Tiếng chiêng mang hồn núi

Với người Pa Kô, Vân Kiều trên đỉnh Trường Sơn, chiêng chưa bao giờ chỉ vang lên trong những ngày hội. Tiếng chiêng tiễn người về với núi, gọi người trở về với buôn làng, nối ký ức của người già với bước chân của lớp trẻ. Nghệ nhân dân gian Kôn Hơm (xã Tà Rụt, Quảng Trị) nói: Giữ được tiếng chiêng giữa đại ngàn là giữ lại một phần ký ức, hồn cốt của những bản làng nơi miền Tây Quảng Trị này.

Tiếng chiêng không thể thiếu trong lễ cúng thần của người Pa Kô ở Quảng Trị.
Tiếng chiêng không thể thiếu trong lễ cúng thần của người Pa Kô ở Quảng Trị.

Mỗi chiếc chiêng có phận đời riêng

Trong căn nhà của nghệ nhân Kôn Hơm ở xã Tà Rụt (Quảng Trị), một chiếc cồng và sáu chiếc chiêng nằm lặng lẽ bên nhau, qua bao biến thiên thời cuộc.

“Những chiếc chiêng này, có chiếc kế thừa từ tổ tiên, có chiếc tôi mua thêm. Mỗi chiếc có một nhiệm vụ. Trong đó, ba chiếc dành để đánh khi có người trong dòng họ hoặc cộng đồng qua đời. Hai chiếc thường được sử dụng khi tiếp đón khách quý, đón thông gia. Chiếc còn lại chỉ dùng làm lễ vật để thờ cúng. Cùng là cồng, chiêng, nhưng không phải lúc nào cũng có thể cất tiếng. Mỗi âm thanh gắn với một sự kiện, một nghi lễ, một mối quan hệ giữa con người với cộng đồng, với người đã khuất và với thế giới thần linh. Đối với người Pa Kô, mỗi khi có lễ cúng và tổ chức lễ hội thì nhất thiết phải có tiếng cồng, tiếng chiêng, tiếng khèn và âm thanh của các loại nhạc cụ truyền thống để tạo nên không khí vui vẻ, sum họp, đầm ấm trong bản làng”, nghệ nhân Kôn Hơm tâm sự.

Già làng Kôn Bắt ở Tà Rụt cũng đang lưu giữ bốn chiếc chiêng và ba chiếc cồng. “Trong số này, có chiếc ngày trước cha ông phải mua bằng một nén bạc trắng, có chiếc phải đổi bằng một con trâu đực. Tiếng chiêng là tiếng vọng của quá khứ giữa đại ngàn, kết nối giữa quá khứ với hiện tại và tương lai, giúp con người tìm về nguồn cội và giữ gìn phong tục tập quán từ bao đời. Mỗi khi tổ chức lễ A Riêu Ping, chúng tôi lại đánh chiêng, đánh cồng để không khí thêm náo nhiệt, mọi người sẽ cùng nhau nhảy múa. Đó là phong tục từ đời cha ông để lại”, già làng Kôn Bắt nói. Cồng chiêng đến với các bản làng vùng cao từ những chuyến đi của thương nhân. Vốn là sản phẩm của những làng nghề đúc đồng truyền thống của người Kinh, những nhạc cụ ấy theo thời gian đã bước vào đời sống của người Pa Kô, Vân Kiều và được cộng đồng tiếp nhận, sử dụng theo cách riêng. Cồng, chiêng, vì thế trở thành tiếng nói của cộng đồng, là tiếng gọi trong lễ hội, tiếng tiễn đưa người đã khuất, tiếng đón khách quý và cũng là âm thanh dùng để giao tiếp với thần linh, tổ tiên. Tiếng cồng, tiếng chiêng trở thành một thứ ngôn ngữ đặc biệt. Nghe tiếng chiêng, người trong cộng đồng có thể hiểu điều gì đang diễn ra.

