Xây dựng hệ thống AI truy vết bệnh mạn tính dựa trên bằng chứng y khoa

Hệ thống OmiKG do doanh nghiệp Việt OmiGroup phát triển trên nền tảng AWS cho phép truy vết các cơ chế bệnh lý từ dữ liệu lâm sàng đến bằng chứng y khoa, qua đó hỗ trợ bác sĩ phân tích sâu hơn nguyên nhân của bệnh mạn tính.

OmiGroup, doanh nghiệp y tế số tại Việt Nam, vừa công bố hoàn thành thử nghiệm Hệ thống OmiKG. Ảnh: AWS
OmiGroup, doanh nghiệp y tế số tại Việt Nam, vừa công bố hoàn thành thử nghiệm Hệ thống OmiKG. Ảnh: AWS

OmiGroup, doanh nghiệp y tế số tại Việt Nam, vừa công bố hoàn thành thử nghiệm concept OmiKG, hệ thống suy luận nhân quả dựa trên bằng chứng y khoa cho bệnh mạn tính. Kết quả thử nghiệm cho thấy hệ thống có khả năng nhận diện và truy vết các cơ chế bệnh lý ở cấp độ phân tử.

OmiKG được phát triển và vận hành trên nền tảng Amazon Web Services (AWS), sử dụng Amazon Bedrock để trích xuất các mối quan hệ nhân quả từ tài liệu y sinh học khi xây dựng đồ thị tri thức, đồng thời phân tích chuỗi nhân quả dựa trên dữ liệu của từng bệnh nhân. Hạ tầng tính toán và lưu trữ được cung cấp thông qua Amazon EC2.

Giải bài toán lớn nhất của AI y tế: Kiểm chứng y khoa

Theo OmiGroup, một trong những thách thức của các hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI) trong y tế là khả năng giải thích và kiểm chứng kết quả. Với OmiKG, dữ liệu lâm sàng được ánh xạ lên đồ thị tri thức chuyên biệt, trong đó các mối quan hệ nhân quả được gắn với nguồn công bố và mức độ bằng chứng y khoa.

Cách tiếp cận này cho phép bác sĩ kiểm tra từng liên kết trong quá trình suy luận, truy về các công trình nghiên cứu làm cơ sở cho kết luận, thay vì chỉ nhận được một câu trả lời do mô hình AI tạo ra.

Hệ thống được thiết kế để phân tích các chuỗi nhân quả từ yếu tố khởi phát, rối loạn chức năng sinh học, thay đổi ở hệ thống sinh lý đến biểu hiện lâm sàng. Theo OmiGroup, cách tiếp cận này có thể giúp phân biệt những cơ chế khác nhau dẫn đến cùng một biểu hiện bệnh.

Chẳng hạn, cùng một triệu chứng mệt mỏi có thể liên quan đến những chuỗi cơ chế khác nhau, trong đó có sự thay đổi cortisol, IL-6 hoặc tình trạng viêm mạn tính. Việc xác định các con đường này có thể cung cấp thêm thông tin để bác sĩ xem xét nguyên nhân và hướng can thiệp.

Đại diện OmiGroup cho biết: "Chúng tôi khởi đầu với hệ thống tư vấn dinh dưỡng cho bệnh nhân đái tháo đường, và nhanh chóng nhận ra thách thức lớn nhất không nằm ở độ chính xác - mà ở khả năng kiểm chứng. Khi bác sĩ không thể truy vết cách một mô hình AI đưa ra kết luận, họ sẽ không đặt niềm tin vào nó.

Chính nhận thức đó đã thúc đẩy chúng tôi chuyển hướng sang suy luận có cấu trúc, dựa trên bằng chứng y khoa. Amazon Bedrock giúp một nhóm nghiên cứu nhỏ phát triển và xác thực hệ thống với tốc độ mà bình thường đòi hỏi nguồn lực lớn hơn rất nhiều".

Thúc đầy kết quả nghiên cứu tiến gần hơn tới ứng dụng thực tế

so-do-chuoi.png
Sơ đồ trực quan hóa chuỗi nhân quả của OmiKG, truy vết từ các yếu tố khởi phát qua rối loạn chức năng sinh học và hệ thống sinh lý đến biểu hiện lâm sàng. Ảnh: OmiKG

Trong một đánh giá có kiểm soát, hai chuyên gia lâm sàng độc lập thực hiện thẩm định mù đối với kết quả của OmiKG dựa trên 20 câu hỏi lâm sàng liên quan cơ chế bệnh đái tháo đường type 2.

