Tăng hiệu quả xã hội hóa biên soạn sách giáo khoa

Thực hiện chủ trương đổi mới giáo dục, lần đầu tiên sách giáo khoa (SGK) giáo dục phổ thông được biên soạn theo hình thức xã hội hóa mang lại nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên để việc xã hội hóa SGK thật sự đáp ứng yêu cầu đổi mới, cần thêm những giải pháp đồng bộ từ cơ chế, chính sách đến thực tiễn triển khai.
Học sinh lựa chọn sách giáo khoa tại nhà sách. (Ảnh NGUYÊN KHÔI)
Học sinh lựa chọn sách giáo khoa tại nhà sách. (Ảnh NGUYÊN KHÔI)

Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, triển khai công tác xã hội hóa, tính đến nay có 7 nhà xuất bản và 12 công ty cổ phần tham gia biên soạn và liên kết biên soạn SGK. Các nhà xuất bản, công ty cổ phần căn cứ vào tiêu chuẩn theo quy định đã tuyển chọn và hợp đồng với tác giả chủ biên, tổng chủ biên, biên soạn soạn SGK với tổng số 3.844 tác giả gồm: Tiểu học là 1.485 tác giả, THCS có 1.245 tác giả, THPT có 1.114 tác giả. Cơ cấu đội ngũ tác giả đa dạng gồm chuyên gia, giảng viên của các trường đại học, viện nghiên cứu và lần đầu có đội ngũ giáo viên phổ thông tham gia góp phần phát huy được trí tuệ của thầy, cô giáo. Trong số các tác giả, số lượng GS chiếm tỷ lệ 6,8%, PGS chiếm tỷ lệ 21,2%; tiến sĩ tỷ lệ 36,2%, thạc sĩ chiếm 33,9% và 343 giáo viên, chiếm tỷ lệ 1,9%.

Theo Vụ trưởng Giáo dục Tiểu học (Bộ Giáo dục và Đào tạo) Thái Văn Tài, quá trình xã hội hóa, các đơn vị đã tuyển chọn được các tác giả biên soạn SGK công tác ở các vùng, miền khác nhau; các bộ sách được biên soạn với cách tiếp cận khác nhau, phù hợp với đặc điểm giáo dục của từng vùng, miền, sát với thực tế giảng dạy của các địa phương trong điều kiện cùng một chương trình giáo dục phổ thông. Việc xã hội hóa đã bảo đảm các môn học, hoạt động giáo dục đều có SGK, mỗi môn học có ít nhất là một SGK, môn học nhiều nhất là 10 SGK, đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người học, phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội và điều kiện tổ chức giảng dạy khác nhau giữa các vùng, miền trên phạm vi cả nước.

Đáng chú ý, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng được bộ tiêu chuẩn, tiêu chí giúp cho việc nhận xét, đánh giá SGK khách quan, công bằng, chính xác. Bộ huy động số lượng các thành viên tham gia Hội đồng quốc gia thẩm định SGK đông đảo, khoảng 1.404 thành viên. Công tác lựa chọn SGK được thực hiện theo quy trình chặt chẽ, tôn trọng và phát huy trí tuệ giáo viên; sự năng động hơn, trách nhiệm của các cán bộ, giáo viên, cơ quan quản lý giáo dục. Các nhà xuất bản, tổ chức, cá nhân đổi mới, sáng tạo, làm cho chất lượng, giá thành SGK ngày càng tốt hơn...

Quá trình triển khai phần lớn các địa phương đánh giá tốt và thực hiện hiệu quả công tác xã hội hóa. Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Nam Định Bùi Văn Khiết cho biết, việc triển khai xã hội hóa giúp giáo viên, học sinh có nhiều lựa chọn SGK phù hợp với quá trình và điều kiện giảng dạy, học tập. Giá của các bộ sách có sự cạnh tranh, bảo đảm lợi ích tối ưu cho học sinh; không còn sự độc quyền trong phát hành SGK, từ đó chất lượng các bộ sách được nâng cao và hoàn thiện. Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Nam Thái Viết Tường cho rằng, địa phương luôn chủ động nghiên cứu kỹ các văn bản, hướng dẫn của Bộ, đồng thời có văn bản hướng dẫn chi tiết cho cơ sở thực hiện; tôn trọng đề xuất của cơ sở giáo dục trong lựa chọn SGK. Vì vậy, kết quả lựa chọn SGK luôn phù hợp với đề xuất của cơ sở giáo dục, không có sai sót, được xã hội đồng tình, đánh giá cao.