Nhịp cầu nối những miền thế giới

Có những người đã rời khỏi cuộc đời từ nhiều năm trước, nhưng trong ký ức của các gia đình Vân Kiều, họ chưa bao giờ thật sự đi xa. Sau khi người thân được gửi lại nơi rừng ma, người sống không bước chân vào đó để thăm viếng mộ phần. Nhưng, nỗi nhớ về người đã khuất vẫn được giữ lại trong gia đình, trong dòng họ. Đến một thời điểm thích hợp, có khi mười năm, có khi hai mươi năm sau, con cháu tổ chức lễ Ra-pưp giỗ để gọi người đã khuất trở về dự lễ.

Ông Hồ Văn Pu ở Hướng Lập chia sẻ: “Phần quan trọng của lễ Ra-pứp giỗ là mời gọi và chào đón linh hồn người đã khuất trở về với gia đình. Trong khoảnh khắc ấy, tiếng trống, tiếng chiêng vang lên hối hả, ngân dài. Người đã khuất được tiếng chiêng gọi về với gia đình, với những người thân mà khi còn sống họ từng gắn bó. Sau những ngày lễ, khi nghi thức khép lại, những người thân trong dòng họ lại chia tay, tiễn linh hồn người chết trở về nơi yên nghỉ dưới những tán rừng già, cũng bằng những tiếng chiêng”.

Ông Pu cũng bảo, người Vân Kiều còn có lễ Ra-pứp khơi-cu-ya. Nghi lễ ấy như chiếc chìa khóa mở ra những chặng đời mới. “Âm thanh tiếng chiêng trong lễ Ra-pứp khơi-cu-ya thường chậm rãi, nhịp điệu thong thả, nhẹ nhàng như ngày hội đoàn viên. Chừng nào chưa làm lễ, con cháu của ba dòng họ có quan hệ huyết thống với gia đình chủ lễ chưa thể dựng vợ, gả chồng; chủ lễ cũng chưa được phép cất một ngôi nhà mới”. Theo các già làng, trong phong tục của người Vân Kiều, một đời người thường gắn với những lễ lớn như cưới, lễ Rađong rồi đến lễ Ra-pứp. Đó là những dịp anh chị em trong gia đình, họ hàng và phía thông gia cùng tập trung gặp mặt. Tiếng cồng, tiếng chiêng trong những ngày ấy vừa nối con người với thần linh, tổ tiên, vừa nối những người đang sống với nhau. Nó gọi họ hàng về một mái nhà, gọi những người xa quê trở lại và kéo những ký ức tưởng như đã lùi xa trở lại với đời sống hiện tại.

Nỗ lực giữ lại nét văn hóa đặc sắc

Trong ký ức của các già làng, những đám chay ngày trước luôn có tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng thanh la và những điệu nhảy của cộng đồng. Người Bru - Vân Kiều tổ chức những đám lớn, dựng rạp, bà con từ nhiều nơi tìm về. Những thanh âm ấy từng là một phần tự nhiên của những ngày quan trọng trong đời sống bản làng. Rồi chiến tranh đi qua, những năm tháng cuộc sống khó khăn kéo dài, những bộ cồng, chiêng thất tán. Số chiêng còn lại có khi lâu ngày không được sử dụng, dần sai âm, lạc điệu.

Ông Hồ Văn Tỉu ở xã Hướng Lập nói: “Lo nhất là khi chiếc chiêng vẫn còn đó nhưng người biết sử dụng ngày một ít; khi người trẻ có thể nghe thấy tiếng chiêng nhưng không còn hiểu vì sao trong nghi lễ này phải đánh như thế, trong một dịp khác lại phải đánh theo một nhịp khác. Nếu không còn người biết sử dụng, không còn người hiểu ý nghĩa của từng tiếng chiêng, không còn người trẻ tiếp nhận, thì chiếc chiêng dù vẫn còn đó cũng khó có thể sống trong đời sống cộng đồng. Bởi thế, phải giữ lấy tiếng chiêng”.

