Xu hướng nợ công

Năm 2023, dự kiến cả vay và trả nợ Chính phủ đều sẽ thấp hơn kế hoạch và dự toán đề ra. Tuy nhiên, trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế giảm sút, chi phí vốn cao hơn trước đây… rất có thể trong thời gian tới chúng ta phải tăng vay để trả nợ gốc.
Các dự án đầu tư công đã góp phần cải thiện hạ tầng giao thông. Ảnh: BẮC SƠN
Các dự án đầu tư công đã góp phần cải thiện hạ tầng giao thông. Ảnh: BẮC SƠN

Chỉ tiêu nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ/tổng thu ngân sách (NSNN) năm 2024 có xu hướng tăng nhanh và tiệm cận mức trần theo Nghị quyết của Quốc hội.

Nợ công đang trong ngưỡng an toàn

Chiều 23/10, tại kỳ họp thứ sáu Quốc hội khóa XV, Bộ trưởng Tài chính Hồ Đức Phớc đã trình bày Báo cáo đánh giá giữa nhiệm kỳ thực hiện Kế hoạch tài chính quốc gia và vay, trả nợ công 5 năm giai đoạn 2021-2025.

Về tình hình vay, trả nợ của Chính phủ, Bộ trưởng Tài chính cho biết, giai đoạn 2021-2023, các chỉ tiêu an toàn nợ từng năm bảo đảm trong các mức trần và ngưỡng an toàn được Quốc hội phê duyệt.

Cụ thể, năm 2023, Quốc hội phê chuẩn tổng mức vay của ngân sách trung ương (NST.Ư) là 621.015 tỷ đồng và phê duyệt vay về cho vay lại vốn vay ODA, ưu đãi nước ngoài của Chính phủ là 23.394 tỷ đồng.

Để thực hiện nhiệm vụ huy động vốn, Chính phủ đã triển khai công tác huy động vốn từ các nguồn vay trong nước và vay ODA, vay ưu đãi từ các nhà tài trợ nước ngoài. Dự kiến nhu cầu huy động cả năm 2023 ước đạt 604.379 tỷ đồng (bằng 93,8% kế hoạch), trong đó vay về cho vay lại là 14.626 tỷ đồng (62,5% kế hoạch).

Tổng trả nợ của Chính phủ năm 2023 ước đạt 311.537 tỷ đồng, trong đó trả nợ trực tiếp ước là 279.742 tỷ đồng, bằng 95,3% dự toán; trả nợ vay nước ngoài về cho vay lại ước đạt 31.795 tỷ đồng, bằng 93,8% kế hoạch. Chỉ tiêu nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với thu NSNN khoảng 20-21%.

“Việc trả nợ của Chính phủ năm 2023 được thực hiện đầy đủ theo cam kết, trong phạm vi dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt”, Bộ trưởng Tài chính khẳng định.

Trong năm 2024, Chính phủ dự kiến tổng nhu cầu vay là 676.057 tỷ đồng, bao gồm: vay bù đắp bội chi NSTƯ là 372.900 tỷ đồng (chiếm 55,16%); vay để trả nợ gốc của NSTƯ khoảng 287.034 tỷ đồng (chiếm 42,46%); vay về cho vay lại là 16.123 tỷ đồng (chiếm 2,38%).

Với dự kiến vay, trả nợ của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ của chính quyền địa phương và nợ nước ngoài tự vay, tự trả của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng như trên, trong trường hợp tăng trưởng GDP tích cực đạt chỉ tiêu Quốc hội giao, dự báo đến cuối năm 2024, dư nợ công khoảng 39-40% GDP, nợ Chính phủ khoảng 37-38% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia khoảng 38-39% GDP; chỉ tiêu nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với thu NSNN khoảng 24-25%, bảo đảm trong mức trần, ngưỡng được Quốc hội cho phép.

