Kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng (1/10/1876 - 1/10/2026)

KHÍ CHẤT BÁO CHÍ HUỲNH THÚC KHÁNG

Bức thư cụ Huỳnh Thúc Kháng viết trước khi mất gửi Hồ Chủ tịch có câu: “Tôi bệnh nặng chắc không qua khỏi. Bốn mươi năm ôm ấp độc lập và dân chủ, nay nước đã độc lập, chế độ dân chủ đã thực hiện, thế là tôi chết hả...”.

Chí sĩ - nhà báo kiệt xuất Huỳnh Thúc Kháng, một đời Vì Nước Vì Dân.
Chí sĩ - nhà báo kiệt xuất Huỳnh Thúc Kháng, một đời Vì Nước Vì Dân.

40 năm ôm ấp độc lập và dân chủ

Nhà chí sĩ cách mạng, nhà báo Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước ở Thạnh Bình, Tiên Cảnh, Tiên Phước, thuộc tỉnh Quảng Nam (nay là thành phố Đà Nẵng), có cậu ruột là Tế tửu Quốc Tử Giám Nguyễn Đình Tựu.

Từ lúc thiếu niên, Huỳnh Thúc Kháng đã thông thuộc kinh sách, hiển tài thơ phú. 24 tuổi đỗ đầu kỳ thi Hương, 28 tuổi đỗ tiến sĩ. Không chọn con đường làm quan mà sớm thực thi lý tưởng canh tân đất nước của kẻ sĩ chân chính, ngay lúc tóc còn xanh, cụ Huỳnh đã sát cánh cùng những lãnh tụ của Phong trào Duy Tân như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp, Lương Văn Can, một lòng vì độc lập dân tộc.

32 tuổi bị bắt và kết án chém; 1/3 cuộc đời hoạt động cách mạng của cụ là 13 năm (1908-1921) bị giam ở Côn Đảo:

...Dầu đến lúc núi sụp biển lồi, trời nghiêng đất ngả,

Tấm lòng vàng tạc đá vẫn chưa mòn...

Hai câu thơ trên trích ở bài Lưu biệt với khí tiết lạc quan, cứng cỏi của cụ Huỳnh thời kỳ đó được rất nhiều đồng chí Duy Tân và những người cộng sản ghi tâm.

Trong lao tù, nhiều kế sách cứu nước vẫn không ngừng được ấp ủ và khai sinh mà không song sắt nào ngăn nổi. Cụ tự học tiếng Pháp để thông thạo tiếng nói của kẻ thù, để khi được trả tự do tiếp tục lao vào hoạt động chính trị, công khai làm cách mạng, tham gia hoạt động ở nghị trường, rồi cả đời bền bỉ cất tiếng nói cương quyết tranh đấu đòi quyền lợi cho dân, cho nước.

TIẾNG DÂN - tiếng nói của người Việt Nam yêu chuộng hòa bình, độc lập, tự do và tự chủ

Tháng 10/1926, đơn xin phép xuất bản tờ báo bằng chữ Quốc ngữ có tên là Tiếng Dân (La Voix du Peuple) của cụ Huỳnh đã được gửi tới Toàn quyền P. Pasquier.

Ngay ở số đầu tiên ra ngày 10/8/1927, bài xã luận do Chủ nhiệm kiêm Chủ bút Huỳnh Thúc Kháng viết, đã tuyên bố: “Nếu không có quyền nói thì ít ra cũng giữ được cái quyền không nói những điều người ta buộc nói”. “Tôi là nhà cách mạng công khai, tôi đấu tranh cho quyền lợi của dân tộc Việt Nam một cách công khai. Vì đất nước Việt Nam có biên cương và lãnh thổ công khai trên bản đồ thế giới. Cho nên, tôi cũng công khai nói lên tiếng nói của người Việt Nam yêu chuộng hòa bình, độc lập, tự do và tự chủ. Do đó, tôi thách đố mọi trừng phạt và hiểm nguy đến với cá nhân tôi” (Tiếng Dân, số ra ngày 1/5/1929). Thách thức chính quyền thực dân và bày tỏ cái chí của mình trước quốc dân đồng bào như thế, một dũng khí “rất Huỳnh Thúc Kháng”!

