Vốn nước ngoài chờ “cửa” vào ngân hàng Việt

Từ cuộc đàm phán tăng sở hữu tại VPBank đến kế hoạch bán vốn của nhiều ngân hàng, dòng vốn nước ngoài đang chờ những thỏa thuận đủ hấp dẫn để đi xa hơn vào thị trường Việt Nam. Nhưng những thương vụ được chờ đợi vẫn phải vượt qua câu hỏi khó nhất: Mức giá nào đủ để cả bên mua lẫn bên bán “gật đầu”?

Ngoài nguồn vốn, đối tác quốc tế có thể mang đến kinh nghiệm về công nghệ, quản trị và kiểm soát rủi ro...
Ngoài nguồn vốn, đối tác quốc tế có thể mang đến kinh nghiệm về công nghệ, quản trị và kiểm soát rủi ro...

Tuần qua, cổ phiếu VPB của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) thu hút sự chú ý sau thông tin liên quan đến cổ đông chiến lược SMBC (Tập đoàn tài chính lớn nhất Nhật Bản). Theo Reuters, phía Nhật Bản đang đàm phán nâng tỷ lệ sở hữu tại VPBank từ 15% lên khoảng 20%.

Nguồn tin này cho biết thêm, hai bên muốn hoàn tất giao dịch trong năm nay nhưng chưa thống nhất về giá. Trước đó, Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên 2026 của VPBank đã thông qua phương án phát hành riêng lẻ hơn 624 triệu cổ phiếu cho một nhà đầu tư nước ngoài, song chưa công bố danh tính đối tác.

Nhiều kế hoạch vẫn đang chờ giá

Nhìn lại thương vụ năm 2023, SMBC mua hơn 1,19 tỷ cổ phiếu VPBank qua đợt phát hành riêng lẻ, với giá khoảng 30.160 đồng mỗi cổ phiếu. Sau gần ba năm, nếu chỉ xét thị giá, khoản đầu tư này chưa ghi nhận lãi vốn. Reuters ước tính 5% cổ phần VPBank hiện trị giá khoảng 425 triệu USD. Như vậy, 15% tương đương khoảng 1,275 tỷ USD, thấp hơn giá mua ban đầu chừng 225 triệu USD.

Đây chỉ là chênh lệch tạm tính, không phải khoản lỗ SMBC đã hiện thực hóa. Phép tính đầy đủ hơn cần xét đến cổ tức tiền mặt. Từ khi trở thành cổ đông, SMBC có quyền hưởng bốn đợt chi trả với tổng mức 3.000 đồng trên mỗi cổ phiếu ban đầu. Tính trên hơn 1,19 tỷ cổ phiếu, khoản cổ tức tương ứng khoảng 3.570 tỷ đồng trước thuế, phí.

Dù cộng khoản này vào giá trị cổ phần ước tính và quy đổi sơ bộ theo tỷ giá hiện nay, tổng giá trị vẫn thấp hơn mức đầu tư 1,5 tỷ USD. Đợt chia cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 26,04% vừa chốt quyền cũng không thể tính ngay thành lợi nhuận: số cổ phiếu tăng lên nhưng giá được điều chỉnh tương ứng, còn tỷ lệ sở hữu của SMBC không tự thay đổi.

Câu hỏi đặt ra là “vì sao SMBC vẫn muốn mua thêm?”. Theo Reuters, phía Nhật Bản kỳ vọng tiếp cận sâu hơn thị trường Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực tín dụng và bảo hiểm. Nếu mua được ở mức giá phù hợp, SMBC cũng có thể giảm giá vốn bình quân của khoản đầu tư dài hạn. Ý định nâng sở hữu cho thấy kỳ vọng của SMBC vào triển vọng hợp tác với VPBank, chứ chưa đủ để kết luận khoản mua năm 2023 đã sinh lời.

Kỳ vọng của SMBC đối với VPBank cũng cho thấy sức hút của cổ phần ngân hàng Việt Nam với các định chế nước ngoài. Tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank), thông tin về khả năng tìm kiếm đối tác chiến lược từng khiến cổ phiếu TCB tăng mạnh trong phiên 26/8.

Trước đó, Tổng Giám đốc Jens Lottner cũng cho biết ngân hàng cân nhắc bán tối đa 15% cổ phần cho một đối tác phù hợp, có khả năng đồng hành dài hạn và hỗ trợ về công nghệ. Tuy nhiên, Techcombank chưa công bố thỏa thuận bán vốn.

Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank) có phương án chào bán cụ thể hơn. Theo kế hoạch đã được cổ đông thông qua, ngân hàng dự kiến phát hành riêng lẻ tối đa 543,1 triệu cổ phiếu, tương đương khoảng 6,5% số cổ phiếu đang lưu hành tại thời điểm xây dựng phương án, cho không quá 55 nhà đầu tư. Nhóm này gồm nhà đầu tư chiến lược và nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp.

Chủ tịch Vietcombank Nguyễn Thanh Tùng cho biết, cổ đông chiến lược Mizuho dự kiến tham gia để duy trì tỷ lệ sở hữu hiện tại và có thể mua thêm.

Tại Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HDBank), Ngân hàng Nhà nước đã chấp thuận phương án tăng vốn điều lệ thêm tối đa khoảng 22.015 tỷ đồng, trong đó có kế hoạch chào bán riêng lẻ tối đa 700 triệu cổ phiếu cho nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp trong và ngoài nước. Giá chào bán do Hội đồng quản trị quyết định trên cơ sở thỏa thuận với nhà đầu tư, nhưng không thấp hơn giá đóng cửa bình quân của 30 phiên giao dịch liên tiếp trước thời điểm quyết định triển khai.

