Khát vọng định danh trà Trường Sơn Đông ra thế giới

Vượt đèo Violắk, giữa mênh mang núi rừng Trường Sơn Đông, những đồi chè xanh trải dài theo triền dốc hiện ra giữa cao nguyên Kon Plông (tỉnh Quảng Ngãi). Gần tám năm gây dựng, cùng sức người bền bỉ, từ những gốc chè đầu tiên bén rễ nơi đất lạnh nay đang dần hình thành vùng chè đặc sản.

Hợp tác xã Chè sạch Đông Trường Sơn hình thành vùng chè đặc sản và thay đổi diện mạo cao nguyên Kon Plông, Quảng Ngãi.
Hợp tác xã Chè sạch Đông Trường Sơn hình thành vùng chè đặc sản và thay đổi diện mạo cao nguyên Kon Plông, Quảng Ngãi.

Cơ duyên của lần… mắc kẹt

Trong màn sương bảng lảng của dãy Trường Sơn Đông, trước mắt tôi những triền chè xanh mướt nối nhau đến tận chân trời, thi thoảng lại có những nhóm lao động hăng say thu hái chè. Trước đây, nhắc đến miền núi cao xã Kon Plông, người ta nhớ những cánh rừng thông hun hút, những cơn mưa phùn kéo dài và cái lạnh len lỏi quanh năm… Giờ đây, những đồi chè trải dài trên đỉnh núi lại là một gợi dẫn mới mẻ về miền đất này. Chỉ gần chục năm trước thôi, đời sống của nhiều hộ dân đồng bào Xơ Đăng phụ thuộc vào cây mì (sắn) và một số cây trồng ngắn ngày. Song hiệu quả kinh tế không cao, giá cả bấp bênh khiến thu nhập của người dân thiếu ổn định. Người có công phát hiện ra thế mạnh của vùng đất này là anh Nguyễn Công Hội, Chủ tịch Hội đồng quản trị Hợp tác xã Chè sạch Đông Trường Sơn.

Dáng người cao, ánh mắt cương nghị, anh Nguyễn Công Hội đã trở thành bạn của người dân ở nhiều bản làng xã Kon Plông. Hộ nào muốn trồng chè, cần tư vấn kỹ thuật hay cải tạo đất, anh cùng cán bộ kỹ thuật tận tình hướng dẫn. Ước mong của anh là mở rộng diện tích chè, giúp bà con vùng cao có thêm một giống cây trồng cho nguồn thu bền vững.

Song ít ai biết, cơ duyên đưa vợ chồng anh đến Kon Plông lại bắt đầu từ một lần... mắc kẹt. Mùa mưa năm 2019, trên đường khảo sát vùng quế Trà My (tỉnh Quảng Nam cũ) trở về tỉnh Gia Lai, sương mù dày đặc khiến anh phải dừng chân qua đêm ở xã Kon Plông. Kinh nghiệm hơn ba mươi năm gắn bó với nghề chè ở miền quê tỉnh Phú Thọ giúp anh nhận ra những cây chè bản địa cổ thụ giữa rừng. Trong màn sương lạnh giữa đại ngàn, anh nhìn thấy điều mà nhiều người chưa từng để ý. “Tôi cảm nhận được hương chè từ những cây cổ thụ mọc giữa rừng. Những cây chè cổ thụ sương phủ quanh năm ở độ cao hơn 1.200m, khí hậu mát lạnh, biên độ nhiệt lớn cùng lớp đất phong hóa là điều kiện hiếm có để tạo nên những dòng trà thượng hạng”, anh Hội nhớ lại.

