Thúc đẩy kết nối, phát triển vận tải đa phương thức

Ngày 21/5, tại Hà Nội, Bộ Xây dựng tổ chức Hội nghị thúc đẩy kết nối, phát triển vận tải đa phương thức.

Toàn cảnh hội nghị (Ảnh: Minh Đức)
Toàn cảnh hội nghị (Ảnh: Minh Đức)

Theo số liệu của Cục Thống kê, sản lượng vận chuyển hàng hóa toàn ngành năm 2025 đạt hơn 3 tỷ tấn, tăng 14,1%; luân chuyển hàng hóa đạt 612 tỷ T.Km, tăng 13,1% so cùng kỳ. Trong đó, tăng trưởng sản lượng của các phương thức: đường bộ tăng 14,7%, đường sắt tăng 7,1%, đường thủy nội địa tăng 12,8%, hàng hải tăng 12,0%, hàng không tăng 4,4%. Kết quả trên đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt 8,02% (mức cao nhất giai đoạn 2011-2025).

Thị phần các phương thức vận tải hàng hóa năm 2025 nhìn chung ổn định so năm 2024; tỷ trọng vận chuyển hàng hóa theo phương thức năm 2025 gồm: đường bộ chiếm 75,2%, đường thủy nội địa 19,8%, đường biển 4,9%, đường sắt 0,18% và đường hàng không 0,02%. Tuy nhiên, vận tải đa phương thức mới chiếm khoảng 2-3% tổng sản lượng hàng hóa vận chuyển, trong khi vận tải đường bộ vẫn đảm nhiệm chủ đạo, vận tải đường sắt, đường thủy và hàng hải chưa phát huy hết vai trò do thiếu các điểm gom hàng, trạm trung chuyển, cảng cạn (ICD) hiệu quả.

Còn nhiều hạn chế

Theo Phó Vụ trưởng Vụ Vận tải và An toàn giao thông (Bộ Xây dựng) Đỗ Công Thủy, mặc dù hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông của Việt Nam những năm gần đây đã có bước phát triển đáng kể nhưng vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế cần khắc phục.

anh-ong-thuy.jpg
Phó Vụ trưởng Vụ Vận tải và An toàn giao thông (Bộ Xây dựng) Đỗ Công Thủy phát biểu tại hội nghị (Ảnh: Minh Đức)

Quy định tại các luật hiện hành điều chỉnh riêng biệt từng loại hình vận tải, dẫn đến nhiều quy định thiếu thống nhất; quy định về kết nối giữa các phương thức vận tải mới dừng ở mức nguyên tắc, chưa có quy định thống nhất điều chỉnh hoạt động vận tải đa phương thức và dịch vụ logistics với vai trò trung gian điều phối; chưa có hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật tích hợp cho cảng, ICD, trạm gom hàng. Việc điều chỉnh, bổ sung quy hoạch kết cấu hạ tầng hiện hữu phục vụ kết nối các phương thức gặp nhiều khó khăn do quy hoạch trước đây không có…

Hạ tầng giao thông đường bộ phát triển nhưng chưa theo kịp tốc độ tăng trưởng phương tiện. Hệ thống đường sắt lạc hậu, chưa có đường đôi, năng lực vận chuyển thấp, tốc độ chậm. Hệ thống cảng thủy nội địa chưa được đầu tư tương xứng (chỉ chiếm 2-3% tổng đầu tư hạ tầng giao thông hằng năm), chủ yếu là các cảng có quy mô nhỏ, chất lượng đầu tư thấp, sản lượng hàng hóa thông qua cảng thấp. Hạ tầng kết nối với đường bộ, đường sắt hạn chế...

Hệ thống cảng biển phát triển chưa đồng đều giữa các khu vực, một số khu vực phát triển cảng biển còn mang tính cục bộ, dư thừa công suất, dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các cảng trong cùng khu vực; việc bố trí vị trí neo đậu tại cảng biển cho phương tiện thủy thường xuyên gặp khó khăn; cảng biển hầu như chưa có kết nối với đường sắt, một số ít cảng có kết nối nhưng hoạt động không hiệu quả; thiếu hệ thống ICD, trung tâm logistics sau cảng...

Tính kết nối giữa các phương thức vận tải để phát huy hiệu quả của toàn hệ thống chưa cao, mất cân đối trong cơ cấu vận tải. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật kết nối đến cảng (luồng vào, đường hậu cần) thường xuyên chậm được đầu tư, dẫn đến tình trạng "thắt nút cổ chai", gây ùn tắc nghiêm trọng tại một số khu vực cảng trọng điểm.