Có lần, do không chịu đăng một thông báo do Tòa Khâm sứ Trung Kỳ nhờ và bị dọa đóng cửa tòa báo, cụ Huỳnh cười: “Tôi nghĩ việc cho đăng hay không đăng một bài báo là quyền của chủ nhiệm báo cũng như cho xuất bản hay đóng cửa một tờ báo là quyền của chánh phủ. Nay quan lớn cất cái quyền ấy của tôi thì chẳng khác nào quan lớn đã đóng cửa tờ Báo Tiếng Dân rồi vậy. Mà tôi cũng không trông mong gì hơn, vì dưới quyền ngôn luận quá chật hẹp, tôi thấy cái nhiệm vụ của tôi đối với nhân dân quá sức nặng nề”. Uy tín cụ Huỳnh quá lớn, Khâm sứ Jabouille dù tức giận cũng không dám đóng cửa Tiếng Dân.

Lại một chuyện khác, liên quan quảng cáo và đạo đức nghề báo. Một quảng cáo của nhà thuốc ở Đà Nẵng có mấy chữ “cải tử hoàn sanh” muốn đăng trên Tiếng Dân. Cụ Huỳnh từ chối. Bên quảng cáo liền tăng tiền lên gấp đôi, cụ Huỳnh bảo nhân viên tòa soạn gửi trả lại kèm theo một lá thư nói thẳng là “không thể đăng được vì lời quảng cáo quá lố, không đúng sự thật”: “Báo ta sở dĩ được nhân dân tín nhiệm là nhờ ở chỗ không bao giờ láo khoét. Nhà thuốc trả tiền gấp 10 cũng không đăng. Tiếng Dân vụ lòng tín nhiệm của nhân dân hơn tiền bạc”.

Dù rất quyết liệt chống chính quyền thực dân, nhưng Tiếng Dân lại là tờ báo xuất bản được lâu nhất trong thời kỳ thực dân ở Đông Dương, suốt 16 năm. Làm báo như thế, Huỳnh Thúc Kháng đã để lại một dấu son sáng chói trong lịch sử những tờ báo yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX ở nước ta.

Cụ Huỳnh và Cụ Hồ

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhắc đến câu nói của cụ Huỳnh: “Trong lúc phục hưng dân tộc, xây dựng nước nhà thì bất kỳ già trẻ, trai, gái, ai cũng phải ra sức phụng sự Tổ quốc’’.

Kính trọng tài năng và đức độ của cụ Huỳnh, Cụ Hồ đã nhiều lần mời cụ Huỳnh tham gia Chính phủ mới. Dù ban đầu từ chối vì “lúc cần tăng gia sản xuất mà tôi không biết cầm cày, cầm cuốc; lại cần phải kháng chiến mà tôi lại không mang súng nổi”, nhưng sau đó vì việc nước cần, dân muốn, cụ Huỳnh đã nhận chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ (từ tháng 3/1946 đến tháng 4/1947). Trong đó, từ ngày 31/5/1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Hà Nội sang Paris đàm phán chính thức với Chính phủ Pháp, cụ Huỳnh đảm nhiệm cương vị Quyền Chủ tịch nước, để “dĩ bất biến ứng vạn biến (lấy cái không đổi ứng phó với mọi biến động)” trong thời gian Cụ Hồ đi vắng, rồi làm Đặc phái viên của Chính phủ tại Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Trung Bộ đóng tại Quảng Ngãi.

Khi cụ Huỳnh rời cõi tạm, ngày 29/4/1947, Hồ Chủ tịch đã viết một bức thư thống thiết cho quốc dân đồng bào để ghi nhớ “một người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao”; “là người mà giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan”; “Cả đời không cầu danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm giàu, không thèm làm quan”; “Cả đời chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập...”; “Cụ Huỳnh tuy tạ thế nhưng cái chí vì nước, vì nòi của Cụ vẫn luôn luôn sống mạnh mẽ trong lòng 20 triệu đồng bào chúng ta...”.