Sau những năm tháng chiến tranh và biến động của đời sống, nhiều già làng bắt đầu đi tìm lại cồng, chiêng. Không ít người dành thời gian, công sức để sưu tầm từng chiếc, với mong muốn giữ lại chút hồn cốt văn hóa truyền thống cho thế hệ sau. Già Hồ Văn Sơn ở xã Lìa chậm rãi kể: “Tôi từng có nhiều năm vượt rừng tìm vào Huế, thậm chí vượt đèo Hải Vân vào tận vùng Quảng Nam - Đà Nẵng để tìm mua những chiếc cồng, chiếc chiêng sao cho vừa ý. Những chuyến đi ấy không chỉ là hành trình tìm kiếm một món đồ cổ hay một nhạc cụ, mà quan trọng hơn là níu lại một phần ký ức của cộng đồng”.

1789293174191-9210316807477064121-9210316807477064121-cb27d755cff93a90e1367d734b675778.jpg
Câu lạc bộ Cồng, chiêng thôn Cù Bai (xã Hướng Lập) được thành lập nhằm giữ gìn nét văn hóa truyền thống.

Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện ở xã Tà Rụt ước tính có hơn 200 chiếc cồng, chiêng được người dân lưu giữ. Đáng mừng hơn, ở xã Hướng Lập, người dân đã thành lập Câu lạc bộ cồng, chiêng. Để duy trì đội, họ bàn bạc với già làng, tìm cách sưu tầm lại cồng, chiêng, đồng thời kết nối những người cùng chung mong muốn gìn giữ bản sắc. Anh Hồ Văn Đươn, một thành viên Câu lạc bộ cho biết: “Cồng, chiêng từng bị mai một trong chiến tranh. Nay người dân tìm cách sưu tầm lại. Các thành viên Câu lạc bộ ai cũng nhiệt tình, hăng hái bởi họ hiểu cồng, chiêng gần gũi với đời sống và gắn với phong tục tập quán của cộng đồng”.

Nhìn đôi bàn tay chai sần của những già làng mân mê trên những mặt chiêng bằng đồng đã đi qua bao nắng mưa mùa rẫy, người viết hình dung ra thanh âm ấy đã, đang và sẽ tiếp tục vượt qua những triền núi Trường Sơn, kết nối các thế hệ và nối ký ức với hiện tại. Để giữa đại ngàn, tiếng chiêng không chỉ vọng về từ quá khứ mà còn có thể tìm được đường đi tới ngày mai. Nghệ nhân Kray Sức - một người dành trọn tâm huyết đời mình nghiên cứu văn hóa đồng bào Pa Kô, Vân Kiều trên dãy Trường Sơn, Quảng Trị nhìn nhận: “Muốn bảo tồn và lưu truyền cồng, chiêng thì trước hết phải biết về nó, rồi phải hiểu nó. Sau đó phải tìm cách để lớp trẻ được tiếp cận với cồng, chiêng... Nếu các bạn trẻ thích thì họ sẽ yêu và có thể bảo tồn. Chừng nào những chiếc chiêng ấy còn có người hiểu, có người đánh, có người nghe và có người muốn trao lại cho thế hệ sau, thì tiếng chiêng giữa đại ngàn vẫn chưa thể mất đi”...

Những bản làng nằm giữa núi rừng Trường Sơn có thể bị ngăn cách bởi những dãy núi và khe suối, nhưng trong những ngày lễ, người ta chắc chắn sẽ tìm về. Nghi lễ truyền thống, vì thế, không chỉ là phong tục mà còn tạo ra cơ hội để cộng đồng gặp nhau, nhận ra nhau và cùng nhớ về với những điều đã làm nên bản sắc quê hương mình.

Có thể bạn quan tâm

Sản phẩm xuồng, ghe mi-ni người dân đóng bán cho du khách.