Phương tiện thủy sử dụng động cơ cũ chiếm tỷ trọng quá cao (chiếm 96%), không đạt tiêu chuẩn phát thải IMO; phương tiện đường sắt có tuổi đời phương tiện cao, công nghệ lạc hậu, chưa đủ tiêu chuẩn tham gia hoạt động liên vận; máy bay chủ yếu là đi thuê, thiếu kiểm soát tiêu chuẩn môi trường; số lượng tàu biển vận chuyển container chiếm tỷ trọng thấp (chiếm 4,3%), chủ yếu tàu chở hàng rời (chiếm 70,3%). Quy mô doanh nghiệp nhỏ chiếm tỷ trọng lớn (khoảng 90%), hạn chế về vốn và công nghệ, chủ yếu làm dịch vụ môi giới cho các hãng tàu nước ngoài, chưa có khả năng cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức hoàn chỉnh…

Cùng với đó, việc số hóa chuỗi vận tải chưa đồng đều, các phương thức vẫn thiếu một nền tảng số đủ mạnh để liên thông thông tin phương tiện, lịch trình, bãi, slot, chứng từ và trạng thái hàng hóa. Sàn giao dịch vận tải hàng hóa hoạt động còn mang tính chất nhỏ lẻ, chưa tạo lập được niềm tin với chủ hàng, chưa thu hút được sự tham gia của các doanh nghiệp. Chuyển đổi xanh mới đang được thực hiện chủ yếu ở lĩnh vực đường bộ, các lĩnh vực khác hầu như chưa thực hiện do hạn chế về công nghệ và phương tiện.

Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) Trần Tiến Dũng cho biết thêm, hiện nay chi phí logistics của Việt Nam chiếm khoảng 16-17% GDP, cao hơn mức trung bình của toàn cầu 8-10%. Biến động giá nhiên liệu và chi phí nhân công trực tiếp tiếp tục làm gia tăng tổng chi phí dịch vụ logistics. Điểm nghẽn về hạ tầng quá tập trung cho đường bộ, trong khi đường sắt và đường thủy nội địa hiện chỉ đảm nhận khoảng 2% tổng lượng hàng hóa do thiếu kết nối đồng bộ với khu công nghiệp, cảng biển. Khoảng 90% doanh nghiệp vẫn ở giai đoạn đầu của chuyển đổi số, chủ yếu vẫn là doanh nghiệp vừa và nhỏ cho nên doanh nghiệp logistics Việt mới đạt khoảng 30% thị phần. Đồng thời, rủi ro về địa chính trị, biến đổi khí hậu cũng như áp lực về tiêu chuẩn xanh gia tăng cũng tác động lớn đến sự phát triển của các doanh nghiệp logistics…

Cảng biển là trung tâm kết nối các phương thức vận tải đa phương thức

Phó Vụ trưởng Vụ Vận tải và An toàn giao thông Đỗ Công Thủy cho biết, Bộ Xây dựng sẽ tập trung nghiên cứu cơ chế, chính sách phát triển vận tải đa phương thức lấy cảng biển làm trung tâm kết nối, vận tải đường thủy là chủ đạo, nhằm đa dạng các phương thức vận tải kết nối tới cảng cửa ngõ, trong đó các Cảng cạn-ICD-Khu công nghiệp là “vệ tinh gom hàng, trung tâm hậu cần” của cảng biển, tận dụng ưu thế gần chân hàng, gần các điểm sản xuất, tập trung hàng hóa.

Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu vận tải, hoàn thiện hệ thống và chỉ tiêu thống kê ngành giao thông vận tải, phục vụ công tác quản lý nhà nước, doanh nghiệp và người dân để làm cơ sở đánh giá, hoạch định chính sách phát triển dịch vụ vận tải, thời gian hoàn thành trong giai đoạn 2026-2028.

Tiếp tục cơ cấu thị trường vận tải theo hướng giảm thị phần vận tải đường bộ, tăng thị phần vận tải đường thủy, hàng hải, đường sắt, hàng không. Đặc biệt, nghiên cứu triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp đẩy mạnh phát triển vận tải đường thủy và vận tải sông pha biển.

Phát triển các trung tâm logistics hàng không, trong đó chú trọng trung tâm logistics nối dài ngoài sân bay, phục vụ các mặt hàng đặc biệt. Hình thành các trung tâm logistics hàng không, trong đó có khu vực phục vụ các mặt hàng đặc biệt...