Theo kết quả được OmiGroup công bố, OmiKG nhận diện được 15 trong số 17 cơ chế phân tử được sử dụng làm đại diện trong đánh giá. Hai phương pháp AI được đưa vào so sánh lần lượt nhận diện được một và không nhận diện được cơ chế nào trong nhóm này.

Kết quả đánh giá cũng cho thấy OmiKG vẫn bao quát phạm vi kiến thức tương đương các công cụ AI thông thường, theo OmiGroup. Điều này cho thấy việc tập trung vào suy luận dựa trên bằng chứng không nhất thiết phải đánh đổi khả năng bao quát thông tin.

Một điểm được nhóm nghiên cứu nhấn mạnh là kiến trúc của OmiKG cho phép xác định các vị trí cần cải thiện về độ trung thực của trích dẫn. Đây là cơ sở để nhóm tiếp tục hoàn thiện hệ thống thay vì chỉ đánh giá kết quả cuối cùng của mô hình.

Trong giai đoạn tiếp theo, OmiGroup dự kiến bổ sung kiến thức về can thiệp điều trị và ứng dụng lâm sàng, nhằm mở rộng hệ thống từ việc giải thích “vì sao” bệnh xảy ra sang hỗ trợ trả lời câu hỏi “nên làm gì”.

Ông Eric Yeo, Tổng Giám đốc AWS Việt Nam, nhận định: "Nghiên cứu của OmiGroup đang giải quyết một trong những thách thức quan trọng nhất của AI y tế: làm cho quá trình suy luận của AI trở nên minh bạch, truy vết được và giải thích được với bác sĩ".

"Kết quả thử nghiệm cho thấy một nhóm nghiên cứu tinh gọn, tập trung có thể tận dụng các dịch vụ AWS để phát triển những hướng tiếp cận tiềm năng cho y tế. Chúng tôi mong muốn tiếp tục đồng hành cùng OmiGroup trong quá trình đưa các kết quả nghiên cứu này tiến gần hơn tới ứng dụng thực tế”, ông Eric Yeo nhấn mạnh.

OmiKG dự kiến được giới thiệu tại Hội nghị thường niên AMIA 2026, diễn đàn về tin học y sinh và y tế, qua đó đưa phương pháp suy luận dựa trên bằng chứng của nhóm nghiên cứu tới cộng đồng tin học y sinh quốc tế.

Sau giai đoạn nghiên cứu, OmiGroup đang tìm kiếm cơ hội thí điểm OmiKG với các đối tác nền tảng dữ liệu y tế để đánh giá hệ thống trong quy trình lâm sàng thực tế dưới sự giám sát của bác sĩ. Doanh nghiệp cũng đang thảo luận với các đối tác về khả năng thương mại hóa, trước mắt tại Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Có thể bạn quan tâm

Thử nghiệm phương tiện bay không người lái (UAV) phát triển kinh tế không gian tầm thấp tại Điện Biên. (Ảnh: MST)

Việt Nam mở không gian tăng trưởng mới từ kinh tế tầm thấp

Ba khu thử nghiệm bay cấp quốc gia, mục tiêu nội địa hóa UAV trên 85% và đóng góp khoảng 1,5% GDP vào năm 2045 là những dấu mốc được đặt ra để phát triển kinh tế không gian tầm thấp, gắn làm chủ công nghệ với hình thành thị trường sản phẩm, dịch vụ mới.

Các thí sinh dự thi vòng chung kết Cuộc thi Gia Lai Youth HackAIthon năm 2026.

Tuổi trẻ Gia Lai tiên phong chuyển đổi số vì cộng đồng

Sáng 3/10, Ban Thường vụ Tỉnh đoàn Gia Lai phối hợp Trường đại học FPT cơ sở Quy Nhơn và Trường cao đẳng FPT Polytechnic Quy Nhơn khai mạc Trại sáng tạo số và Cuộc thi Gia Lai Youth HackAIthon năm 2026 với chủ đề “Thanh niên Gia Lai sáng tạo cùng AI - Chuyển đổi số vì cộng đồng”.

Diễn đàn công nghệ số Việt Nam-Nhật Bản 2026 với chủ đề “Cộng hưởng số Việt-Nhật: Đồng sáng tạo tương lai với trí tuệ nhân tạo và công nghệ chuyên sâu”. (Ảnh: Ban tổ chức)

Mở rộng hợp tác công nghệ Việt Nam-Nhật Bản theo hướng đồng sáng tạo

Từ nền tảng hợp tác phần mềm hơn hai thập kỷ, Việt Nam và Nhật Bản đang mở rộng sang nghiên cứu, phát triển công nghệ chuyên sâu và cùng đưa sản phẩm ra thị trường. Tại Diễn đàn công nghệ số Việt Nam-Nhật Bản 2026 ngày 2/10 tại Tokyo, hai bên nhấn mạnh chuyển từ cung ứng dịch vụ sang cùng giải quyết bài toán, tạo sản phẩm.