Xu hướng phải tăng vay để trả nợ gốc

Trình bày báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội Lê Quang Mạnh đánh giá cao nỗ lực của Chính phủ đã triển khai thực hiện kế hoạch vay và trả nợ năm 2023 đạt kết quả tích cực. Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế nhiều khó khăn, tốc độ tăng thu ngân sách nhà nước chậm lại, trong khi nhu cầu chi tiêu đầu tư để thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế tăng khá lớn.

Cụ thể, năm 2023, Chính phủ dự kiến nhu cầu huy động ước đạt 604.379 tỷ đồng (bằng 93,8% kế hoạch). Trong số này, khoảng 589.000 tỷ đồng vay để trả nợ gốc NST.Ư (chiếm 32,35% cơ cấu tổng mức vay).

“Tỷ lệ này có xu hướng tăng trong năm 2024 (khoảng 42,4%) cho thấy xu hướng phải tăng vay để trả nợ gốc. Thêm vào đó là các khoản vay mới đàm phán và ký kết từ năm 2022 có lãi suất cao hơn, là thách thức lớn, đòi hỏi phải nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn vay”, Ủy ban Tài chính, Ngân sách nêu rõ.

Ủy ban Tài chính, Ngân sách dự báo nợ công 2024 khoảng 39-40% GDP trong trường hợp tăng trưởng GDP tích cực. Cùng đó, nợ Chính phủ 37-38% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia 38-39% GDP; nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với thu ngân sách 24-25%.

Dù khẳng định, các chỉ tiêu này trong mức trần Quốc hội cho phép, song Ủy ban Tài chính, Ngân sách cho rằng, số tuyệt đối và tỷ lệ vay để trả nợ gốc có xu hướng tăng. Theo đó, nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với thu NSNN năm 2024 khoảng 24-25%, tiệm cận mức trần theo Nghị quyết của Quốc hội, trong khi đây đã là “dự kiến trong trường hợp tăng trưởng GDP tích cực, đạt chỉ tiêu Quốc hội giao”; tỷ lệ này trong các năm 2021-2023 đều ở mức thấp hơn 22%.

Vì vậy, Ủy ban Tài chính, Ngân sách đề nghị Chính phủ đánh giá kỹ, phân tích nguyên nhân để có giải pháp điều hành cân đối ngân sách, bảo đảm an toàn nợ công.

“Chính phủ cần dành nguồn tăng thu để tăng chi trả nợ gốc, tăng cường quản lý để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay; quản lý chặt chẽ huy động, sử dụng các khoản vốn vay bù đắp bội chi và trả nợ gốc ngân sách. Cùng với đó là phát hành trái phiếu Chính phủ gắn với khả năng giải ngân chi, trả nợ gốc của NSNN”, Ủy ban Tài chính, Ngân sách góp ý.

Đối với các dự án sử dụng vốn ODA và vay ưu đãi nước ngoài, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội Lê Quang Mạnh đề nghị Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương xem xét nghiêm túc, đánh giá toàn diện về: Nguyên nhân bất cập, vướng mắc kéo dài; hiệu quả của các dự án; tính hợp lý của phương án huy động vốn; trách nhiệm trong huy động, phân bổ, sử dụng vốn ODA... để đề xuất giải pháp thiết thực, xử lý dứt điểm các hạn chế, vướng mắc kéo dài, bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn vay.

Tăng thu từ thúc đẩy hoạt động sản xuất

PGS, TS Đinh Trọng Thịnh, giảng viên Học viện Tài chính cho biết, vào năm 2021, nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ khoảng 368.276 tỷ đồng, chủ yếu là trả nợ trong nước với khoảng 323.093 tỷ đồng, bằng khoảng 27,4% thu ngân sách (đã vượt ngưỡng Quốc hội đề ra). Trong bối cảnh đó, để giảm chỉ tiêu này về ngưỡng an toàn, Việt Nam đã đẩy mạnh nguồn thu ngân sách từ cổ phần hóa DNNN, thuế đất và phát hành trái phiếu trong nước.