Mùa xuân năm 1949, Hồ Chủ tịch chọn đặt tên Trường dạy làm báo đầu tiên của chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Trường dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng, bởi Người muốn nhắc nhủ tất cả đội ngũ làm báo phải noi theo gương sáng của cụ Huỳnh - một trí thức yêu nước, một chí sĩ cách mạng, một nhà báo xuất sắc, người đã dành cả đời mình cho một sự nghiệp duy nhất: Vì Nước Vì Dân!

Mang tên Huỳnh Thúc Kháng là mang tên lòng yêu nước, mang tinh thần văn hiến Việt Nam, mang sứ mệnh của một ngòi bút chiến đấu.

Ngôi trường cách mạng đầu tiên dạy làm báo

“Trường dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng” nằm trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, hoạt động từ tháng 4 đến tháng 7/1949. Khóa học đầu tiên có 42 học viên và cũng là khóa học duy nhất của trường.

Ngôi trường khai sinh trong sự quan tâm đặc biệt của Bác Hồ và Trung ương Đảng đối với ngành báo chí, từ việc Bác chỉ đạo mở trường và đặt tên, đến hai bức thư Người gửi cho trường, cùng sự tham gia trực tiếp tổ chức, giảng dạy của nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Tổng bộ Việt Minh như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Võ Nguyên Giáp, Lê Quang Đạo, Xuân Thủy, Đỗ Đức Dục... Có thể nói, đây là nơi hình thành lý luận và thực tiễn về báo chí theo quan điểm Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hồ Chủ tịch tuy không trực tiếp giảng dạy, nhưng hai bức thư của Người đã đúc kết, gói ghém, chỉ rõ mục đích, nội dung học tập, phương hướng phấn đấu của người làm báo cách mạng, của tờ báo cách mạng. Người chỉ vẽ từng khâu của quá trình lao động báo chí như đi thực tế, viết và biên tập... Người dạy: Viết báo là để Nhân dân đọc, qua đó mà tuyên truyền, cổ động, huấn luyện, giáo dục Nhân dân đoàn kết, thi đua giành thắng lợi trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Muốn trở thành nhà báo giỏi thì phải gần gũi quần chúng, học tập quần chúng, phải đi nhiều để có vốn sống, phải học nhiều để có trình độ, phải học tập suốt đời, phải biết ngoại ngữ để học tập kinh nghiệm thế giới. Tờ báo phải đẹp. Bài báo phải trong sáng, phải hay, phải được đa số dân chúng ham chuộng... Học viên Trường dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng ra trường hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng đều nỗ lực góp phần quan trọng hình thành nên hình mẫu Nhà báo Chiến sĩ - một lực lượng đặc biệt và hùng mạnh đóng góp vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến, vào truyền thống vẻ vang của báo chí cách mạng Việt Nam.

Cụ Huỳnh đã “sống mãi” với báo chí cách mạng như thế, ngay cả khi cụ đã ra đi.

Năm 2024, sau 75 mùa xuân, ngay trên mảnh đất lịch sử năm xưa, tiếng trống khai giảng của trường lại vang lên, Di tích Quốc gia Địa điểm Trường dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng đã chính thức khánh thành công trình tu bổ và tôn tạo do Bảo tàng Báo chí Việt Nam làm chủ đầu tư và đảm trách toàn bộ ý tưởng, nội dung thiết kế, trưng bày. Một cách để nhớ, để tiếp tục làm sống mãi ngọn lửa Huỳnh Thúc Kháng trên mỗi trang báo, dòng tin của thế kỷ mới.

Công chúng cả nước, các nhà báo cả nước đã về nguồn tại đây, để hiểu hơn về những bài giảng đầu tiên về báo chí cách mạng, để thấu tỏ hơn tinh thần, khí chất làm báo Huỳnh Thúc Kháng từ Tiếng Dân, sau 99 năm không ngừng trau dồi và phát triển (8/1927-8/2026). Đó cũng là tâm huyết, là nguyện vọng của các thế hệ người làm báo Việt Nam hôm nay.