Rời quê hương Phú Thọ, nơi đang vận hành nhà máy chế biến chè xuất khẩu công suất khoảng 2.000 tấn mỗi năm, anh lên miền cao nguyên Đông Trường Sơn tạo lập vùng chè mới. Anh cùng các chuyên gia Viện Nghiên cứu Chè Việt Nam (nay là Trung tâm nghiên cứu và Phát triển chè) đã dày công kiểm nghiệm nguồn nước, mẫu đất, không khí và nhận ra vùng núi non Kon Plông đủ điều kiện trở thành vùng trồng cây chè cho hiệu quả và giá trị kinh tế cao.

123.jpg
Hợp tác xã Chè sạch Đông Trường Sơn hình thành vùng chè đặc sản và thay đổi diện mạo cao nguyên Kon Plông, Quảng Ngãi.

Sau hai năm đổ mồ hôi trồng thử nghiệm, đất đai không phụ công người, các giống chè đặc sản từ Viện Nghiên cứu Chè Việt Nam đã mang đến kết quả vượt mong đợi. Cây chè phát triển tốt, chất lượng vượt trội, đặc biệt sáu giống chè gồm PH8, Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên, PH11, Shan Tuyết và giống Lai 1 đạt chất lượng vượt kỳ vọng. Tháng 9/2020, Hợp tác xã Chè sạch Đông Trường Sơn chính thức hoạt động. “Đã có lúc nhiều người bảo tôi gàn dở khi để lại nhà máy nghìn tấn ở Phú Thọ để lên đây chịu khổ. Nhưng thấy bà con mình còn nghèo, thấy vùng chè tiềm năng này bỏ ngỏ, tôi chọn ở lại. Dành nhiều thời gian, công sức và chi phí đầu tư, tôi chỉ mong để lại một vùng chè đặc biệt cho mai sau”, anh Hội chia sẻ.

Hy vọng thoát nghèo

Sau gần bốn năm chăm sóc, vườn chè 3,5 sào của già làng Đinh Văn Rinh, thôn Vi Choong, đã phủ kín một màu xanh non. Cả đời gắn bó dưới những cánh rừng thông, già Rinh chưa từng nghĩ quê hương mình sẽ có ngày hình thành những nương chè bạt ngàn như vậy. Đã có lúc, ông từng tính chuyện bán đất chia cho các con. Nhưng khi tham gia Hợp tác xã Chè sạch Đông Trường Sơn, chuyển đổi cây trồng, ông lại đổi ý, quyết vun trồng cho những gốc chè bén rễ, sinh trưởng khỏe mạnh. Bởi ông tin, nhiều bà con sẽ thoát nghèo từ nghề mới này. Già làng Đinh Văn Rinh vui mừng kể: “Chè có ở đây từ lâu nhưng chỉ vài hộ trồng để uống trong nhà. Chưa ai nghĩ, có thể kinh doanh được từ cây chè”. Anh A Duẩn (thôn Tu Cần) trước đây chuyên canh sắn, song thu nhập chẳng được là bao do địa hình dốc nên năng suất và hiệu quả kinh tế thấp. Khi có hướng chuyển từ cây sắn sang trồng chè, anh hồ hởi tham gia. Anh Duẩn tâm sự: “Trước đây chúng tôi trồng sắn, mỗi năm chỉ đào củ được một lần, nhưng trồng chè, mỗi năm hái được đến 10 lần, thu nhập cao từ sáu đến bảy lần trồng sắn”.

Ngay bên Quốc lộ 24, vừa qua đèo Violắk là đồi chè hơn 2 ha nằm cạnh homestay Thảo Nguyên. Những luống chè cong mềm theo triền dốc, giữa đồi là sắc tím hoa mua và những khóm cẩm tú cầu, tạo nên khung cảnh tuyệt đẹp trên cung đường dẫn vào Khu du lịch sinh thái Măng Đen. Năm 2020, ông Bùi Văn Tân rời tỉnh Bình Định (cũ) lên xã Hiếu, huyện Kon Plông (tỉnh Kon Tum cũ) lập nghiệp. Chứng kiến những đồi chè đầu tiên của Hợp tác xã Chè sạch Đông Trường Sơn phát triển xanh tốt, ông quyết định mua đất, trồng chè và gắn bó với vùng cao đến hôm nay.