“Việc quản lý nợ vay của Chính phủ được thực hiện một cách bài bản, đúng mong muốn của Quốc hội và của các nhà quản ký kinh tế. Trong đó, nhiều chỉ tiêu vay và trả nợ đều cách xa ngưỡng cảnh báo. Đây là một điểm sáng trong quản lý vốn, cũng như quản lý kinh tế của Nhà nước”, ông Thịnh đánh giá.

Từ năm 2021 đến nay, để huy động đủ nguồn lực cho bội chi NSNN theo dự toán NSNN và bổ sung cho chương trình phục hồi, Chính phủ linh hoạt sử dụng các công cụ phù hợp, kết hợp huy động nguồn lực trong và ngoài nước, chủ yếu huy động từ phát hành trái phiếu chính phủ, vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài và các nguồn tài chính hợp pháp khác. Trong đó, huy động vốn vay trong nước trở thành chủ đạo, vốn vay nước ngoài giảm dần trong cơ cấu vay của Chính phủ.

“Đây là các nguồn lực quan trọng cho đầu tư phát triển, để thực hiện đột phá chiến lược về phát triển kết cấu hạ tầng, an sinh xã hội, biến đổi khí hậu và phát triển bền vững”, ông Thịnh nhìn nhận.

Tuy vậy, dù chín tháng năm 2023, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công đạt cao nhất từ trước tới nay, lần đầu vượt ngưỡng 50% song vẫn còn không ít bất cập, trong đó giải ngân nguồn vốn vay ODA và vay ưu đãi nước ngoài luôn trong trạng thái ì ạch, gây quan ngại về hiệu quả sử dụng đồng vốn vay.

“Khi các khoản vay ODA giảm dần, Chính phủ phải huy động các khoản vay mới với ưu đãi kém hơn, lãi suất sát thị trường hơn để bù đắp thì nghĩa vụ trả nợ trực tiếp so với tổng thu NSNN có xu hướng tăng, áp lực trả nợ công vẫn rất lớn”, ông Thịnh nêu rõ.

Cùng với đó, trong trung hạn từ 2025-2030, lãi suất huy động trái phiếu chính phủ có thể tăng trở lại nên cần tính toán rất cẩn trọng quy mô và thời điểm cho việc huy động trái phiếu chính phủ. Mặt khác, danh mục nợ vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhất là khi chi phí vay vốn nước ngoài cao hơn, điều kiện khắt khe hơn, trong khi quy mô thị trường trái phiếu chính phủ trong nước còn nhỏ, tiềm lực các tổ chức tài chính hạn chế.

Về giải pháp, ông Thịnh khẳng định, ngoài theo hướng vay nợ trong nước và trả nợ trong nước và giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn nước ngoài. “Chúng ta cần dồn mọi nguồn lực kết hợp cả chính sách tiền tệ và và chính sách tài khóa để hỗ trợ doanh nghiệp trong nền kinh tế hồi phục và tăng trưởng tốt nhất thì nguồn thu đem về sẽ tốt hơn”.

Có thể bạn quan tâm

Đại diện MedCAT nhận giải Vàng Giải thưởng Số ASEAN 2026. Ảnh: THỦY LINH

Việt Nam khẳng định vị thế số trong ASEAN

Hội nghị Bộ trưởng số ASEAN vừa diễn ra tại Hà Nội là một trong những dấu mốc quan trọng khi góp phần khẳng định vị thế kiến tạo và kết nối niềm tin số bền vững trong khu vực của Việt Nam.

Tư vấn các tour du lịch kèm chữa bệnh cho du khách. Ảnh: NGUYỆT ANH

Tạo dấu ấn khác biệt trên bản đồ du lịch

Trong xu hướng du lịch toàn cầu hướng tới chăm sóc sức khỏe và phục hồi tinh thần, Việt Nam đang đứng trước cơ hội tạo dấu ấn khác biệt trên bản đồ du lịch thế giới bằng những sản phẩm du lịch chữa lành gắn với thiên nhiên, văn hóa và y học bản địa.