Mùa nước nổi ở làng nghề đóng xuồng trăm tuổi

Chúng tôi men theo các cánh đồng ngập nước tỉnh Đồng Tháp. Thỉnh thoảng xuất hiện vài chiếc xuồng đi đặt dớn, giăng lưới bắt cá. Giờ đây, khi các tuyến đường nhựa, đường bê-tông ngày càng được đầu tư, mở rộng, ghe xuồng tại các nhánh sông, trên đồng cũng thưa dần.

Việc lần đầu “sân khấu hóa” lòng hồ Nà Hang với chương trình nghệ thuật thực cảnh kết hợp công nghệ và văn hóa bản địa cùng sự tham gia của người dân địa phương mở ra hướng mới trong phát triển sản phẩm du lịch cho vùng cao này.

Đánh thức “Long mạch” Nà Hang

Nà Hang (Tuyên Quang), cái tên gợi về một miền cao không còn quá xa vì cách trở địa lý, nhưng cũng chẳng thật gần bởi vẫn còn đó những vỉa tầng nguyên sơ và thu hút mà không dễ gì có thể khám phá trong một khoảng thời gian hữu hạn. Sắc màu văn hóa, cảnh quan kỳ vĩ và chút hư ảo từ truyền thuyết xưa tạo nên chất liệu quý giá để Nà Hang hôm nay kể câu chuyện riêng có theo cách thức kết nối được với thế giới.

Nhiều đoạn kênh của công trình Bắc Hưng Hải đang bị ô nhiễm nặng. Ảnh: Minh Khang

Bắc Hưng Hải - Khắc khoải ngày được hồi sinh

Những năm 60, 70 của thế kỷ trước, Bắc Hưng Hải được xây dựng, trở thành niềm tự hào của ngành thủy lợi với sứ mệnh đưa dòng nước ngọt về đánh thức những cánh đồng, góp sức làm nên những mùa vàng trù phú vùng Đồng bằng Bắc Bộ. Tiếc rằng, giờ đây dòng nước mát lành ấy đang bị ô nhiễm, nhiều đoạn chỉ còn một màu nước đen kịt, rác thải bủa vây.

Một chiếc ví phủ bùn đất, có thể chứa những manh mối vô giá về các anh hùng liệt sĩ vô danh.

Hành trình kỷ vật từ lòng đất sâu

Ngày 26/7, trưa nắng trên khu vực lô cao-su 97 (xã Minh Đức, thành phố Đồng Nai), Đại tá Nguyễn Thanh Phong, Chính ủy Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố Đồng Nai, thắp hương trước ba hầm mộ, rồi quay ra bảo: “Mong các chú các bác phù hộ cho thêm chỉ dẫn, tìm kiếm được thêm di vật, còn xác minh được danh tính đưa các liệt sĩ về với người thân”.

Nghệ nhân Lê Thị Kề (trái) hướng dẫn cách đan võng ngô đồng.

Thắp lại lửa nghề trên đảo ngọc

Cây ngô đồng, ngày càng sinh sôi, nảy nở quanh đảo Cù Lao Chàm, đã trở thành loài cây đặc hữu của xã đảo Tân Hiệp, thành phố Đà Nẵng. Song, nghề thủ công truyền thống đan võng ngô đồng, được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi tên vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, lại có thể trôi vào quá vãng, nếu không có biện pháp gìn giữ, phát huy.

Hợp tác xã Chè sạch Đông Trường Sơn hình thành vùng chè đặc sản và thay đổi diện mạo cao nguyên Kon Plông, Quảng Ngãi.

Khát vọng định danh trà Trường Sơn Đông ra thế giới

Vượt đèo Violắk, giữa mênh mang núi rừng Trường Sơn Đông, những đồi chè xanh trải dài theo triền dốc hiện ra giữa cao nguyên Kon Plông (tỉnh Quảng Ngãi). Gần tám năm gây dựng, cùng sức người bền bỉ, từ những gốc chè đầu tiên bén rễ nơi đất lạnh nay đang dần hình thành vùng chè đặc sản.