Về lĩnh đường sắt, ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam đề xuất cần tập trung phát triển các hành lang vận tải đa phương thức bắc-nam theo hướng đường sắt đảm nhận vận tải container đường dài, đường bộ thực hiện gom hàng và phân phối cuối; đường biển đảm nhận vận tải xuất nhập khẩu và trung chuyển quốc tế và vận tải nội địa. Đồng thời, đẩy mạnh kết nối đường sắt với cảng biển, phát triển mạnh vận tải liên vận quốc tế thúc đẩy xã hội hóa đầu tư logistics đường sắt.

anh-anh-hai-cuc-xnk.jpg
Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) Trần Thanh Hải phát biểu tại hội nghị. (Ảnh: Minh Đức)

Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) Trần Thanh Hải nhận định cần có định hướng để phát triển đồng bộ, cân bằng giữa các phương thức vận tải, trong đó cần phát triển trung tâm logistics, có sự kết nối nhiều phương thức mới. Ông Hải đề nghị Bộ Xây dựng dành nguồn lực, diện tích phù hợp để phát triển các trung tâm logistics, các nhà ga tại các sân bay lớn nhằm tạo động lực phát triển.

anh-bo-truong.jpg
Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh phát biểu kết luận tại hội nghị. (Ảnh: Minh Đức)

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh đã giao các cơ quan chuyên môn tiếp thu đầy đủ các ý kiến tại hội nghị để nghiên cứu đưa vào Đề án Chiến lược phát triển dịch vụ vận tải đến năm 2035, tầm nhìn đến 2050 và quy hoạch 5 chuyên ngành lĩnh vực giao thông vận tải. Đáng chú ý, việc xác định và phát triển các hành lang vận tải đa phương thức ưu tiên sau sáp nhập địa giới hành chính cần được đặc biệt chú trọng.

Bộ trưởng nhấn mạnh tính cấp bách của việc rà soát, điều chỉnh quy hoạch tỉnh và các quy hoạch chuyên ngành giao thông vận tải, bảo đảm tính liên kết, đồng bộ, thống nhất, hiệu quả và bền vững làm cơ sở điều chỉnh kế hoạch đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông. Đồng thời, triển khai thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, xác định rõ danh mục các dự án ưu tiên đầu tư để tăng kết nối các phương thức vận tải tại địa phương và kết nối liên vùng. Cùng với đó, xây dựng cộng đồng doanh nghiệp vận tải tầm quốc tế, thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh toàn diện.

Bộ Xây dựng sẽ phối hợp các bộ, ngành chức năng nghiên cứu đề xuất cơ chế ưu đãi đầu tư để phát triển đội tàu biển, phương tiện thủy nội địa vận chuyển container có sức chở lớn, tốc độ vận chuyển nhanh; phát triển đội tàu bay hiện đại để cung cấp dịch vụ vận tải quốc tế; cơ chế hợp tác giữa doanh nghiệp cảng biển, hãng tàu, doanh nghiệp vận tải thủy với các cảng cạn/bến thủy nội địa nằm gần chân hàng; triển khai các giải pháp để kết nối trực tiếp giữa chủ hàng, chủ phương tiện vận chuyển để giảm chi phí trung gian; khuyến khích các doanh nghiệp phát triển và cung cấp giải pháp dịch vụ vận tải đa phương thức trọn gói.

Bộ trưởng đề nghị các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội, doanh nghiệp phối hợp chặt chẽ với Bộ Xây dựng tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách, tiếp thu kinh nghiệm quốc tế để triển khai đồng bộ, có hiệu quả các định hướng lớn.

Các doanh nghiệp vận tải tiếp tục đổi mới quản trị, liên kết các phương thức vận tải, hợp tác với doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu và đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát huy tinh thần tự lực, tự cường, đổi mới, sáng tạo, đoàn kết, hợp tác để vượt qua khó khăn, vươn ra khu vực và thế giới.

Có thể bạn quan tâm

Quốc hội làm việc tại hội trường. (Ảnh: DUY LINH)

Sửa đổi Luật Chứng khoán: Đẩy mạnh chuyển đổi số, đơn giản hóa thủ tục

Luật Chứng khoán được sửa đổi, bổ sung theo hướng đẩy mạnh hiện đại hóa, chuyển đổi số; cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng khoán; tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân tham gia thị trường; đồng thời có chính sách khuyến khích, đãi ngộ, phát triển và thu hút nguồn nhân lực cho ngành chứng khoán.

Xã Tân Phước Hưng, với hơn 1.600ha mía và là một trong những vùng nguyên liệu quan trọng của thành phố Cần Thơ. (Ảnh: VĂN ÚT)

Cây mía Cần Thơ tìm đường xuất khẩu, mở lối ra cho nông dân

Từ chỗ phụ thuộc vào nhà máy đường và thương lái, cây mía ở xã Tân Phước Hưng, thành phố Cần Thơ, đang có thêm hướng tiêu thụ thông qua chế biến mía tươi cấp đông và nước mía xuất khẩu. Tuy nhiên, để cơ hội này trở thành đầu ra bền vững, bài toán liên kết vùng nguyên liệu và bảo đảm chất lượng vẫn cần được giải quyết.

