Quy chế mới về đào tạo tiến sĩ: Chú trọng tăng cường liêm chính học thuật

Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, nhiều điều chỉnh trong Quy chế tuyển sinh và đào tạo tiến sĩ mới được Bộ ban hành, trong đó chú trọng bảo đảm liêm chính học thuật, học thật, nghiên cứu thật bảo đảm chất lượng đào tạo tiến sĩ. Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thu Thủy trao đổi về vấn đề này.

Quy chế mới về đào tạo tiến sĩ: Chú trọng tăng cường liêm chính học thuật

PV: Bà có thể cho biết chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo khi xây dựng Quy chế mới về đào tạo trình độ tiến sĩ?

Vụ trưởng Nguyễn Thu Thủy: Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ được ban hành kèm theo Thông tư số 08/2017/TT-BGDĐT ngày 4/4/2017 (Quy chế 08) trước khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học có hiệu lực. Do vậy, có một số quy định trong quy chế không còn phù hợp với quy định.

Bên cạnh đó, sau 4 năm thực hiện, qua kiểm tra, giám sát, căn cứ vào các báo cáo của các cơ sở đào tạo tiến sĩ cho thấy cần thiết điều chỉnh một số quy định để phù hợp với thực tế, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ. Cụ thể như quy định về người học, về người hướng dẫn, về thành viên các hội đồng đánh giá, việc tổ chức tuyển sinh, quản lý đào tạo (học chính quy, học trực tuyến, công nhận khối kiến thức đã tích lũy, bảo lưu kết quả học tập…).

Quan điểm của Bộ Giáo dục và Đào tạo khi xây dựng và ban hành Quy chế này là kế thừa những quy định tích cực và khả thi gắn với thực tế triển khai hoạt động đào tạo trình độ tiến sĩ của Quy chế 08 tại các cơ sở trong thời gian qua, đồng thời khắc phục một số hạn chế trong thực tiễn triển khai; Đặc biệt, tăng cường quy định bảo đảm liêm chính học thuật, học thật, nghiên cứu thật và nhấn mạnh vào vai trò tự chủ, trách nhiệm giải trình của cơ sở Giáo dục đại học theo Luật Giáo dục đại học (sửa đổi).

PV: Đâu là những điểm mới đáng chú ý trong Quy chế mới về tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ, thưa bà?

Vụ trưởng Nguyễn Thu Thủy: Quy chế tuyển sinh và đào tạo tiến sĩ mới tiếp tục mở rộng tự chủ và trách nhiệm giải trình; lượng hóa, chuẩn hóa những quy định về ngoại ngữ và năng lực nghiên cứu khoa học của người hướng dẫn và nghiên cứu sinh; quy định về tổ chức và quản lý đào tạo linh hoạt hơn.

Để mở rộng tự chủ và trách nhiệm giải trình của các cơ sở đào tạo tiến sĩ, Quy chế tiếp tục giảm thiểu những nội dung hướng dẫn chi tiết, thay vào đó, yêu cầu cơ sở đào tạo cụ thể hóa quy trình và thủ tục liên quan. Cơ sở đào tạo chịu trách nhiệm cao hơn về việc tổ chức triển khai thực hiện từ xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức tuyển sinh và công nhận nghiên cứu sinh, tổ chức đào tạo và cấp bằng tốt nghiệp.

Để lượng hóa, chuẩn hóa những quy định, đối với người dự tuyển, Quy chế bổ sung minh chứng về trình độ ngoại ngữ (sử dụng các chứng chỉ quốc gia theo khung ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam bên cạnh những chứng chỉ được quốc tế công nhận như IELTS, TOEFL,…).

Các bài báo, báo cáo khoa học trong danh mục tạp chí World of Sciences (WoS) và Scopus vẫn là yêu cầu để minh chứng cho kinh nghiệm và kết quả nghiên cứu khoa học của người hướng dẫn và đầu ra của nghiên cứu sinh. Bên cạnh đó, Quy chế bổ sung việc chấp nhận các sách chuyên khảo, các công bố tại các tạp chí trong nước có chất lượng tốt theo tiêu chuẩn đánh giá của Hội đồng Giáo sư nhà nước. Các ghi nhận chỉ áp dụng nếu là tác giả chính.

Quy chế cũng cho phép thay thế các công bố nghiên cứu khoa học bằng những kết quả nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ đã đăng ký và được cấp bằng độc quyền sáng chế quốc gia hoặc quốc tế; hoặc giải thưởng chính thức của cuộc thi quốc gia hoặc quốc tế trong lĩnh vực nghệ thuật và nhóm ngành thể dục, thể thao, được công nhận bởi cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

Cách tính điểm sẽ căn cứ theo khung điểm tối đa của Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định, với tổng điểm đối với người hướng dẫn là 4,0 và đối với đầu ra của nghiên cứu sinh là 2,0.

Một điểm mới nữa là các quy định về tổ chức và quản lý đào tạo trong Quy chế này linh hoạt hơn và do cơ sở tự chủ quyết định.

Theo đó, người học được tạo điều kiện bảo lưu kết quả học tập trong thời gian nhất định để tiếp tục theo học và nghiên cứu nếu có nhu cầu.

Quy chế điều chỉnh tăng số lượng nghiên cứu sinh/người hướng dẫn trong cùng một thời gian. Quy định này nhằm thu hút, tận dụng tri thức của những người đủ điều kiện để đóng góp vào công tác nghiên cứu, đào tạo thế hệ tương lai, nhưng không làm giảm chất lượng đào tạo.