Mặc dù đạt nhiều kết quả tích cực nhưng quá trình triển khai xã hội hóa biên soạn SGK cũng còn một số bất cập, vướng mắc. Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, một số ngữ liệu đưa vào SGK ở một số môn học còn xuất hiện những quan điểm khác nhau, gây băn khoăn trong dư luận khi đưa vào sử dụng; việc lựa chọn SGK ở một số nơi, ở một số thời điểm còn có khó khăn trong tổ chức thực hiện. Đáng chú ý, việc biên soạn, xuất bản SGK của một số môn học có ít học sinh học (như SGK các môn ngoại ngữ ngoài Tiếng Anh); biên soạn, xuất bản SGK dưới dạng sách chữ nổi Braille, SGK điện tử còn chậm được triển khai.

Từ thực tiễn triển khai, đại diện Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, do mỗi môn học, hoạt động giáo dục có một số SGK nên các bậc cha mẹ học sinh còn gặp khó khăn, mua nhầm sách. Việc tổ chức dạy học đối với một chương trình có nhiều SGK khiến cho khâu quản lý, chỉ đạo khó khăn. Đáng chú ý, ở bậc THCS và THPT, một số nội dung, thuật ngữ được sử dụng trong SGK chưa bảo đảm tính liên thông giữa các môn học, hoạt động giáo dục; tiến trình nội dung bài học của một môn học còn có sự chênh lệch đáng kể giữa các bộ SGK khác nhau. Bên cạnh đó, ngữ liệu, hình ảnh được sử dụng trong một số SGK chưa được chọn lọc, tinh giản; một số hình ảnh chưa được gia công tập trung vào nội dung chính cần biểu đạt; việc hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học còn hạn chế, câu hỏi khai thác ngữ liệu, văn bản, hình ảnh chưa sâu sắc, hiệu quả.

Để nâng cao chất lượng xã hội hóa biên soạn SGK, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết sẽ tiếp tục rà soát và bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật để tạo điều kiện cho việc xã hội hóa biên soạn SGK; ban hành quy định về giá tối đa của SGK theo quy định của Luật Giá; xây dựng, đề xuất Chính phủ và Quốc hội xem xét ban hành cơ chế để in ấn, phát hành SGK tiếng dân tộc, sách ngoại ngữ ngoài Tiếng Anh được biên soạn bằng ngân sách nhà nước; tiếp tục chỉ đạo việc xuất bản SGK chữ nổi Braille và SGK điện tử...

Theo Thứ trưởng Giáo dục và Đào tạo Phạm Ngọc Thưởng, việc xã hội hóa biên soạn SGK là một nhiệm vụ mới, khó khăn, phức tạp, nhạy cảm nhưng toàn ngành giáo dục đã nỗ lực đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Để tiếp tục nâng cao hiệu quả xã hội hóa biên soạn SGK, các nhà xuất bản cần rà soát các khâu liên quan để tiết kiệm các khâu trung gian, đa dạng khâu phát hành đến học sinh, giáo viên đúng, đủ, kịp thời, chất lượng, giá cả phù hợp. Các địa phương cần tiếp tục tăng cường nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên đối với việc đổi mới giáo dục nói chung, công tác biên soạn SGK nói riêng; tập trung chỉ đạo công tác quản lý, dạy học bảo đảm chất lượng. Cũng theo Thứ trưởng Phạm Ngọc Thưởng, các đơn vị chuyên môn của Bộ sẽ lắng nghe, tổng hợp các ý kiến để có những tiếp thu, chỉ đạo, điều chỉnh phù hợp.

Có thể bạn quan tâm

Sinh viên Học viện Ngân hàng trao đổi, thảo luận trong giờ học. (Ảnh: HVNH)

Gắn đào tạo đại học với nhu cầu doanh nghiệp

Nhiều cơ sở giáo dục đại học đang đưa doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào đào tạo, từ xác định nhu cầu nhân lực, xây dựng chương trình đến thực hành, nghiên cứu. Qua đó, liên kết Nhà nước-nhà trường-doanh nghiệp từng bước đi vào thực chất, gắn đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo với nhu cầu thị trường.

Các cơ sở giáo dục và đào tạo của Việt Nam tích cực thúc đẩy hợp tác quốc tế và hội nhập giáo dục, mở rộng quan hệ giữa với các cơ sở đại học, tổ chức giáo dục quốc tế. (Ảnh: NGUYỄN MẠNH)

Các cơ sở giáo dục tích cực kết nối, mở rộng hợp tác, học hỏi kinh nghiệm quốc tế

Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số mở ra không gian kết nối các doanh nghiệp công nghệ, cơ sở đại học, tổ chức giáo dục, các đơn vị phát triển giải pháp. Nhiều hoạt động ký kết, hợp tác đã được thực hiện, góp phần mở rộng mạng lưới hợp tác giữa các cơ sở giáo dục, doanh nghiệp trong nước với đối tác quốc tế.