[Video] Hà Nội yêu cầu rà soát, giảm giá cước vận tải khi giá nhiên liệu giảm

[Video] Hà Nội yêu cầu rà soát, giảm giá cước vận tải khi giá nhiên liệu giảm

Ngày 17/10, Sở Xây dựng Hà Nội đề nghị các đơn vị kinh doanh vận tải hàng hóa, hành khách thực hiện kê khai giá cước, bảo đảm tính đúng, tính đủ các mục chi phí cấu thành giá cước vận tải; tuyệt đối không để xảy ra tình trạng tăng giá cước khi giá nhiên liệu tăng nhưng không kịp thời điều chỉnh giảm khi giá nhiên liệu đã giảm.

Các đại biểu tham dự trực tiếp tại Hội nghị. (Ảnh: VŨ TRÀ)

Tăng cường phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực chứng khoán và tài sản mã hóa

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước phối hợp Cục Phòng, chống rửa tiền thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức Hội nghị tập huấn về trách nhiệm triển khai các quy định pháp luật phòng, chống rửa tiền của các đối tượng báo cáo trong lĩnh vực chứng khoán và tài sản mã hóa, với sự tham dự của hơn 200 đại biểu.

Hoàn thiện chính sách và đẩy mạnh chuyển đổi số trong tiếp cận thông tin tài nguyên-môi trường là nền tảng cốt lõi giúp bảo đảm tính minh bạch, hỗ trợ phát triển kinh tế bền vững. (Ảnh: HNV)

Hoàn thiện chính sách, bảo đảm chuyển đổi số, thúc đẩy tiếp cận thông tin, phát triển kinh tế

Quan điểm “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng” được khẳng định và thể hiện rõ trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của nước ta trong những năm trở lại đây, nhất là khi Việt Nam tích cực cam kết "giảm phát thải ròng bằng 0", thực hiện mục tiêu "Netzero" vào năm 2050.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi trình bày Báo cáo thẩm tra về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2026 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2027. (Ảnh: DUY LINH)

Kịch bản điều hành năm 2027: Cần tính đến độ trễ của các cú sốc năm 2026

Về dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2027, Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội lưu ý kịch bản điều hành năm 2027 cần tính đến độ trễ của các cú sốc năm 2026, nhất là khả năng giá năng lượng tiếp tục ở mức cao, lạm phát “dồn nén” khi các biện pháp hỗ trợ thuế, phí được điều chỉnh.

Đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, bảo đảm tiến độ thực hiện các công trình, dự án. (Ảnh: MP)

Gắn xếp loại giải ngân với tiến độ thực hiện kế hoạch vốn

Từ kỳ báo cáo tháng 10/2026, việc chấm điểm giải ngân vốn đầu tư công được áp dụng chính thức với điều kiện xếp loại cao nhất gắn với tỷ lệ giải ngân thực tế. Bộ Tài chính đồng thời điều chỉnh thời hạn cập nhật dữ liệu, cách đánh giá chấp hành chế độ báo cáo để thống nhất quá trình thực hiện.

Một góc thành phố Quảng Ninh. (Ảnh: PHƯƠNG TRÀ)

Động lực tăng trưởng mới của thành phố trẻ Quảng Ninh

Với tinh thần gần dân, sát dân, để người dân được hưởng thụ những thành quả phát triển kinh tế-xã hội, thời gian qua, Quảng Ninh đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, nghị quyết sát với thực tiễn, đời sống Nhân dân, coi đây là động lực tăng trưởng bền vững và phát triển kinh tế-xã hội của thành phố trong giai đoạn mới.

Hội nghị thường niên của IMF và WBG năm 2026 diễn ra tại Bangkok, Thái Lan. (Ảnh: XUÂN SƠN)

Hội nghị IMF-WBG định hướng hợp tác quốc tế thúc đẩy tăng trưởng bền vững

Ngày 16/10, Phiên toàn thể Hội nghị thường niên của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Nhóm Ngân hàng Thế giới (WBG) năm 2026 diễn ra tại Bangkok, Thái Lan. Triển vọng kinh tế toàn cầu, những thách thức và định hướng hợp tác quốc tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng bền vững, bao trùm là các vấn đề được quan tâm hàng đầu tại sự kiện.

Tỉnh Sơn La tổ chức họp bàn giải pháp thực hiện kịch bản tăng trưởng quý IV năm 2026. Hội nghị được kết nối trực tuyến đến 75 điểm cầu xã, phường trong tỉnh. (Ảnh: QUỐC TUẤN)

Sơn La dồn lực tháo gỡ điểm nghẽn, tạo đột phá tăng trưởng cuối năm

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) 9 tháng năm 2026 của tỉnh Sơn La đạt 5,59%, thấp hơn kịch bản đề ra, tạo áp lực lớn đối với mục tiêu tăng trưởng cả năm. Trong hơn 2 tháng còn lại, Sơn La đang tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn, quyết tâm hoàn thành cao nhất các chỉ tiêu phát triển kinh tế-xã hội.