Liên kết với người dân bản địa để mở rộng vùng chè là định hướng chiến lược của Hợp tác xã. Sau năm năm, hợp tác xã đã phát triển vùng nguyên liệu hơn 150 ha, với năng suất bình quân đạt hai đến ba tấn búp tươi/ha/năm. Với giá chè tươi Hợp tác xã thu mua bình quân 10.000-20.000 đồng/kg, doanh thu của thành viên Hợp tác xã đạt trung bình 100-200 triệu đồng/ha. Ngoài ra, Hợp tác xã còn giải quyết việc làm thường xuyên cho khoảng 40 lao động địa phương, chủ yếu là đồng bào Xơ Đăng, với mức thu nhập từ 7 đến 9 triệu đồng/tháng. Đối với nhiều gia đình vùng cao, đây là nguồn thu nhập ổn định, góp phần cải thiện đời sống.

Tìm cách nâng cao giá trị vùng chè

Nhờ khí hậu mát lạnh quanh năm cùng quy trình canh tác nghiêm ngặt đã tạo nên những búp chè có hương thơm thanh, vị ngọt hậu, được các chuyên gia trong ngành đánh giá cao. Hợp tác xã tích cực chế biến trà và các loại cây dược liệu theo tiêu chuẩn VietGAP, theo đó đã phát triển hơn 10 dòng sản phẩm khác nhau; trong đó có ba sản phẩm được công nhận đạt chuẩn OCOP 3 sao. Đây là cơ sở quan trọng để từng bước xây dựng thương hiệu chè Kon Plông, cũng như mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Chia sẻ với phóng viên, Bí thư Đảng ủy xã Kon Plông Lê Đức Tín cho rằng: Cây chè đang mở ra một hướng phát triển phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương. Tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân, vùng chè góp phần hình thành nông sản đặc trưng gắn với du lịch sinh thái cho xã Kon Plông và vùng lân cận.

Chuyển đổi sang trồng chè, gây dựng thương hiệu đã khó, nhưng để gìn giữ, phát huy thương hiệu ấy còn khó khăn hơn. Bởi thế anh Nguyễn Công Hội, người đã từng đưa sản phẩm trà tỉnh Phú Thọ đến nhiều thị trường châu Á đang tiếp tục hành trình mang thương hiệu trà Kon Plông đi xa. Những chuyến tham dự Triển lãm Trà quốc tế Trung Quốc năm 2026 tại tỉnh Chiết Giang, sự kiện “Ngày Quốc tế Trà” và Lễ hội Trà - Con đường Tơ lụa ở tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, giúp anh tìm hiểu công nghệ chế biến hiện đại và mở ra cơ hội hợp tác với các doanh nghiệp trong chuỗi giá trị ngành trà toàn cầu.

htx1.jpg
Những luống chè uốn lượn theo sườn đồi, hòa cùng màu xanh thẫm của rừng nguyên sinh tạo nên một bức tranh khoáng đạt giữ chân bao du khách.

Chiều xuống trên đỉnh Trường Sơn Đông, sương lại bảng lảng phủ kín những đồi chè. Từng luống chè xanh vẫn lặng lẽ vươn mình giữa đại ngàn, như chính niềm tin của những người đã chọn gắn đời mình với vùng đất này. Trong đôi mắt người dân đang ánh lên niềm tin về sự tiếp tục đổi thay, phát triển của một vùng đất. Mà sự đổi thay đó, bắt đầu từ sự liên kết, như cách diễn giải của già làng Đinh Văn Rinh - ông nói: “Tưởng liên kết chỉ đơn giản như cái bắt tay, thế mà nó lại mở ra cánh cửa thoát nghèo cho bà con!”.

