Giai đoạn 2028 - 2029 sẽ đầu tư mở rộng các mô hình thí điểm ra toàn thành phố, hoàn thiện Trung tâm giám sát, điều hành đô thị thông minh.
Phó Chủ tịch Hội Tin học Thành phố Hồ Chí Minh Đỗ Đức Trung cho rằng, để kết nối chính quyền và người dân hiệu quả hơn, các chương trình phát triển cần được đo lường bằng kết quả thực tế mà người dân, doanh nghiệp cảm nhận được. Và yếu tố không thể bỏ qua khi triển khai mô hình đô thị thông minh là những yêu cầu về thiết kế công nghệ, giải pháp phục vụ được cho đối tượng yếu thế.
PGS, TS Thoại Nam, Viện trưởng Khoa học và Công nghệ Tiên tiến liên ngành, Trường đại học Bách khoa - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh nhận định, với diện tích tăng gấp ba lần như hiện nay, nếu thành phố tiếp tục tập trung toàn bộ dữ liệu vào một kho duy nhất sẽ gây tắc nghẽn và khó quản lý. Giải pháp đưa ra là xây dựng Lưới dữ liệu (Data Mesh) với những thay đổi linh hoạt cho từng lĩnh vực. Việc xây dựng mô hình phường xã thông minh là yêu cầu tất yếu và cấp thiết, đóng vai trò là những “tế bào” sống trong hệ sinh thái siêu đô thị 14 triệu dân như hiện nay. Theo đó, các phường lõi trung tâm tập trung vào dịch vụ và giao thông thông minh, còn các xã tại khu vực công nghiệp hay cảng biển cần ưu tiên quản trị lao động số và logistics.
Thành phố cũng cần nâng tầm cơ chế sandbox hiện có thành các Phòng thí nghiệm sống (Living Labs) thực thụ tại các khu đô thị mới hoặc khu công nghệ cao. Việc đẩy mạnh phòng thí nghiệm dữ liệu mở (Open Data Lab) gắn liền với sàn dữ liệu chung sẽ giúp hệ sinh thái khởi nghiệp hình thành các “sản phẩm dữ liệu” có độ chính xác cao, giải quyết trực tiếp các bài toán đô thị đặc thù. “Đặc biệt, đề án nên bổ sung định hướng “xuất khẩu giải pháp đô thị thông minh” để có thể đóng gói các bí quyết quản trị thành những sản phẩm công nghệ cung cấp cho các đô thị khác”, ông Nam gợi ý thêm.
“Phải bảo đảm nguyên tắc “một kiến trúc, một chuẩn dữ liệu, một nền tảng tích hợp, nhiều ứng dụng mở” để tránh khóa công nghệ, tránh đầu tư manh mún và tạo không gian cho doanh nghiệp Việt tham gia lâu dài", ông Kỳ nêu vấn đề.