1790746852416-5514562658385106159-5514562658385106159-h.jpg


Nhằm tưởng nhớ, tri ân và tôn vinh những đóng góp to lớn của nhà báo Huỳnh Thúc Kháng đối với sự nghiệp cách mạng và nền báo chí cách mạng Việt Nam; đồng thời tiếp tục nghiên cứu, làm sâu sắc giá trị di sản báo chí của Huỳnh Thúc Kháng, khẳng định vị trí, ý nghĩa lịch sử của Trường dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng- cơ sở đào tạo báo chí cách mạng đầu tiên của nước ta, ngày 30/9/2026, Tỉnh ủy Thái Nguyên phối hợp Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học và Trưng bày chuyên đề với chủ đề “Huỳnh Thúc Kháng- Từ Báo Tiếng Dân đến Trường dạy làm báo” tại tỉnh Thái Nguyên. Nhiều tư liệu, hình ảnh, hiện vật về thân thế, sự nghiệp, khí tiết của nhà báo lớn Huỳnh Thúc Kháng và lịch sử Trường dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng trên chiến khu Việt Bắc được giới thiệu với công chúng trong dịp này.

Có thể bạn quan tâm

Tiếng chiêng không thể thiếu trong lễ cúng thần của người Pa Kô ở Quảng Trị.

Tiếng chiêng mang hồn núi

Với người Pa Kô, Vân Kiều trên đỉnh Trường Sơn, chiêng chưa bao giờ chỉ vang lên trong những ngày hội. Tiếng chiêng tiễn người về với núi, gọi người trở về với buôn làng, nối ký ức của người già với bước chân của lớp trẻ. Nghệ nhân dân gian Kôn Hơm (xã Tà Rụt, Quảng Trị) nói: Giữ được tiếng chiêng giữa đại ngàn là giữ lại một phần ký ức, hồn cốt của những bản làng nơi miền Tây Quảng Trị này.

Sản phẩm xuồng, ghe mi-ni người dân đóng bán cho du khách.

Mùa nước nổi ở làng nghề đóng xuồng trăm tuổi

Chúng tôi men theo các cánh đồng ngập nước tỉnh Đồng Tháp. Thỉnh thoảng xuất hiện vài chiếc xuồng đi đặt dớn, giăng lưới bắt cá. Giờ đây, khi các tuyến đường nhựa, đường bê-tông ngày càng được đầu tư, mở rộng, ghe xuồng tại các nhánh sông, trên đồng cũng thưa dần.

Việc lần đầu “sân khấu hóa” lòng hồ Nà Hang với chương trình nghệ thuật thực cảnh kết hợp công nghệ và văn hóa bản địa cùng sự tham gia của người dân địa phương mở ra hướng mới trong phát triển sản phẩm du lịch cho vùng cao này.

Đánh thức “Long mạch” Nà Hang

Nà Hang (Tuyên Quang), cái tên gợi về một miền cao không còn quá xa vì cách trở địa lý, nhưng cũng chẳng thật gần bởi vẫn còn đó những vỉa tầng nguyên sơ và thu hút mà không dễ gì có thể khám phá trong một khoảng thời gian hữu hạn. Sắc màu văn hóa, cảnh quan kỳ vĩ và chút hư ảo từ truyền thuyết xưa tạo nên chất liệu quý giá để Nà Hang hôm nay kể câu chuyện riêng có theo cách thức kết nối được với thế giới.

Nhiều đoạn kênh của công trình Bắc Hưng Hải đang bị ô nhiễm nặng. Ảnh: Minh Khang

Bắc Hưng Hải - Khắc khoải ngày được hồi sinh

Những năm 60, 70 của thế kỷ trước, Bắc Hưng Hải được xây dựng, trở thành niềm tự hào của ngành thủy lợi với sứ mệnh đưa dòng nước ngọt về đánh thức những cánh đồng, góp sức làm nên những mùa vàng trù phú vùng Đồng bằng Bắc Bộ. Tiếc rằng, giờ đây dòng nước mát lành ấy đang bị ô nhiễm, nhiều đoạn chỉ còn một màu nước đen kịt, rác thải bủa vây.

Một chiếc ví phủ bùn đất, có thể chứa những manh mối vô giá về các anh hùng liệt sĩ vô danh.