Tỷ lệ năng lượng tái tạo trở thành điều kiện trong quá trình thẩm định đơn hàng. Ảnh: NAM ANH

Khi điện xanh quyết định đơn hàng

Điện xanh đang trở thành điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam giữ đơn hàng và vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhưng khoảng cách giữa nơi sản xuất điện và nơi tiêu thụ, cùng các điểm nghẽn truyền tải, đang là lực cản lớn.

Nâng nền thanh khoản

Giá trị giao dịch (GTGD) trên sàn HoSE tiếp tục được củng cố khi đã có nhiều phiên đạt trên ngưỡng 30.000 tỷ đồng. Thống kê trong 10 phiên giao dịch gần nhất (tính đến ngày 21/1), đã có 9 phiên GTGD đạt trên ngưỡng 30.000 tỷ đồng, trong đó có phiên 14/1 lên đến hơn 42.000 tỷ đồng.

Lượng lớn nông sản thực phẩm của Việt Nam đạt tiêu chuẩn vệ sinh ATTP phù hợp với chứng nhận Halal. Ảnh: NAM HẢI

Khơi mở tiềm năng thị trường UAE

Với vị thế là một trong những trung tâm thương mại Halal hàng đầu thế giới, Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) đang mở ra cơ hội lớn cho doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực xuất khẩu sản phẩm Halal.

Xu hướng mới

SpayLater (viết tắt của ShopeePay Later), MWG PayLater (MWG là mã chứng khoán trên sàn của Thế giới di động), ví trả sau Momo… là các dịch vụ mua trước, trả sau trên các hệ thống bán lẻ hoặc ứng dụng tài chính công nghệ lớn nhất tại Việt Nam hiện nay là Shopee, Thế giới di động, Ví điện tử MoMo…

Dư địa lợi nhuận thu hẹp do chi phí, các doanh nghiệp tối ưu hóa quản trị để giữ năng lực cạnh tranh. Ảnh: NAM ANH

Độ trễ giá và áp lực chi phí phía trước

Tăng trưởng kinh tế năm 2025 bật lên ở mức 8,02%. Mặt bằng giá tiêu dùng vẫn được giữ trong kiểm soát. Nhưng phía sau sự ổn định ấy, chi phí sản xuất đã đi trước một nhịp.

Phối cảnh nhà máy chế tạo chip bán dẫn đầu tiên tại Việt Nam sau khi hoàn thiện. Ảnh: VIETTEL

Kiến tạo hệ sinh thái bán dẫn

Bán dẫn được xác định là công nghệ chiến lược của Việt Nam. Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần các cơ chế hỗ trợ toàn diện, không chỉ dừng ở ưu đãi đầu tư.

Việt Nam duy trì đà xuất khẩu, tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do và năng lực thích ứng linh hoạt. Ảnh: K.MINH

Tái thiết mục tiêu thương mại năm 2026

Năm 2025, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt 930,05 tỷ USD, tăng gần 18,2% - mức cao nhất từ trước tới nay. Thành tích này càng đáng chú ý trong bối cảnh kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm và thương mại phân mảnh.

Nhiều doanh nghiệp châu Âu quan tâm lớn tới thị trường Việt Nam. Ảnh: NAM ANH

Khi niềm tin kinh doanh trở lại

Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) vừa công bố chỉ số Niềm tin kinh doanh (Business Confidence Index – BCI) quý IV/2025 đạt 80 điểm, mức cao nhất trong bảy năm qua.

Mặt bằng tổng thể dự án Sơn Mỹ II.

