Hỗ trợ phụ nữ vùng cao bị bạo lực giới

Theo Tổ chức Phụ nữ LHQ (UN Woman), trên thế giới, cứ ba phụ nữ thì có một người là nạn nhân của bạo lực giới. Trong bối cảnh dịch Covid-19, tỷ lệ phụ nữ và trẻ em trên toàn thế giới bị bạo lực gia tăng từ 30 đến 300%. Tại Việt Nam, khoảng 63% số phụ nữ từng trải qua một dạng bạo lực trong đời. Lâu nay, truyền thông và các cơ quan quản lý chủ yếu quan tâm vấn đề bạo lực giới ở khu vực đồng bằng, nơi có đông người Kinh sinh sống, cho dù đây là vấn đề dai dẳng trong cộng đồng người dân tộc thiểu số.

Nhiều phụ nữ dân tộc thiểu số ngoài việc lao động vất vả còn là nạn nhân của nạn bạo hành gia đình. Ảnh: KHIẾU MINH
Nhiều phụ nữ dân tộc thiểu số ngoài việc lao động vất vả còn là nạn nhân của nạn bạo hành gia đình. Ảnh: KHIẾU MINH

1/ Bạo lực giới không phải là vấn đề của riêng nhóm phụ nữ dân tộc thiểu số, mà là của nhiều nhóm và tầng lớp khác nhau trong xã hội. Tuy nhiên, phụ nữ dân tộc thiểu số gặp những rào cản và thách thức đặc thù hơn. Với nam giới là người dân tộc, các hành vi bạo lực xuất phát từ thói quen lạm dụng rượu, bia, cờ bạc, nghiện ma túy, thiếu hiểu biết pháp luật, còn với phụ nữ là những hạn chế về khả năng giao tiếp bằng tiếng phổ thông và khả năng đi lại, do đó họ càng khó tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ khi bị bạo lực. 

Tại Hội thảo “Dịch vụ hỗ trợ người bị bạo lực giới tại cộng đồng: Chính sách, thực tiễn và giải pháp”, nằm trong khuôn khổ Dự án nâng cao nhận thức và tiếng nói của cộng đồng dân tộc thiểu số miền núi phía bắc trong ứng phó bạo lực trên cơ sở giới (viết tắt là dự án SUSO), đại diện các cơ quan quản lý nhà nước, giới chuyên gia hoạt động trong lĩnh vực bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực đã chia sẻ về thực trạng cung cấp những dịch vụ hỗ trợ người bị bạo lực giới, thảo luận về những rào cản trong tiếp cận dịch vụ của người bị bạo lực và những giải pháp để cải thiện chất lượng dịch vụ.

Thống kê của Vụ Dân tộc thiểu số cho biết, trong khi 74% số hộ gia đình dân tộc thiểu số, nam giới đứng tên độc lập về quyền sở hữu đất đai và tín dụng, thì tỷ lệ này đặc biệt thấp đối với những hộ phụ hệ (11,3%), mẫu hệ (21,4%), song hệ (25%). Trong kinh tế và phân công lao động, phụ nữ bất lợi hơn nên thường yếu thế hơn trong vai trò ra quyết định. Đặc biệt, bạo lực trong gia đình dân tộc thiểu số xảy ra khá phổ biến, đặc biệt ở gia đình những dân tộc phụ hệ. Theo nghiên cứu, có tới 58,6% phụ nữ dân tộc thiểu số từ 15 đến 49 tuổi tin rằng chồng có quyền đánh vợ vì bất kỳ lý do nào, như vợ ra ngoài mà không xin phép, vợ bỏ bê con cái, vợ cãi lại chồng, vợ từ chối quan hệ tình dục với chồng, vợ làm cháy thức ăn..., trong khi tỷ lệ này ở phụ nữ Kinh chỉ khoảng 28%.

Phần lớn những người bị bạo lực chấp nhận chịu đựng và không tìm kiếm bất kỳ sự hỗ trợ nào. Sự im lặng, kỳ thị của cộng đồng và “văn hóa đổ lỗi” là những rào cản khiến người bị bạo lực không dám lên tiếng và tìm kiếm sự giúp đỡ. Đặc biệt, bạo lực gia đình tạo ra những hậu quả nghiêm trọng cho phát triển kinh tế và sức khỏe thể chất, tinh thần phụ nữ.

2/ Dự án SUSO được triển khai từ năm 2018 đến năm 2021 tại bốn xã Thanh Nưa, Hua Thanh, Mường Phăng và Pá Khoang, với 24 thôn bản thuộc huyện Điện Biên (tỉnh Điện Biên). Mục tiêu của dự án là phá vỡ im lặng chung quanh bạo lực giới trong cộng đồng dân tộc thiểu số nơi đây, từ đó góp phần thúc đẩy bình đẳng giới nói chung. Dự án cũng hỗ trợ các “hạt nhân thay đổi” tổ chức những sự kiện cộng đồng để nâng cao hiểu biết của người dân về các hình thức bạo lực, nguyên nhân của bạo lực và các kênh hỗ trợ người bị bạo lực. Thông qua đó, dự án hướng tới phát huy năng lực của “hạt nhân thay đổi” để tự tin truyền cảm hứng cho cộng đồng lên tiếng thảo luận về bạo lực và sử dụng những kỹ năng hỗ trợ người bị bạo lực chia sẻ về vấn đề của họ.

Số liệu cho thấy, trong vòng hai năm triển khai, dự án đã thực hiện nhiều hoạt động và thu hút được một số kết quả quan trọng. Khoảng 92% số phụ nữ và 85% số nam giới người dân tộc thiểu số tại các địa bàn dự án đã nhận diện được bốn hình thức bạo lực (bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần, bạo lực tình dục và bạo lực kinh tế) và phản đối mọi hình thức bạo lực. 

Nhiều ý kiến cho rằng, bên cạnh việc thúc đẩy các dịch vụ chuyên nghiệp hỗ trợ người bị bạo lực, rất cần phải thể chế hóa và nâng cao chất lượng các dịch vụ tại cộng đồng, bao gồm nơi tạm lánh an toàn, đường dây nóng từ công an hỗ trợ kịp thời, cơ sở y tế áp dụng đúng hướng dẫn sàng lọc người bị bạo lực. Cùng với đó, cần có một cơ chế phối hợp rõ ràng giữa các bên để có sự kết nối đồng bộ. Và quan trọng hơn là bản thân người bị bạo lực cũng phải được trang bị các kiến thức, kỹ năng phòng, chống bạo lực để có thể chủ động chia sẻ, tìm kiếm sự giúp đỡ khi cần thiết.

Kết quả điều tra quốc gia về bạo lực với phụ nữ dân tộc ở các tỉnh phía bắc trong năm 2019:

- Tỷ lệ bạo lực thể xác hoặc bạo lực tình dục cao nhất ở nhóm phụ nữ dân tộc Nùng trong đời là 42,8% và trong 12 tháng qua là 25,8%. Gần một phần tư (24,1%) phụ nữ dân tộc Nùng cho biết từng bị bạo lực thể xác. 

- Tỷ lệ bạo lực tình dục cao nhất ở nhóm phụ nữ dân tộc Dao là 15,8% trong đời và 12% trong 12 tháng qua. 

- Phụ nữ H’Mông có tỷ lệ bị bạo lực tinh thần thấp nhất, trong đời là 21,9% và trong 12 tháng qua là 5,8%.