Bây giờ, trên triền đồi, dốc rẫy, những nương chè tươi xanh đang dần phủ kín nhiều sườn đồi ở Trường Sơn Đông. Từng luống chè nối nhau uốn lượn giữa sắc tím hoa mua, thấp thoáng mái nhà của đồng bào Xơ Đăng, Mơ Nâm… tạo nên sức sống mới nơi cao nguyên Măng Đen-Kon Plông.

Có thể bạn quan tâm

Sản phẩm xuồng, ghe mi-ni người dân đóng bán cho du khách.

Mùa nước nổi ở làng nghề đóng xuồng trăm tuổi

Chúng tôi men theo các cánh đồng ngập nước tỉnh Đồng Tháp. Thỉnh thoảng xuất hiện vài chiếc xuồng đi đặt dớn, giăng lưới bắt cá. Giờ đây, khi các tuyến đường nhựa, đường bê-tông ngày càng được đầu tư, mở rộng, ghe xuồng tại các nhánh sông, trên đồng cũng thưa dần.

Việc lần đầu “sân khấu hóa” lòng hồ Nà Hang với chương trình nghệ thuật thực cảnh kết hợp công nghệ và văn hóa bản địa cùng sự tham gia của người dân địa phương mở ra hướng mới trong phát triển sản phẩm du lịch cho vùng cao này.

Đánh thức “Long mạch” Nà Hang

Nà Hang (Tuyên Quang), cái tên gợi về một miền cao không còn quá xa vì cách trở địa lý, nhưng cũng chẳng thật gần bởi vẫn còn đó những vỉa tầng nguyên sơ và thu hút mà không dễ gì có thể khám phá trong một khoảng thời gian hữu hạn. Sắc màu văn hóa, cảnh quan kỳ vĩ và chút hư ảo từ truyền thuyết xưa tạo nên chất liệu quý giá để Nà Hang hôm nay kể câu chuyện riêng có theo cách thức kết nối được với thế giới.

Nhiều đoạn kênh của công trình Bắc Hưng Hải đang bị ô nhiễm nặng. Ảnh: Minh Khang

Bắc Hưng Hải - Khắc khoải ngày được hồi sinh

Những năm 60, 70 của thế kỷ trước, Bắc Hưng Hải được xây dựng, trở thành niềm tự hào của ngành thủy lợi với sứ mệnh đưa dòng nước ngọt về đánh thức những cánh đồng, góp sức làm nên những mùa vàng trù phú vùng Đồng bằng Bắc Bộ. Tiếc rằng, giờ đây dòng nước mát lành ấy đang bị ô nhiễm, nhiều đoạn chỉ còn một màu nước đen kịt, rác thải bủa vây.

Một chiếc ví phủ bùn đất, có thể chứa những manh mối vô giá về các anh hùng liệt sĩ vô danh.

Hành trình kỷ vật từ lòng đất sâu

Ngày 26/7, trưa nắng trên khu vực lô cao-su 97 (xã Minh Đức, thành phố Đồng Nai), Đại tá Nguyễn Thanh Phong, Chính ủy Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố Đồng Nai, thắp hương trước ba hầm mộ, rồi quay ra bảo: “Mong các chú các bác phù hộ cho thêm chỉ dẫn, tìm kiếm được thêm di vật, còn xác minh được danh tính đưa các liệt sĩ về với người thân”.

Nghệ nhân Lê Thị Kề (trái) hướng dẫn cách đan võng ngô đồng.

Thắp lại lửa nghề trên đảo ngọc

Cây ngô đồng, ngày càng sinh sôi, nảy nở quanh đảo Cù Lao Chàm, đã trở thành loài cây đặc hữu của xã đảo Tân Hiệp, thành phố Đà Nẵng. Song, nghề thủ công truyền thống đan võng ngô đồng, được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi tên vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, lại có thể trôi vào quá vãng, nếu không có biện pháp gìn giữ, phát huy.