Loạt dự án điện trọng điểm tại Lâm Đồng chờ gỡ vướng

Quá trình triển khai thực hiện các dự án năng lượng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng ghi nhận hàng loạt khó khăn liên quan nhiều bộ, ngành và lĩnh vực khác nhau. Điển hình trong số này là nhóm ba dự án gồm nhiệt điện BOT Sơn Mỹ I, Sơn Mỹ II và kho cảng LNG Sơn Mỹ.

Tín dụng bất động sản có thể tạo lực đẩy cho thị trường trong ngắn hạn. Ảnh: NAM ANH

Ngân hàng vào khuôn tín dụng mới

Ngân hàng Nhà nước đang chuyển sang điều hành tín dụng thận trọng và kỷ luật hơn, kiểm soát nhịp tăng ngay từ đầu năm và siết cho vay bất động sản để ngăn rủi ro tăng nóng, bảo đảm ổn định thị trường.

Cẩn trọng với sức mua cao

Sức mua cao không phải là sản phẩm phổ biến trên thị trường chứng khoán và cũng chỉ giới hạn ở một số mã chứng khoán. Nhưng với mỗi cá nhân nhà đầu tư (NĐT), sử dụng công cụ này luôn là "con dao hai lưỡi".

Ngành tốt cần vận hành tốt

Trong đầu tư kinh doanh, việc lựa chọn được ngành nghề tốt, có tiềm năng tăng trưởng, là yếu tố quan trọng, nhưng mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ ở đây chính là khả năng vận hành cùng các chiến lược linh hoạt trong cả ngắn lẫn dài hạn.

Dự án đường dây 500 kV mạch 3 từ Quảng Trạch đến Phố Nối. Ảnh: TRẦN HẢI

Giá điện trước ngưỡng thị trường cạnh tranh

Dự thảo lộ trình thị trường điện cạnh tranh đang gây ra một số băn khoăn về giá điện và an ninh năng lượng. Khác biệt quan điểm giữa Bộ Công thương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho thấy quá trình cải cách sẽ không đơn giản.

Người tiêu dùng cẩn trọng với các loại thực phẩm được lưu thông trên thị trường. Ảnh: NGUYỆT ANH

An toàn thực phẩm và niềm tin thị trường

Khi ngày càng nhiều vụ việc vi phạm an toàn thực phẩm được phát hiện, người tiêu dùng mới bàng hoàng nhận ra niềm tin bị đặt nhầm chỗ suốt thời gian dài. Nỗi lo an toàn thực phẩm đang trở thành phép thử đối với hiệu quả quản lý nhà nước.

Các đại biểu tham dự hội thảo tại Báo Nhân Dân. Ảnh: TRẦN SƠN HẢI

Khi nghị quyết bước vào thực tiễn tăng trưởng

Nghị quyết 57 và 68 mở ra con đường phát triển tất yếu của đất nước. Thách thức không nằm ở chủ trương, mà ở năng lực tổ chức thực hiện (kỷ luật thực thi), khả năng biến nghị quyết thành năng suất và kết quả cụ thể, qua đó kiểm nghiệm năng lực của hệ thống trước thềm Đại hội XIV.

Nghị quyết xác định kinh tế nhà nước là thành phần đặc biệt quan trọng của nền kinh tế thị trường. Ảnh: HẢI NAM

Kiến tạo những "sếu đầu đàn"

Nghị quyết 79 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển kinh tế nhà nước, hướng tới kiến tạo những “sếu đầu đàn” đủ tầm vóc, năng lực và sức lan tỏa cho tăng trưởng dài hạn.

Công ty TNHH Rhythm Việt Nam (Hà Nội), doanh nghiệp Nhật Bản chuyên sản xuất linh kiện chính xác, khuôn đúc, bảng mạch điện tử. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Việt Nam trước ngã rẽ thu hút đầu tư thế hệ mới

Việt Nam ghi nhận kỷ lục mới về giải ngân vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong vòng 5 năm qua, đạt 27,62 tỷ USD, trong khi tổng vốn đăng ký vượt mốc 38 tỷ USD. Sau khi hoàn thành "sứ mệnh lịch sử" trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, khu vực FDI đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi vai trò.

