Dự án Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi) do Bộ Tài chính xây dựng tập trung vào 4 nhóm chính sách trọng tâm.
Cụ thể, nhóm chính sách 1 sẽ sửa đổi tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa, bổ sung quy định xác định một số nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa ưu tiên hỗ trợ, từ đó đề xuất xây dựng chính sách đặc thù hoặc thiết kế các chương trình hỗ trợ ưu tiên trong từng thời kỳ.
Nhóm chính sách 2 là sửa đổi, bổ sung các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa để thể chế hóa đầy đủ các chủ trương, định hướng của Bộ Chính trị về phát triển phát triển kinh tế tư nhân, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Nhóm chính sách 3 là phát triển hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Nhóm chính sách 4 tập trung đổi mới công cụ, phương thức, cơ chế tài chính thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và số hóa toàn diện quy trình hỗ trợ, giám sát và đánh giá kết quả hỗ trợ.
Phó Cục trưởng Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể, Bộ Tài chính Trịnh Thị Hương cho biết: Các nhóm chính sách hỗ trợ loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi) được thiết kế bổ sung nhằm kịp thời thể chế hóa các Nghị quyết của Bộ Chính trị, đặc biệt là Nghị quyết số 68 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Đó là các nhóm chính sách về tín dụng, tài chính, nhóm chính sách về hỗ trợ thuế và kế toán, hỗ trợ về đất đai, mặt bằng sản xuất và kinh doanh trong khu cụm công nghiệp, bổ sung quy định doanh nghiệp được tiếp cận với các quỹ tài sản công, trụ sở, nhà xưởng, mặt bằng sản xuất công còn dôi dư thông qua các hình thức; nhóm chính sách hỗ trợ về thông tin, tư vấn pháp lý và đào tạo theo hướng đẩy mạnh chuyển đổi số để doanh nghiệp thuận lợi trong việc tiếp cận các dịch vụ công và chính sách; nhóm chính sách nâng cao năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số…
Về những điểm mới trong nhóm chính sách về tài chính, tín dụng, Phó Cục trưởng Trịnh Thị Hương cho biết, đã bổ sung các quy định liên quan chính sách về tài chính, về tín dụng đã được quy định tại Nghị quyết số 68 cũng như 198 về các cơ chế chính sách đặc biệt cho khu vực kinh tế tư nhân vào trong lần này để sửa đổi, để cập nhật.
“Thí dụ như đẩy mạnh việc cho vay dựa trên dữ liệu dòng tiền hay là cho vay theo chuỗi giá trị hay là xem xét các tài sản bảo đảm là động sản hay tài sản vô hình chẳng hạn hay tài sản hình thành trong tương lai; bổ sung các quy định về đối tượng được tiếp cận với các chính sách ưu đãi về tín dụng”, bà Hương chia sẻ.
Góp ý về các chính sách này, ông Lê Anh Văn, Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đề nghị bổ sung rõ thêm các khái niệm cho các doanh nghiệp. Chẳng hạn như doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, doanh nghiệp về người khuyết tật, rồi kể cả những doanh nghiệp về đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp xanh, doanh nghiệp số. “Chúng ta khái niệm rõ để khi thực hiện các chính sách hỗ trợ đúng với tiêu chí. Thứ hai nữa là nhóm chính sách về tín dụng và tài chính, kế toán, về đất đai bị vướng do không thống nhất giữa các luật. Tôi đề nghị phải tương thích với các luật, cần làm rõ để bảo đảm được tính thực thi, thống nhất của pháp luật”, ông Văn nhấn mạnh.
Theo ông Nguyễn Tuấn Anh, đại diện Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cần nâng cao hiệu quả hoạt động của các quỹ tín dụng hỗ trợ, quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Ông Nguyễn Tuấn Anh đề xuất thêm: Để tạo ra sự tin cậy đối với tổ chức tín dụng để cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa thì cần phải xây dựng cơ sở dữ liệu doanh nghiệp nhỏ và vừa. Từ đó tạo dữ liệu đáng tin cậy về hoạt động, doanh thu, lợi nhuận, dòng tiền thực tế, nghĩa vụ thuế, bảo hiểm xã hội, lương, thanh toán các dịch vụ. Đây là một trong những nội dung rất quan trọng để cung cấp cho tổ chức tín dụng làm cơ sở cho vay không có tài sản bảo đảm.