Chợ cá Tam Tiến, xã Tam Xuân nhộn nhịp nhờ nguồn lợi hải sản dồi dào. Ảnh: Anh Quân

Rạn Bà Đậu đang hồi sinh

Năm 2022, Tổ cộng đồng bảo vệ nguồn lợi thủy sản rạn Bà Đậu ở xã Tam Xuân, thành phố Đà Nẵng được thành lập theo cơ chế đồng quản lý của Luật Thủy sản 2017. Qua hơn bốn năm hoạt động, với sự tham gia chủ yếu của người dân địa phương, Tổ đã cùng chung tay bảo vệ, giữ gìn hơn 64 ha mặt nước. Nhờ thành quả ấy, đến nay, các bãi san hô nơi đây dần phục hồi và đón nhận sự trở lại cư ngụ của nhiều loại hải sản có giá trị.

Ông Hoàng Ngọc Bích bên tấm bia ghi danh sách các đồng đội ngã xuống tại chiến trường Quảng Trị. Ảnh: NVCC

Kỳ 2: Những đôi chân không mỏi

Hành trình trả lại tên tuổi cho những anh hùng, liệt sĩ hy sinh vì Tổ quốc đang được thực hiện gấp gáp, với tinh thần và trách nhiệm cao nhất. Trong nhiều năm, không ít thương, bệnh binh trực tiếp tham gia chiến đấu ở chiến trường cũng đã âm thầm tìm kiếm thông tin, kết nối, phối hợp cơ quan chức năng trả lại tên cho đồng đội, góp sức đưa hài cốt liệt sĩ về với quê hương, gia đình.

Hàng nghìn mẫu xương được bảo quản nghiêm ngặt trong phòng lưu mẫu.

Trả lại tên cho những người anh hùng

Hưởng ứng Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, những ngày này, các phòng thí nghiệm tại Trung tâm Giám định ADN thuộc Viện Sinh học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) luôn vận hành với nhịp độ khẩn trương.

Quy tập hài cốt liệt sĩ được tìm thấy tại Công viên Lê Thị Riêng (Thành phố Hồ Chí Minh).

Kỳ I: Thần tốc với tất cả tấm lòng

Hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2027), với quy mô quốc gia, “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” (Chiến dịch 500 ngày đêm) đã và đang huy động sự vào cuộc đồng bộ từ quân đội, chính quyền địa phương và sự tham gia đông đảo của các chuyên gia, nhà khoa học, cựu chiến binh, thân nhân liệt sĩ…

Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ tỉnh Tuyên Quang đang thực hiện khoan phá đá tại điểm cao 685 vào sáng 13/7/2026. Nơi đây nghi là một cửa hang bị pháo đánh sập và có khả năng vùi lấp bộ đội của chúng ta.

Tìm đồng đội dưới "Lò vôi thế kỷ"

Hơn bốn thập kỷ đã trôi qua kể từ khi nổ ra cuộc chiến tranh biên giới, hành trình tìm kiếm và quy tập hài cốt liệt sĩ tại chiến trường Vị Xuyên xưa (nay thuộc xã Thanh Thủy, tỉnh Tuyên Quang) vẫn đang được các cán bộ, chiến sĩ Đội tìm kiếm và quy tập hài cốt liệt sĩ thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Tuyên Quang (Quân khu 2) bền bỉ tiếp nối.

Đà Nẵng triển khai Chiến dịch 500 ngày đêm tại Nghĩa trang liệt sĩ Hòa Tiến.

Hành trình đưa các anh trở về đất mẹ

Tháng 7, giữa những ngày nắng như đổ lửa ở Đà Nẵng, lực lượng thu nhận mẫu sinh phẩm thân nhân liệt sĩ vẫn miệt mài làm việc tại các nghĩa trang liệt sĩ. Mỗi mẫu ADN được thu nhận là thêm một niềm hy vọng xác định danh tính các liệt sĩ còn thiếu thông tin, đưa các anh trở về với gia đình, quê hương. Đó cũng là ý nghĩa nhân văn sâu sắc của “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”, góp phần tri ân những người đã hy sinh vì Tổ quốc.