Các cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể là đối tượng được mở rộng thu thập thông tin điều tra. Ảnh: NAM NGUYỄN

Đặt nền dữ liệu cho chu kỳ phát triển kinh tế tiếp theo

Từ hộ kinh doanh đến doanh nghiệp lớn, từ sản xuất truyền thống đến kinh doanh số, tất cả đều được “điểm danh” trong Tổng điều tra kinh tế năm 2026. Dữ liệu thu thập sẽ trở thành nền tảng quan trọng cho hoạch định chính sách và điều hành kinh tế giai đoạn mới.

Mã định danh điện tử được kỳ vọng sẽ giúp giảm đáng kể rủi ro trong giao dịch bất động sản. Ảnh: NAM ANH

Mở đường cho bất động sản lên sàn

Các chuyên gia cho rằng, hệ thống định danh bất động sản có thể giúp loại hình tài sản này giao dịch như chứng khoán trên một sàn tập trung cho Nhà nước quản lý.

Chăm sóc vườn dưa lưới tại Lâm Đồng. Ảnh: NGUYỆT ANH

Ngành nông nghiệp đặt lại thước đo tăng trưởng

Theo Thứ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến, trọng tâm của ngành năm 2026 không chỉ là tăng trưởng, mà là phải tăng trưởng có chất lượng, bền vững và có khả năng chống chịu trước biến động toàn cầu.

Bùng nổ có chọn lọc

Ngay trong những ngày đầu năm 2026, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đã có những diễn biến ấn tượng khi tăng mạnh cả về điểm số lẫn giá trị giao dịch (GTGD). Tính từ ngày 29/12/2025 đến 7/1/2026, thị trường đã có sáu phiên tăng liên tiếp, đưa VN-Index tăng khoảng 130 điểm, từ mức 1.690 điểm lên gần 1.820 điểm, xấp xỉ 8%.

Các chuyên gia trong và ngoài nước trao đổi ý kiến tại một diễn đàn nghiên cứu khoa học. Ảnh: SONG ANH

Thêm “bệ đỡ” cho doanh nghiệp Việt

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, cạnh tranh thương mại ngày càng gay gắt, yêu cầu đa dạng hóa thị trường, nâng cao giá trị gia tăng, xây dựng thương hiệu quốc gia đặt ra càng cấp thiết, hoạt động xúc tiến thương mại (XTTM) khẳng định rõ hơn vai trò làmột trong những “mũi nhọn” phát triển ngoại thương.

Nhanh hơn và to hơn

Ra đời khoảng một thập kỷ, nhưng Bách Hóa Xanh (BHX) mới có lãi từ quý II/2024 và bùng nổ số lượng cửa hàng trong hơn một năm qua. Sự chuyển mình của BHX có thể nói là vừa hay và vừa may.

Công ty cổ phần Giày Thượng Đình (mã GTD) tổ chức phiên đấu giá hơn 6,38 triệu cổ phần vào giữa tháng 12/2025. Ảnh: NAM ANH

Biến động trong hoạt động thoái vốn nhà nước

Nhóm doanh nghiệp niêm yết có vốn nhà nước đang được giới chuyên gia kỳ vọng trở thành tâm điểm năm 2026, khi nhà đầu tư không còn kỳ vọng vào một cú “đánh lên” ngắn hạn, hay “mác" nhà nước mà hướng tới giá trị quản trị.

Người dân được tiếp cận hệ thống sao chép và cung cấp bản xác thực điện tử tại trung tâm hành chính công. Ảnh: NAM ANH

Chuyển đổi số thực chất

Chuyển đổi số đang từng bước mang lại nhiều tiện ích cho người dân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, vẫn còn những yêu cầu phải đổi mới tư duy quản trị, hoàn thiện thể chế và thu hẹp khoảng cách số để người dân thật sự trở thành trung tâm của phát triển.