Chợ cá Tam Tiến, xã Tam Xuân nhộn nhịp nhờ nguồn lợi hải sản dồi dào. Ảnh: Anh Quân

Rạn Bà Đậu đang hồi sinh

Năm 2022, Tổ cộng đồng bảo vệ nguồn lợi thủy sản rạn Bà Đậu ở xã Tam Xuân, thành phố Đà Nẵng được thành lập theo cơ chế đồng quản lý của Luật Thủy sản 2017. Qua hơn bốn năm hoạt động, với sự tham gia chủ yếu của người dân địa phương, Tổ đã cùng chung tay bảo vệ, giữ gìn hơn 64 ha mặt nước. Nhờ thành quả ấy, đến nay, các bãi san hô nơi đây dần phục hồi và đón nhận sự trở lại cư ngụ của nhiều loại hải sản có giá trị.

Ông Hoàng Ngọc Bích bên tấm bia ghi danh sách các đồng đội ngã xuống tại chiến trường Quảng Trị. Ảnh: NVCC

Kỳ 2: Những đôi chân không mỏi

Hành trình trả lại tên tuổi cho những anh hùng, liệt sĩ hy sinh vì Tổ quốc đang được thực hiện gấp gáp, với tinh thần và trách nhiệm cao nhất. Trong nhiều năm, không ít thương, bệnh binh trực tiếp tham gia chiến đấu ở chiến trường cũng đã âm thầm tìm kiếm thông tin, kết nối, phối hợp cơ quan chức năng trả lại tên cho đồng đội, góp sức đưa hài cốt liệt sĩ về với quê hương, gia đình.

Hàng nghìn mẫu xương được bảo quản nghiêm ngặt trong phòng lưu mẫu.

Trả lại tên cho những người anh hùng

Hưởng ứng Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, những ngày này, các phòng thí nghiệm tại Trung tâm Giám định ADN thuộc Viện Sinh học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) luôn vận hành với nhịp độ khẩn trương.

Quy tập hài cốt liệt sĩ được tìm thấy tại Công viên Lê Thị Riêng (Thành phố Hồ Chí Minh).

Kỳ I: Thần tốc với tất cả tấm lòng

Hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2027), với quy mô quốc gia, “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” (Chiến dịch 500 ngày đêm) đã và đang huy động sự vào cuộc đồng bộ từ quân đội, chính quyền địa phương và sự tham gia đông đảo của các chuyên gia, nhà khoa học, cựu chiến binh, thân nhân liệt sĩ…

Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ tỉnh Tuyên Quang đang thực hiện khoan phá đá tại điểm cao 685 vào sáng 13/7/2026. Nơi đây nghi là một cửa hang bị pháo đánh sập và có khả năng vùi lấp bộ đội của chúng ta.

Tìm đồng đội dưới "Lò vôi thế kỷ"

Hơn bốn thập kỷ đã trôi qua kể từ khi nổ ra cuộc chiến tranh biên giới, hành trình tìm kiếm và quy tập hài cốt liệt sĩ tại chiến trường Vị Xuyên xưa (nay thuộc xã Thanh Thủy, tỉnh Tuyên Quang) vẫn đang được các cán bộ, chiến sĩ Đội tìm kiếm và quy tập hài cốt liệt sĩ thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Tuyên Quang (Quân khu 2) bền bỉ tiếp nối.

Đà Nẵng triển khai Chiến dịch 500 ngày đêm tại Nghĩa trang liệt sĩ Hòa Tiến.

Hành trình đưa các anh trở về đất mẹ

Tháng 7, giữa những ngày nắng như đổ lửa ở Đà Nẵng, lực lượng thu nhận mẫu sinh phẩm thân nhân liệt sĩ vẫn miệt mài làm việc tại các nghĩa trang liệt sĩ. Mỗi mẫu ADN được thu nhận là thêm một niềm hy vọng xác định danh tính các liệt sĩ còn thiếu thông tin, đưa các anh trở về với gia đình, quê hương. Đó cũng là ý nghĩa nhân văn sâu sắc của “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”, góp phần tri ân những người đã hy sinh vì Tổ quốc.