Hành trình kỷ vật từ lòng đất sâu

Ngày 26/7, trưa nắng trên khu vực lô cao-su 97 (xã Minh Đức, thành phố Đồng Nai), Đại tá Nguyễn Thanh Phong, Chính ủy Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố Đồng Nai, thắp hương trước ba hầm mộ, rồi quay ra bảo: “Mong các chú các bác phù hộ cho thêm chỉ dẫn, tìm kiếm được thêm di vật, còn xác minh được danh tính đưa các liệt sĩ về với người thân”.

Nghệ nhân Lê Thị Kề (trái) hướng dẫn cách đan võng ngô đồng.

Thắp lại lửa nghề trên đảo ngọc

Cây ngô đồng, ngày càng sinh sôi, nảy nở quanh đảo Cù Lao Chàm, đã trở thành loài cây đặc hữu của xã đảo Tân Hiệp, thành phố Đà Nẵng. Song, nghề thủ công truyền thống đan võng ngô đồng, được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi tên vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, lại có thể trôi vào quá vãng, nếu không có biện pháp gìn giữ, phát huy.

Hợp tác xã Chè sạch Đông Trường Sơn hình thành vùng chè đặc sản và thay đổi diện mạo cao nguyên Kon Plông, Quảng Ngãi.

Khát vọng định danh trà Trường Sơn Đông ra thế giới

Vượt đèo Violắk, giữa mênh mang núi rừng Trường Sơn Đông, những đồi chè xanh trải dài theo triền dốc hiện ra giữa cao nguyên Kon Plông (tỉnh Quảng Ngãi). Gần tám năm gây dựng, cùng sức người bền bỉ, từ những gốc chè đầu tiên bén rễ nơi đất lạnh nay đang dần hình thành vùng chè đặc sản.

Chợ cá Tam Tiến, xã Tam Xuân nhộn nhịp nhờ nguồn lợi hải sản dồi dào. Ảnh: Anh Quân

Rạn Bà Đậu đang hồi sinh

Năm 2022, Tổ cộng đồng bảo vệ nguồn lợi thủy sản rạn Bà Đậu ở xã Tam Xuân, thành phố Đà Nẵng được thành lập theo cơ chế đồng quản lý của Luật Thủy sản 2017. Qua hơn bốn năm hoạt động, với sự tham gia chủ yếu của người dân địa phương, Tổ đã cùng chung tay bảo vệ, giữ gìn hơn 64 ha mặt nước. Nhờ thành quả ấy, đến nay, các bãi san hô nơi đây dần phục hồi và đón nhận sự trở lại cư ngụ của nhiều loại hải sản có giá trị.

Ông Hoàng Ngọc Bích bên tấm bia ghi danh sách các đồng đội ngã xuống tại chiến trường Quảng Trị. Ảnh: NVCC

Kỳ 2: Những đôi chân không mỏi

Hành trình trả lại tên tuổi cho những anh hùng, liệt sĩ hy sinh vì Tổ quốc đang được thực hiện gấp gáp, với tinh thần và trách nhiệm cao nhất. Trong nhiều năm, không ít thương, bệnh binh trực tiếp tham gia chiến đấu ở chiến trường cũng đã âm thầm tìm kiếm thông tin, kết nối, phối hợp cơ quan chức năng trả lại tên cho đồng đội, góp sức đưa hài cốt liệt sĩ về với quê hương, gia đình.

Hàng nghìn mẫu xương được bảo quản nghiêm ngặt trong phòng lưu mẫu.

Trả lại tên cho những người anh hùng

Hưởng ứng Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, những ngày này, các phòng thí nghiệm tại Trung tâm Giám định ADN thuộc Viện Sinh học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) luôn vận hành với nhịp độ khẩn trương.

Quy tập hài cốt liệt sĩ được tìm thấy tại Công viên Lê Thị Riêng (Thành phố Hồ Chí Minh).