Các đồng chí lãnh đạo tỉnh và đại diện Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông Quân đội Viettel thực hiện nghi thức ra mắt Trung tâm giám sát, điều hành thông minh (IOC) và Ứng dụng Công dân số NinhBinh-S.

Ninh Bình ra mắt Trung tâm IOC, Ứng dụng NinhBinh-S

Ngày 2/10, tỉnh Ninh Bình tổ chức Hội nghị chào mừng Ngày Chuyển đổi số quốc gia (10/10), Ngày Công dân số Việt Nam (15/10) và ra mắt Trung tâm Điều hành thông minh (IOC), Ứng dụng Công dân số NinhBinh-S, phát động Tháng cao điểm triển khai “Bộ học liệu đa phương tiện”, lan tỏa phong trào “Bình dân học vụ số”.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Tuấn Hưng, Viện trưởng Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ phát biểu tại sự kiện. (Ảnh: CTV)

Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ triển khai chương trình 300 ngày đổi mới, phát triển

Ngày 2/10, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam công bố Kế hoạch thực hiện Chương trình “300 ngày đổi mới, phát triển Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ”, với thông điệp “3Đ-3P: Đổi mới để tạo đột phá-Phát triển để tạo giá trị”.

Hiện thực hóa chiến lược đưa Thành phố Hồ Chí Minh thành trung tâm trí tuệ nhân tạo

Hiện thực hóa chiến lược đưa Thành phố Hồ Chí Minh thành trung tâm trí tuệ nhân tạo

Thành phố Hồ Chí Minh đang đứng trước bước ngoặt khi bước vào kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo (AI), giai đoạn phát triển dựa trên nền tảng tri thức và đổi mới sáng tạo. Với vị thế là trung tâm tài chính và đổi mới sáng tạo, Thành phố đang tập trung tái cấu trúc từng bước chuyển mình thành một trung tâm AI hàng đầu khu vực.

Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định phát biểu tại phiên họp. (Ảnh: chinhphu.vn)

Bảo đảm hiệu quả triển khai các nhiệm vụ công nghệ chiến lược

Bộ Khoa học và Công nghệ đề nghị không triển khai những nhiệm vụ công nghệ chiến lược chưa đủ điều kiện, không đặt mục tiêu giải ngân bằng mọi giá; kinh phí phải gắn với từng mốc đánh giá và kết quả đầu ra. Nhiệm vụ không đạt yêu cầu phải dừng, điều chuyển nguồn lực sang nhiệm vụ có khả năng triển khai hiệu quả.

Các đại biểu tham quan, trải nghiệm các sản phẩm, giải pháp công nghệ của iTECH EXPO 2026. (Ảnh: MST)

Việt Nam thăng hạng GII: Đưa đổi mới sáng tạo thành sức cạnh tranh

Thuộc nhóm các nền kinh tế thu nhập trung bình thăng hạng đổi mới sáng tạo nhanh nhất từ năm 2013, Việt Nam ghi nhận những chuyển biến tích cực về kết quả đầu ra. Theo Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân, bước tiến tiếp theo cần sự đầu tư mạnh mẽ hơn của doanh nghiệp, cùng nền tảng nhân lực và nghiên cứu được củng cố.

Một trong ba nhóm sinh viên xuất sắc nhất trình bày sản phẩm game do nhóm phát triển tại Lễ tổng kết môn SE116 khóa đầu tiên. (Ảnh: Code Tour)

Trí tuệ nhân tạo thay đổi cách lập trình, nhưng không thay thế tư duy thuật toán

Khi trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng có khả năng hỗ trợ viết mã, yêu cầu đối với kỹ sư công nghệ đang dịch chuyển từ “biết viết code” sang hiểu bài toán, thiết kế lời giải, kiểm chứng và làm chủ công cụ. Trong bối cảnh đó, tư duy thuật toán vẫn được xem là nền tảng để người học thích ứng với những thay đổi nhanh của công nghệ.

Bộ trưởng Vũ Hải Quân và Viện trưởng Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam-Hàn Quốc Vũ Đức Lợi tại buổi làm việc. (Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Sẵn sàng cho giai đoạn 2 Dự án VKIST: Tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược

Giai đoạn 2 Dự án Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam–Hàn Quốc (VKIST) dự kiến triển khai từ năm 2026 đến 2033, tập trung nghiên cứu công nghệ chiến lược, phát triển nhân lực và thúc đẩy chuyển giao, thương mại hóa công nghệ, tăng cường kết nối viện nghiên cứu với doanh nghiệp hai nước.