Cứ phải... hoành tráng?

Vấn đề không phải quá mới, nhưng hiện đang có vẻ “nóng” lên, và là một vấn đề có tính thời sự. Đó là xu hướng “hoành tráng hóa” các công trình tâm linh. Thực trạng này không chững lại hay giảm đi, mà xem ra nó còn được phổ biến, lan rộng hơn qua nhiều địa phương.

Xã hội đang chứng kiến nhiều hơn tình trạng xuất hiện những công trình bề thế, được tôn tạo từ những “tiền thân” vốn nhỏ bé, quy mô có hạn. Những di tích, địa chỉ tâm linh đó, xưa kia, từng được cha ông nương theo địa thế, địa hình, cảnh quan thiên nhiên mà bố trí, tạo dựng, sao cho hài hòa, phù hợp giữa các “công trình nhân tạo” với “công trình thiên tạo”. Nhưng nay, “lớp áo” khiêm nhường, dung dị và hòa đồng, gần gũi với đời sống dân dã, được trút xuống, để mọc lên, thay thế bằng nhiều lớp cổng, tường kiên cố, các công trình thờ tự đồ sộ, vươn cao, hệ thống đường đi lối lại trùng điệp, những bãi gửi xe mênh mông… “Áo mới” dù hào nhoáng, to đẹp nhưng át đi, choán lấy, o ép cả những gì ở chung quanh, vốn từng kết nối thành những khung cảnh hài hòa, thân thiện.

Có quá nhiều lý giải tưởng chừng hợp lý cho xu hướng phô trương, “thị uy” này của các công trình tâm linh. Để đáp ứng nhu cầu hành hương, sinh hoạt văn hóa tâm linh của đông đảo quần chúng nhân dân trong vùng và các tỉnh, thành phố khác… trong cả nước. Để tương xứng với tầm vóc, công đức của tiền nhân, của trang huyền thoại hào hùng nơi di tích này, vùng quê hương, non nước kỳ diệu ấy. Để thúc đẩy phát triển du lịch tâm linh - văn hóa, tạo điều kiện cho người dân địa phương có thêm công ăn việc làm, cho công chúng sở tại và thập phương được trải nghiệm, thưởng thức những sự kiện văn hóa, lễ hội quy mô…

Rất nhiều lý giải, lý do, tất thảy đều đẹp! Và nếu đặt riêng ra những mục tiêu, mong mỏi đó, thì quả thật, rất chính đáng, nhân văn. Nhưng nếu bỏ qua kết quả hiển hiện là sự hoành tráng, đồ sộ và nhiều những… kỷ lục của các công trình, thì phải chăng giữa kỳ vọng, giữa những gì quen thuộc hàng đời nay của cả dân tộc với hình ảnh này vẫn có gì đó cho thấy sự “lệch pha”.

Nguy cơ, và cũng đã thành thực trạng rất rõ. Đó là: Do thiếu kiến thức lịch sử, văn hóa, do hạn chế trong nhận thức mà việc tôn tạo, bảo tồn di tích trở thành làm mới, thậm chí biến dạng di tích. Đó là tâm lý “con gà tức nhau tiếng gáy”, người ta làm được mình cũng làm. Đó là chưa nói đến sự tốn kém những khoản kinh phí khổng lồ từ nhiều nguồn đầu tư cho nguyên vật liệu, thiết bị, nhân lực xây dựng, vận hành các công trình, địa chỉ tâm linh. Sự tốn kém nhiều nữa của quần chúng nhân dân khi chịu tác động của các hoạt động truyền thông, quảng bá rầm rộ mà tò mò, hiếu kỳ tìm về chiêm bái, kéo theo hàng loạt những khoản chi tiêu. Sự phá vỡ, bức bách, che lấp… đối với cảnh quan núi đồi, mặt nước, vùng cây cối… lân cận, làm mất đi nhiều giá trị quý giá của thiên nhiên. Và cũng không thể không nói đến, những gì đồ sộ, phô trương và xa hoa đó, như một xúc tác cổ súy cho lối sống, lối cư xử phô trương, hình thức và sự ganh đua.

Câu hỏi nào cho sự biết dừng, biết đủ, và biết trân trọng, giữ gìn để tìm cách duy trì, lưu giữ những giá trị thực của các di tích, công trình tâm linh. Có thể nói, câu trả lời phụ thuộc vào từng người trong hành trình hoàn thiện nhân cách, lối sống và tri thức của mình. Nhưng không thể không có vai trò quan trọng của sự điều chỉnh bằng các chính sách văn hóa.