Phiên hội thảo chuyên đề Giáo dục phổ thông. (Ảnh: Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Giá trị của AI phải được chứng minh bằng kết quả học tập

AI đang thay đổi cách dạy học và vận hành nhà trường, nhưng số hóa nhiều hơn chưa đồng nghĩa học sinh học tốt hơn. Tại Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số, ngày 8-9/10 tại Hà Nội, các chuyên gia nhấn mạnh giá trị của AI cần được kiểm chứng qua sự tiến bộ về kiến thức, tư duy và năng lực tự học của học sinh.

Quang cảnh tọa đàm chuyên gia “Định hình chân dung nhân tài thời đại 4.0” diễn ra chiều 8/10, trong khuôn khổ IECEE 2026. (Ảnh: BUV)

Trí tuệ nhân tạo làm thay đổi tiêu chí tuyển dụng đối với sinh viên mới tốt nghiệp

Không chỉ đòi hỏi kiến thức chuyên môn, doanh nghiệp ngày càng chú trọng khả năng ứng dụng công nghệ, giải quyết vấn đề, quản lý thời gian, giao tiếp và thích ứng của sinh viên mới tốt nghiệp. Đáng chú ý, trí tuệ nhân tạo (AI) đang bắt đầu làm thay đổi tiêu chí tuyển dụng ở nhiều vị trí việc làm.

Hội thảo quy tụ nhiều học giả, chuyên gia, nhà nghiên cứu và học viên cao học, nghiên cứu sinh trong nước và quốc tế. (Ảnh: FTU)

Hoàn thiện hệ sinh thái đào tạo sau đại học chuẩn quốc tế

Ngày 8/10, tại Hà Nội, Trường đại học Ngoại thương tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế dành cho người học sau đại học (ICGE 2026) với chủ đề "Tái định hình hợp tác trong một thế giới phân mảnh: Bằng chứng từ các doanh nghiệp, thị trường và chính sách".

Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số sáng khai mạc sáng 8/10. (Ảnh: NGUYỄN MẠNH)

Giáo dục trong kỷ nguyên số: Hợp tác để làm chủ công nghệ, phát triển con người

Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số tạo diễn đàn thúc đẩy hợp tác quốc tế và hội nhập giáo dục; mở rộng quan hệ giữa các cơ sở giáo dục Việt Nam và các tổ chức giáo dục quốc tế; chia sẻ mô hình, phương pháp và công nghệ đổi mới sáng tạo trong giảng dạy, học tập và quản trị.

Thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ và AI trong trường học

Thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ và AI trong trường học

Hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số quốc gia (10/10) và Tuần lễ học tập suốt đời năm 2026, sáng 8/10, Ngày hội khoa học và công nghệ cho học sinh phổ thông phường Vĩnh Hưng (Hà Nội) đã được tổ chức tại Trường tiểu học và THCS Vĩnh Hưng với sự tham gia của gần 1.000 học sinh.

Hình ảnh cuộc thi “Tìm hiểu Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu-Quốc Tử Giám” dành cho học sinh trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội. (Ảnh: BAN TỔ CHỨC)

Giáo dục di sản văn hóa ở trường học

Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt chỉ tiêu: Đến năm 2030, 100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hóa.

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu chúc mừng và tặng quà lưu niệm cho Hội Khuyến học Việt Nam.

Xây dựng xã hội học tập từ năng lực thực của mỗi người dân

Sau 5 năm triển khai các chương trình về học tập suốt đời và xây dựng mô hình “Công dân học tập”, các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt, vượt mục tiêu đề ra. Giai đoạn 2026-2030, trọng tâm được chuyển mạnh sang chất lượng thực của việc học, để mỗi người dân có cơ hội học, khả năng học và động lực học suốt đời.

Trao giấy Chứng nhận cho các thí sinh tham gia kỳ thi. (Ảnh: CTV)

Vĩnh Long: Gần 2.000 thí sinh tham gia cuộc thi chọn học sinh giỏi Giải toán trên máy tính cầm tay

Sáng 7/10, cuộc thi chọn học sinh giỏi Giải toán trên máy tính cầm tay năm học 2026-2027 chính thức được tổ chức đồng loạt tại 3 điểm thi trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long gồm: Trường trung học phổ thông Bến Tre, Trường trung học phổ thông chuyên Nguyễn Thiện Thành và Trường trung học phổ thông Lưu Văn Liệt.

Con đường tới trường mỗi ngày của cô giáo Phan Thị Lệ và em N.T.H. (Ảnh: LINH PHAN)

Ấm áp nghĩa cô trò nơi rẻo cao Lũng Trời

Sáng sáng, trên cung đường cua tay áo, cô giáo Phan Thị Lệ và em N.T.H. lại cùng nhau tới trường. Tiếng đá sỏi lạo xạo dưới bánh xe thi thoảng thay bằng tiếng ì oạp của bùn non trơn nhẫy. Bóng xanh của rừng cây và những con suối dần khuất lấp, cánh cổng Trường tiểu học Trương Lương dần hiện ra nơi chân mây.