Trang chủ Trung du và miền núi Bắc Bộ Đồng bằng sông Hồng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ Tây Nguyên Đông Nam Bộ Đồng bằng sông Cửu Long

Số hóa nghề cá: “Ngư cụ” mới của ngư dân Quảng Ngãi

Biển Quảng Ngãi vẫn mênh mông, nhưng cách ngư dân bước vào mỗi chuyến ra khơi đã khác. Trên những con tàu đánh bắt xa bờ, bên cạnh máy Icom, máy dò cá, giờ đây xuất hiện thêm một “ngư cụ” mới: điện thoại thông minh – nơi lưu giữ hồ sơ điện tử, nhật ký khai thác và tín hiệu giám sát hành trình.

Ngư dân Quảng Ngãi khai báo xuất nhập bến, ghi nhật ký khai thác chỉ bằng vài thao tác trên điện thoại thông minh.
Ngư dân Quảng Ngãi khai báo xuất nhập bến, ghi nhật ký khai thác chỉ bằng vài thao tác trên điện thoại thông minh.

Chuyển đổi số đang đi vào nghề cá không bằng khẩu hiệu, mà bằng những thay đổi cụ thể, trực tiếp chạm tới đời sống ngư dân.

Tại cảng An Hải (Lý Sơn), thuyền trưởng Nguyễn Văn Tư, người có hơn 20 năm bám biển, hoàn tất thủ tục xuất bến chỉ với vài thao tác trên điện thoại. “Hồi trước, mỗi lần ra khơi là lo đủ thứ giấy tờ, thiếu cái nào là phải chạy đi chạy lại. Giờ làm trên máy, nhanh gọn hơn, tụi tôi chỉ tập trung chuẩn bị chuyến biển cho đàng hoàng,” ông nói.

Những năm gần đây, Quảng Ngãi triển khai đồng bộ hồ sơ tàu cá điện tử, nhật ký khai thác điện tử và thiết bị giám sát hành trình. Với ngư dân, lợi ích dễ thấy nhất là tiết kiệm thời gian, giảm phiền hà. Nhưng sâu xa hơn, đó là bước chuyển từ nghề cá dựa chủ yếu vào kinh nghiệm sang nghề cá dựa trên dữ liệu.

Không ít ngư dân từng e dè với công nghệ. Thuyền trưởng Lê Văn Hùng, chủ tàu cá ở xã Đông Sơn, nhớ lại: “Lúc mới dùng nhật ký điện tử, tôi sợ bấm nhầm, không biết ghi cho đúng. Nhưng được cán bộ hướng dẫn vài chuyến là quen. Giờ không ghi thì thấy thiếu, vì có số liệu rõ ràng, bán cá cũng dễ giải thích nguồn gốc hơn”.

Ở góc độ quản lý, chuyển đổi số đang giúp siết chặt kỷ cương nghề cá theo cách mềm dẻo hơn. Thượng úy Cao Mạnh Long, Trạm trưởng Kiểm soát Biên phòng An Hải (Đồn Biên phòng Lý Sơn) cho biết: “Các phần mềm của Cục Thủy sản cho phép chúng tôi kiểm tra tín hiệu giám sát hành trình. Hệ thống quản lý tàu cá của Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã tích hợp thủ tục phương tiện, thuyền viên, giúp giải quyết nhanh chóng, chính xác, tránh phiền hà cho chủ tàu”.

Theo lực lượng biên phòng, việc số hóa và liên thông dữ liệu giúp kiểm soát tàu cá hiệu quả hơn, đặc biệt trong phòng ngừa vi phạm vùng biển nước ngoài – một trong những nguyên nhân dẫn tới khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).

Ngư dân hiểu rất rõ rủi ro ấy. Ông Nguyễn Văn Tư nói thẳng: “Đi biển mà lỡ vượt ranh giới là coi như mất cả chuyến. Giờ có máy giám sát, mình biết tàu đang ở đâu, gần ranh giới là quay đầu liền, yên tâm hơn nhiều.”

Chuyển đổi số vì thế không chỉ là yêu cầu từ phía quản lý, mà dần trở thành nhu cầu tự thân của ngư dân. Khi nhật ký khai thác được ghi nhận đầy đủ, sản phẩm thủy sản có thể truy xuất nguồn gốc rõ ràng – điều kiện ngày càng quan trọng để thủy sản Việt Nam giữ thị trường xuất khẩu, trong bối cảnh nỗ lực gỡ “thẻ vàng” IUU.

Ở làng biển, công nghệ còn kéo gia đình ngư dân lại gần hơn với những chuyến khơi xa. Chị Trần Thị Sương, vợ một thuyền trưởng tàu cá cho biết: “ Tôi thường theo dõi hành trình tàu của chồng qua thiết bị giám sát. Thấy tàu đi đúng vùng là mình yên tâm. Gần ranh giới là gọi điện nhắc liền”.

Từ thực tiễn ở Quảng Ngãi cho thấy, chuyển đổi số trong nghề cá không phải câu chuyện xa vời, bắt đầu từ việc giảm một tờ giấy, rút ngắn một thủ tục, tăng thêm một lớp an toàn. Khi ngư dân hiểu và tin vào giá trị của dữ liệu, công nghệ không còn là áp lực, mà trở thành điểm tựa để giữ nghề, giữ biển và giữ sinh kế bền vững.