Du khách nhí bên đầm sen ở Sơn Mỹ hôm nay. Ảnh: Hạnh Đỗ

Sen trên đất lửa

Mỗi sớm hè, đầm sen ở xóm Khê Thuận (xã Tịnh Khê, tỉnh Quảng Ngãi) lại rộn rã tiếng nói, cười. Người đến chụp ảnh. Người ngồi lặng bên bờ hít hương thơm còn vấn vít hơi sương. Thi thoảng có khách đường xa ngạc nhiên hỏi vì sao giữa vùng đất cát ven biển lại có một đầm sen rộng đến vậy. Rồi bất ngờ khi biết những bông sen đang xòe cánh này chỉ cách Khu chứng tích Sơn Mỹ chừng 1 km. Hơn nửa thế kỷ trước, trên vùng đất này là tiếng súng, tiếng khóc ai oán. Hôm nay, ở nơi từng là đất chết ấy, sen đang nở.

Người dân luôn phải đối mặt tình trạng được mùa mất giá. Ảnh: THANH SANG

Trăn trở vùng xoài

Nhiều xóm làng yên bình ở các xã Cam Lâm, Suối Dầu… được bao bọc bởi sự mát xanh của những vườn xoài. Từ nhiều năm nay, xoài là thứ quả ngọt ngào mang dấu ấn riêng khi nhắc đến Khánh Hòa, nhưng hiện nay việc tiêu thụ gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống nông dân.

Hiện sản xuất của nông hộ thường nhỏ lẻ, phân tán và mang nặng tính kinh nghiệm. Ảnh: PHÚ TÂY

Hiểm họa từ “cái chết từ từ”

Có một câu hỏi, vì sao sau nhiều năm siết quản lý, thực phẩm không bảo đảm an toàn vẫn len lỏi từ ruộng đồng tới chợ, rồi xuất hiện trên mâm cơm người dân mỗi ngày?

Vẻ đẹp trầm lắng của Trí Nguyên giúp hòn đảo này được nhiều người yêu thích. Ảnh: HÀ ĐẠO

Lặng trầm Trí Nguyên

Trong các đảo ở vịnh Nha Trang, Trí Nguyên chỉ cách đất liền hơn một cây số, song hòn đảo nhỏ bình yên, giản dị này chưa bị ảnh hưởng bởi quá trình đô thị hóa. Mặc dù hoạt động du lịch đang phát triển, nhưng người dân vẫn mong gìn giữ lối ứng xử nền nã, cuộc sống bình dị và khung cảnh ôn hòa mà thiên nhiên ban tặng.

Những “bà thím” vốn tự ti nay đã tự tin giới thiệu, chia sẻ kinh nghiệm làm du lịch. Ảnh: Hợp tác xã du lịch cộng đồng Gò Cỏ

Lời của đá

Là vùng lõi của Văn hóa Sa Huỳnh - một trong ba nền văn minh cổ lớn của nước ta với niên đại hơn 2.500 năm - làng di sản Gò Cỏ (phường Sa Huỳnh, tỉnh Quảng Ngãi) mang một bí mật không được viết thành chữ,...

Hai kiện tướng Phạm Quang Thành (trái) và Đinh Đức Huy chia sẻ về nghề lái tàu. Ảnh: Diên Khánh

Tinh thần thép của tài xế hỏa xa

Người lái tàu được giao sứ mệnh là những người “cầm cương”, giúp cho mỗi hành trình dù gần hay xa được an toàn. Ngoài kinh nghiệm, sự tinh nhạy, họ phải có tinh thần thép để đối mặt với nhiều tình huống khẩn cấp.