Du khách nhí bên đầm sen ở Sơn Mỹ hôm nay. Ảnh: Hạnh Đỗ

Sen trên đất lửa

Mỗi sớm hè, đầm sen ở xóm Khê Thuận (xã Tịnh Khê, tỉnh Quảng Ngãi) lại rộn rã tiếng nói, cười. Người đến chụp ảnh. Người ngồi lặng bên bờ hít hương thơm còn vấn vít hơi sương. Thi thoảng có khách đường xa ngạc nhiên hỏi vì sao giữa vùng đất cát ven biển lại có một đầm sen rộng đến vậy. Rồi bất ngờ khi biết những bông sen đang xòe cánh này chỉ cách Khu chứng tích Sơn Mỹ chừng 1 km. Hơn nửa thế kỷ trước, trên vùng đất này là tiếng súng, tiếng khóc ai oán. Hôm nay, ở nơi từng là đất chết ấy, sen đang nở.

Người dân luôn phải đối mặt tình trạng được mùa mất giá. Ảnh: THANH SANG

Trăn trở vùng xoài

Nhiều xóm làng yên bình ở các xã Cam Lâm, Suối Dầu… được bao bọc bởi sự mát xanh của những vườn xoài. Từ nhiều năm nay, xoài là thứ quả ngọt ngào mang dấu ấn riêng khi nhắc đến Khánh Hòa, nhưng hiện nay việc tiêu thụ gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống nông dân.

Hiện sản xuất của nông hộ thường nhỏ lẻ, phân tán và mang nặng tính kinh nghiệm. Ảnh: PHÚ TÂY

Hiểm họa từ “cái chết từ từ”

Có một câu hỏi, vì sao sau nhiều năm siết quản lý, thực phẩm không bảo đảm an toàn vẫn len lỏi từ ruộng đồng tới chợ, rồi xuất hiện trên mâm cơm người dân mỗi ngày?

Vẻ đẹp trầm lắng của Trí Nguyên giúp hòn đảo này được nhiều người yêu thích. Ảnh: HÀ ĐẠO

Lặng trầm Trí Nguyên

Trong các đảo ở vịnh Nha Trang, Trí Nguyên chỉ cách đất liền hơn một cây số, song hòn đảo nhỏ bình yên, giản dị này chưa bị ảnh hưởng bởi quá trình đô thị hóa. Mặc dù hoạt động du lịch đang phát triển, nhưng người dân vẫn mong gìn giữ lối ứng xử nền nã, cuộc sống bình dị và khung cảnh ôn hòa mà thiên nhiên ban tặng.

Những “bà thím” vốn tự ti nay đã tự tin giới thiệu, chia sẻ kinh nghiệm làm du lịch. Ảnh: Hợp tác xã du lịch cộng đồng Gò Cỏ

Lời của đá

Là vùng lõi của Văn hóa Sa Huỳnh - một trong ba nền văn minh cổ lớn của nước ta với niên đại hơn 2.500 năm - làng di sản Gò Cỏ (phường Sa Huỳnh, tỉnh Quảng Ngãi) mang một bí mật không được viết thành chữ,...

Hai kiện tướng Phạm Quang Thành (trái) và Đinh Đức Huy chia sẻ về nghề lái tàu. Ảnh: Diên Khánh

Tinh thần thép của tài xế hỏa xa

Người lái tàu được giao sứ mệnh là những người “cầm cương”, giúp cho mỗi hành trình dù gần hay xa được an toàn. Ngoài kinh nghiệm, sự tinh nhạy, họ phải có tinh thần thép để đối mặt với nhiều tình huống khẩn cấp.