Kỳ I: Thần tốc với tất cả tấm lòng

Hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2027), với quy mô quốc gia, “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” (Chiến dịch 500 ngày đêm) đã và đang huy động sự vào cuộc đồng bộ từ quân đội, chính quyền địa phương và sự tham gia đông đảo của các chuyên gia, nhà khoa học, cựu chiến binh, thân nhân liệt sĩ…

Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ tỉnh Tuyên Quang đang thực hiện khoan phá đá tại điểm cao 685 vào sáng 13/7/2026. Nơi đây nghi là một cửa hang bị pháo đánh sập và có khả năng vùi lấp bộ đội của chúng ta.

Tìm đồng đội dưới "Lò vôi thế kỷ"

Hơn bốn thập kỷ đã trôi qua kể từ khi nổ ra cuộc chiến tranh biên giới, hành trình tìm kiếm và quy tập hài cốt liệt sĩ tại chiến trường Vị Xuyên xưa (nay thuộc xã Thanh Thủy, tỉnh Tuyên Quang) vẫn đang được các cán bộ, chiến sĩ Đội tìm kiếm và quy tập hài cốt liệt sĩ thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Tuyên Quang (Quân khu 2) bền bỉ tiếp nối.

Đà Nẵng triển khai Chiến dịch 500 ngày đêm tại Nghĩa trang liệt sĩ Hòa Tiến.

Hành trình đưa các anh trở về đất mẹ

Tháng 7, giữa những ngày nắng như đổ lửa ở Đà Nẵng, lực lượng thu nhận mẫu sinh phẩm thân nhân liệt sĩ vẫn miệt mài làm việc tại các nghĩa trang liệt sĩ. Mỗi mẫu ADN được thu nhận là thêm một niềm hy vọng xác định danh tính các liệt sĩ còn thiếu thông tin, đưa các anh trở về với gia đình, quê hương. Đó cũng là ý nghĩa nhân văn sâu sắc của “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”, góp phần tri ân những người đã hy sinh vì Tổ quốc.

Du khách nhí bên đầm sen ở Sơn Mỹ hôm nay. Ảnh: Hạnh Đỗ

Sen trên đất lửa

Mỗi sớm hè, đầm sen ở xóm Khê Thuận (xã Tịnh Khê, tỉnh Quảng Ngãi) lại rộn rã tiếng nói, cười. Người đến chụp ảnh. Người ngồi lặng bên bờ hít hương thơm còn vấn vít hơi sương. Thi thoảng có khách đường xa ngạc nhiên hỏi vì sao giữa vùng đất cát ven biển lại có một đầm sen rộng đến vậy. Rồi bất ngờ khi biết những bông sen đang xòe cánh này chỉ cách Khu chứng tích Sơn Mỹ chừng 1 km. Hơn nửa thế kỷ trước, trên vùng đất này là tiếng súng, tiếng khóc ai oán. Hôm nay, ở nơi từng là đất chết ấy, sen đang nở.

Hiện sản xuất của nông hộ thường nhỏ lẻ, phân tán và mang nặng tính kinh nghiệm. Ảnh: PHÚ TÂY

Hiểm họa từ “cái chết từ từ”

Có một câu hỏi, vì sao sau nhiều năm siết quản lý, thực phẩm không bảo đảm an toàn vẫn len lỏi từ ruộng đồng tới chợ, rồi xuất hiện trên mâm cơm người dân mỗi ngày?

Vẻ đẹp Lý Sơn, Quảng Ngãi. (Ảnh THÀNH ĐẠT)

QUA MIỀN CỬA BIỂN

Người ta ví miền trung nước ta như cái ban-công của bán đảo Đông Dương nhìn ra biển, nơi có tuyến hàng hải đông đúc thứ nhì thế giới.

Ông Vũ Kim Điều, chiến sĩ Điện Biên kể về trận đánh mở màn vào “cánh cửa thép Him Lam” trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Nén tâm hương dưới trời Tây Bắc

Cách trung tâm chỉ huy của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ 2,5 km về phía Đông Bắc, chính là nơi ghi dấu trận đánh mở màn của bộ đội ta trong Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

Các cựu tù trong một lần ra thăm Côn Đảo.