Tương tự, Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) cũng cho biết có nhà đầu tư nước ngoài quan tâm. Theo Chủ tịch Hội đồng quản trị Đỗ Quang Hiển, lựa chọn đối tác phù hợp là một phần trong chiến lược phát triển dài hạn của ngân hàng. Nhìn từ các kế hoạch trên, vốn nước ngoài tiếp tục là nguồn lực được nhiều ngân hàng tìm kiếm, nhưng mỗi thương vụ còn phải giải bài toán riêng về giá bán và giá trị hợp tác sau khi nhà đầu tư trở thành cổ đông.

231.jpg
Ngân hàng tiếp tục là nguồn cung vốn chủ lực của nền kinh tế. Ảnh: NAM ANH

Giá trị vốn không nằm ở số tiền

Từ đầu năm đến nay, tín dụng ngân hàng tăng thêm khoảng 1,7 triệu tỷ đồng, trong khi doanh nghiệp huy động ước khoảng 460.800 tỷ đồng qua các kênh thị trường vốn. Chênh lệch này cho thấy ngân hàng tiếp tục là nguồn cung vốn chủ lực của nền kinh tế. Nếu mục tiêu tăng trưởng hai con số được đặt ra cho giai đoạn tới, nhu cầu huy động vốn của các ngân hàng sẽ còn lớn.

Theo ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc FiinGroup, áp lực mở rộng tín dụng đang gia tăng trong khi nguồn vốn huy động chưa theo kịp. Những vấn đề như mất cân đối kỳ hạn, hệ số an toàn vốn thấp và bộ đệm vốn mỏng vẫn là thách thức của ngành. Vì vậy, việc tiếp cận thêm các nguồn vốn mới sẽ giúp ngân hàng có thêm dư địa đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế.

Vai trò của ngân hàng thể hiện rõ qua số liệu của Ngân hàng Thế giới: giai đoạn 2019-2023, Việt Nam huy động bình quân khoảng 53,5 tỷ USD mỗi năm qua hệ thống ngân hàng, so với khoảng 2,9 tỷ USD qua thị trường cổ phiếu. Sự chênh lệch này phần nào lý giải vì sao các định chế quốc tế thường chọn ngân hàng trong nước làm cửa ngõ tiếp cận thị trường Việt Nam.

Thực tế, một định chế nước ngoài có thể cấp vốn trực tiếp cho doanh nghiệp Việt Nam, nhưng để tiếp cận nhiều khách hàng ở những ngành nghề và địa phương khác nhau, họ cần năng lực tìm kiếm, thẩm định và theo dõi từng khoản vay. Trong khi đó, ngân hàng trong nước đã có mạng lưới khách hàng và hệ thống thực hiện những công việc ấy.

Ngoài ra, ông Nguyễn Quang Thuân cho rằng, giá trị vốn quốc tế không chỉ nằm ở số tiền mà nguồn vốn này phần lớn có kỳ hạn trung và dài hạn, giúp ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn và cải thiện trạng thái ngoại tệ, dù mặt bằng lãi suất quốc tế còn cao.

Nhìn từ doanh nghiệp, một khoản vay dài hơn có giá trị ngay cả khi lãi suất không thấp nhất. Đầu tư máy móc, cải tạo nhà xưởng hoặc thay đổi công nghệ thường cần thời gian tạo doanh thu. Nếu nghĩa vụ trả nợ đến quá sớm, doanh nghiệp phải xoay nguồn trả trước khi hiệu quả đầu tư xuất hiện.

Kỳ hạn phù hợp và lịch trả nợ bám sát dòng tiền có thể giảm áp lực đó. Đây là lợi ích cần được xem xét cùng lãi suất, nhất là với dự án có giai đoạn xây dựng, chạy thử hoặc chuyển đổi quy trình. Một khoản vay rẻ hơn nhưng thời gian tài trợ quá ngắn chưa chắc phù hợp hơn với nhu cầu sản xuất. Tuy nhiên, kỳ hạn ngân hàng vay từ nước ngoài không tự động trở thành kỳ hạn dành cho mọi khách hàng.

Đồng quan điểm, ông Trần Hoài Phương, Giám đốc Khối Khách hàng doanh nghiệp HDBank cho biết, huy động vốn từ nhiều đối tác quốc tế giúp ngân hàng giảm phụ thuộc vào nguồn vốn trong nước. Quá trình thẩm định của các định chế tài chính phát triển cũng góp phần kiểm chứng độc lập năng lực quản trị và kiểm soát rủi ro của ngân hàng.

Ngoài nguồn vốn, đối tác quốc tế có thể mang đến kinh nghiệm về công nghệ, quản trị và kiểm soát rủi ro, đồng thời giúp ngân hàng mở rộng quan hệ với các đối tác, thị trường và khách hàng nước ngoài.

Hiện có hơn chục ngân hàng ghi nhận tỷ lệ sở hữu nước ngoài dưới 5%, trong đó có Nam A Bank, BVBank, VietBank, VietABank, Bac A Bank và KienlongBank. Đây là nhóm có thể thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài khi nhu cầu tăng vốn chủ sở hữu của các ngân hàng ngày càng rõ nét. Tuy nhiên, dư địa sở hữu tạo cơ hội để hai bên bắt đầu đàm phán, nhưng chưa đủ để một thương vụ thành hình.

Có thể bạn quan tâm