Vẻ đẹp Lý Sơn, Quảng Ngãi. (Ảnh THÀNH ĐẠT)

QUA MIỀN CỬA BIỂN

Người ta ví miền trung nước ta như cái ban-công của bán đảo Đông Dương nhìn ra biển, nơi có tuyến hàng hải đông đúc thứ nhì thế giới.

Ông Vũ Kim Điều, chiến sĩ Điện Biên kể về trận đánh mở màn vào “cánh cửa thép Him Lam” trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Nén tâm hương dưới trời Tây Bắc

Cách trung tâm chỉ huy của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ 2,5 km về phía Đông Bắc, chính là nơi ghi dấu trận đánh mở màn của bộ đội ta trong Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh - nơi lưu dấu người đi mở cõi. (Ảnh: HÀ ANH CHIẾN)

Thành phố phía đông

Tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, trong chương trình làm việc, Quốc hội cho ý kiến để tỉnh Đồng Nai trở thành thành phố Đồng Nai. Đây là một cột mốc rất quan trọng, đáng nhớ của đất và người Đồng Nai khi hội đủ các yếu tố trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.

Các cựu tù trong một lần ra thăm Côn Đảo.

“Địa ngục trần gian” và vùng ký ức bi tráng

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trong tâm trí những cựu tù Côn Đảo (nay thuộc Đặc khu Côn Đảo, Thành phố Hồ Chí Minh) ký ức về những năm tháng đói khổ, đớn đau vì bị giam cầm, tra tấn nơi “địa ngục trần gian” vẫn còn nguyên vẹn.

Anh Duyệt chia sẻ về hành trình sưu tầm những vỏ bom lớn.

Kể chuyện hòa bình bằng kỷ vật chiến tranh

Rất nhiều người đã lặng lẽ, dày công sưu tầm các hiện vật gắn với thời “mưa bom bão đạn”. Đó không chỉ là cách gìn giữ ký ức về tinh thần của cha ông ta trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại, mà còn hướng đến giáo dục thế hệ hôm nay biết trân trọng giá trị của hòa bình.

Sinh viên Đại học Sư phạm Hà Bắc trao đổi quà lưu niệm với sinh viên Việt Nam.

Hào khí thanh xuân trên dặm dài Hành trình đỏ

“Sui, sui, sui sui sui, suiii”… Cho tới thời điểm bước lên máy bay rời khỏi Côn Minh (Trung Quốc), trong đầu tôi vẫn âm vang tiếng hô của đoàn sinh viên Việt Nam, hòa cùng những người bạn dân tộc Di. Hào sảng, gắn kết và tràn ngập tiếng cười.

Nhà giàn thế hệ đầu tiên thiết kế dạng pông-tông đóng trên bãi cạn Phúc Tần. (Ảnh tư liệu)

Nhà giàn DK1 - Biểu tượng tinh thần thép

Gần 40 năm qua, hệ thống Nhà giàn DK1 sừng sững giữa biển trời như cột mốc khẳng định chủ quyền thềm lục địa thiêng liêng của Việt Nam. Trong chuyến vượt biển trước thềm xuân, chúng tôi đã có cơ hội tìm gặp những nhân chứng để ngược thời gian trở về giai đoạn ban đầu xây dựng nên “thành đồng” trên thềm lục địa phía nam Tổ quốc.

Chiến sĩ Nhà giàn DK1/11 đón đại biểu lên thăm và làm việc.

Những bông hoa trên sóng

Các Nhà giàn DK1 (Tiểu đoàn DK1) không chỉ là pháo đài, cột mốc trên biển mà còn là biểu tượng của ý chí và lòng yêu nước. Nơi đó, mỗi chiến sĩ luôn khắc cốt ghi tâm câu nói của cha anh đi trước: “Bão tố có thể bẻ cong sắt thép nhà giàn, nhưng không thể bẻ cong ý chí người lính DK1”.