“Địa ngục trần gian” và vùng ký ức bi tráng

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trong tâm trí những cựu tù Côn Đảo (nay thuộc Đặc khu Côn Đảo, Thành phố Hồ Chí Minh) ký ức về những năm tháng đói khổ, đớn đau vì bị giam cầm, tra tấn nơi “địa ngục trần gian” vẫn còn nguyên vẹn.

Anh Duyệt chia sẻ về hành trình sưu tầm những vỏ bom lớn.

Kể chuyện hòa bình bằng kỷ vật chiến tranh

Rất nhiều người đã lặng lẽ, dày công sưu tầm các hiện vật gắn với thời “mưa bom bão đạn”. Đó không chỉ là cách gìn giữ ký ức về tinh thần của cha ông ta trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại, mà còn hướng đến giáo dục thế hệ hôm nay biết trân trọng giá trị của hòa bình.

Sinh viên Đại học Sư phạm Hà Bắc trao đổi quà lưu niệm với sinh viên Việt Nam.

Hào khí thanh xuân trên dặm dài Hành trình đỏ

“Sui, sui, sui sui sui, suiii”… Cho tới thời điểm bước lên máy bay rời khỏi Côn Minh (Trung Quốc), trong đầu tôi vẫn âm vang tiếng hô của đoàn sinh viên Việt Nam, hòa cùng những người bạn dân tộc Di. Hào sảng, gắn kết và tràn ngập tiếng cười.

Nhà giàn thế hệ đầu tiên thiết kế dạng pông-tông đóng trên bãi cạn Phúc Tần. (Ảnh tư liệu)

Nhà giàn DK1 - Biểu tượng tinh thần thép

Gần 40 năm qua, hệ thống Nhà giàn DK1 sừng sững giữa biển trời như cột mốc khẳng định chủ quyền thềm lục địa thiêng liêng của Việt Nam. Trong chuyến vượt biển trước thềm xuân, chúng tôi đã có cơ hội tìm gặp những nhân chứng để ngược thời gian trở về giai đoạn ban đầu xây dựng nên “thành đồng” trên thềm lục địa phía nam Tổ quốc.

Chiến sĩ Nhà giàn DK1/11 đón đại biểu lên thăm và làm việc.

Những bông hoa trên sóng

Các Nhà giàn DK1 (Tiểu đoàn DK1) không chỉ là pháo đài, cột mốc trên biển mà còn là biểu tượng của ý chí và lòng yêu nước. Nơi đó, mỗi chiến sĩ luôn khắc cốt ghi tâm câu nói của cha anh đi trước: “Bão tố có thể bẻ cong sắt thép nhà giàn, nhưng không thể bẻ cong ý chí người lính DK1”.

Du khách tham gia chương trình du lịch học tập trên đồng muối Sa Huỳnh.

Tình người làng muối

Dọc ven biển, nơi nước gặp đất, sóng gặp phù sa, hàng vạn diêm dân vẫn lặng lẽ chắt chiu từng chút nước, lấy cái khắc nghiệt của thiên nhiên mà hóa thành hạt mặn cho đời. Không đơn thuần là một nghề, với họ muối là sự tiếp nối, là tình yêu và cách tri ân vùng đất đã nuôi dưỡng gia đình qua bao thế hệ.

GS Hồ Ngọc Đại và nhà giáo Nguyễn Trung Chính (bên phải) - hai người thầy tóc bạc vẫn hết lòng hướng về trẻ thơ.

Những người thầy tóc bạc

Mới đây, Nhân Dân cuối tuần nhận được một lá thư dài viết tay với nét bút gọn, khẳng khái của một nhà giáo ở thành phố Hải Phòng.

Chương trình văn nghệ Kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh tại Quảng trường Ba Đình sáng 2/9/2025.

Vinh quang mãi mãi thuộc về Nhân dân!

Đó là câu cuối trong bài diễn văn súc tích, ý nghĩa của Tổng Bí thư Tô Lâm trên Quảng trường Ba Đình lịch sử tại Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 vừa qua. Cũng tại nơi đây, lời Quốc ca vang lên cùng những hình ảnh cờ hoa, những gương mặt ngời lên rạng rỡ của vạn người sẽ mãi mãi ghi vào tâm khảm nhân dân.