Vẻ đẹp Lý Sơn, Quảng Ngãi. (Ảnh THÀNH ĐẠT)

QUA MIỀN CỬA BIỂN

Người ta ví miền trung nước ta như cái ban-công của bán đảo Đông Dương nhìn ra biển, nơi có tuyến hàng hải đông đúc thứ nhì thế giới.

Ông Vũ Kim Điều, chiến sĩ Điện Biên kể về trận đánh mở màn vào “cánh cửa thép Him Lam” trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Nén tâm hương dưới trời Tây Bắc

Cách trung tâm chỉ huy của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ 2,5 km về phía Đông Bắc, chính là nơi ghi dấu trận đánh mở màn của bộ đội ta trong Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh - nơi lưu dấu người đi mở cõi. (Ảnh: HÀ ANH CHIẾN)

Thành phố phía đông

Tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, trong chương trình làm việc, Quốc hội cho ý kiến để tỉnh Đồng Nai trở thành thành phố Đồng Nai. Đây là một cột mốc rất quan trọng, đáng nhớ của đất và người Đồng Nai khi hội đủ các yếu tố trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.

Các cựu tù trong một lần ra thăm Côn Đảo.

“Địa ngục trần gian” và vùng ký ức bi tráng

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trong tâm trí những cựu tù Côn Đảo (nay thuộc Đặc khu Côn Đảo, Thành phố Hồ Chí Minh) ký ức về những năm tháng đói khổ, đớn đau vì bị giam cầm, tra tấn nơi “địa ngục trần gian” vẫn còn nguyên vẹn.

Anh Duyệt chia sẻ về hành trình sưu tầm những vỏ bom lớn.

Kể chuyện hòa bình bằng kỷ vật chiến tranh

Rất nhiều người đã lặng lẽ, dày công sưu tầm các hiện vật gắn với thời “mưa bom bão đạn”. Đó không chỉ là cách gìn giữ ký ức về tinh thần của cha ông ta trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại, mà còn hướng đến giáo dục thế hệ hôm nay biết trân trọng giá trị của hòa bình.

Sinh viên Đại học Sư phạm Hà Bắc trao đổi quà lưu niệm với sinh viên Việt Nam.

Hào khí thanh xuân trên dặm dài Hành trình đỏ

“Sui, sui, sui sui sui, suiii”… Cho tới thời điểm bước lên máy bay rời khỏi Côn Minh (Trung Quốc), trong đầu tôi vẫn âm vang tiếng hô của đoàn sinh viên Việt Nam, hòa cùng những người bạn dân tộc Di. Hào sảng, gắn kết và tràn ngập tiếng cười.

Nhà giàn thế hệ đầu tiên thiết kế dạng pông-tông đóng trên bãi cạn Phúc Tần. (Ảnh tư liệu)

Nhà giàn DK1 - Biểu tượng tinh thần thép

Gần 40 năm qua, hệ thống Nhà giàn DK1 sừng sững giữa biển trời như cột mốc khẳng định chủ quyền thềm lục địa thiêng liêng của Việt Nam. Trong chuyến vượt biển trước thềm xuân, chúng tôi đã có cơ hội tìm gặp những nhân chứng để ngược thời gian trở về giai đoạn ban đầu xây dựng nên “thành đồng” trên thềm lục địa phía nam Tổ quốc.

Chiến sĩ Nhà giàn DK1/11 đón đại biểu lên thăm và làm việc.

Những bông hoa trên sóng

Các Nhà giàn DK1 (Tiểu đoàn DK1) không chỉ là pháo đài, cột mốc trên biển mà còn là biểu tượng của ý chí và lòng yêu nước. Nơi đó, mỗi chiến sĩ luôn khắc cốt ghi tâm câu nói của cha anh đi trước: “Bão tố có thể bẻ cong sắt thép nhà giàn, nhưng không thể bẻ cong ý chí người lính DK1”.