Cụ thể: Giáo sư được hướng dẫn độc lập tối đa 7 nghiên cứu sinh; phó giáo sư hoặc tiến sĩ khoa học được hướng dẫn độc lập tối đa 5 nghiên cứu sinh; tiến sĩ được hướng dẫn độc lập tối đa 3 nghiên cứu sinh. Trường hợp đồng hướng dẫn 1 nghiên cứu sinh được tính quy đổi tương đương hướng dẫn độc lập 0,5 nghiên cứu sinh.

Các mốc thời gian đào tạo tiến sĩ cũng được thay đổi so với trước để đáp ứng yêu cầu đào tạo thực tiễn.

Theo đó, tổng thời gian đào tạo tiêu chuẩn là từ 3-4 năm. Tổng thời gian học tập nghiên cứu trước khi trình hồ sơ thực hiện quy trình phản biện độc lập và bảo vệ cấp cơ sở là 6 năm. Thời hạn để hoàn thành các thủ tục bảo vệ luận án ở cơ sở sau thời gian này là từ 6 tháng đến 1 năm theo tình hình thực tế do cơ sở đào tạo quyết định.

Để bảo đảm khách quan, công bằng và xác định đúng vai trò của phản biện độc lập, quy trình phản biện cũng có thay đổi.

Phản biện độc lập là một trong những kênh hỗ trợ cho cơ sở đào tạo nhìn nhận lại chất lượng đào tạo. Đánh giá của các chuyên gia bên ngoài cơ sở đào tạo về chất lượng luận án của nghiên cứu sinh là căn cứ để cơ sở đào tạo có giải pháp cải tiến quy trình đào tạo và nâng cao chất lượng.

Ngoài ra, quy trình phản biện có thể tiến hành hai lần, tăng so với 1 lần như quy định trước, nhằm đảm bảo nghiên cứu sinh và người đánh giá có cơ hội giải trình hoặc bảo lưu quan điểm trong nghiên cứu của mình.

PV: Quy chế bổ sung việc chấp nhận các sách chuyên khảo, các công bố tại các tạp chí trong nước có chất lượng tốt, theo bà điều này có ý nghĩa như thế nào?

Vụ trưởng Nguyễn Thu Thủy: Việt Nam hiện có trên 600 tạp chí khoa học, và trong hệ thống tạp chí được Hội đồng Giáo sư nhà nước tính điểm có hơn 400 tạp chí.

Chất lượng của một số tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín ở trong nước trong gần 5 năm vừa qua đã thật sự thay đổi rất tích cực và cần được ghi nhận. Chúng ta đang có 1 tạp chí được chỉ mục trong cơ sở dữ liệu SCIE (Science Citation Index Expansed); 6 tạp chí thuộc ESCI (Emerging Sources Citation Index) của Web of Sciences; 8 tạp chí Scopus và 18 tạp chí được chỉ mục trong cơ sở dữ liệu của ACI (ASEAN Citation Index).

Sự công nhận đối với các tạp chí trong nước sẽ là động lực để các tạp chí khoa học phấn đấu nâng cao chất lượng, tiệm cận với các tiêu chuẩn quốc tế bằng nội lực, từ đó, đẩy mạnh việc quan tâm xây dựng các tạp chí trong nước vươn lên đẳng cấp quốc tế.

Việc công bố các kết quả nghiên cứu qua các tạp chí có uy tín ở trong nước là một kênh để những sản phẩm khoa học có giá trị phù hợp với điều kiện của Việt Nam đến được với đông đảo những người quan tâm ở trong nước.

PV: Đối với các cơ sở đào tạo trình độ tiến sĩ, theo bà sẽ cần phải lưu ý điều gì khi Quy chế mới được triển khai thực hiện?

Vụ trưởng Nguyễn Thu Thủy: Đào tạo tiến sĩ là bậc đào tạo cao nhất trong giáo dục đại học và trong hệ thống giáo dục quốc dân, là đào tạo tinh hoa, đào tạo những nhà khoa học, những nhà nghiên cứu. Do đó, việc đào tạo phải chuẩn từ chất lượng đầu vào, đảm bảo cơ chế có sàng lọc trong quá trình đào tạo và đạt chuẩn chất lượng đầu ra, cũng như phải có tính hội nhập trong bối cảnh quốc tế hóa hiện nay.

Tuy nhiên, việc chuyển từ đào tạo theo số lượng sang chú trọng chất lượng sẽ tạo ra nhiều thách thức cho cả nghiên cứu sinh, người hướng dẫn và cơ sở đào tạo, nhất là khi trình độ và chất lượng đào tạo giữa các cơ sở, các lĩnh vực đào tạo chưa đồng đều.

Vì vậy, các cơ sở đào tạo tiến sĩ cần chủ động xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ nghiên cứu sinh, người hướng dẫn trong việc công bố nghiên cứu khoa học ở trong và ngoài nước; kết nối các đề tài nghiên cứu của cơ sở với đề tài nghiên cứu khoa học các cấp; đồng thời, tăng cường sự hợp tác giữa cơ sở đào tạo tiến sĩ - viện nghiên cứu và doanh nghiệp để hỗ trợ các nghiên cứu đặt hàng và chuyển giao công nghệ.

Xin trân trọng cảm ơn bà!

Có thể bạn quan tâm

Các học viên lớp xóa mù chữ ở bản Làng Sáng (Ảnh: Báo Nhân Dân)

Quản lý bằng dữ liệu với giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ, bảo đảm quyền học tập của người dân

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang xây dựng quy định về điều kiện bảo đảm, quy trình kiểm tra công nhận đạt chuẩn giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ với quan điểm xuyên suốt là bảo đảm quyền học tập của người dân, quản lý dựa trên dữ liệu, nâng cao trách nhiệm trong tổ chức thực hiện, duy trì kết quả giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ.

Ký kết Bản ghi nhớ về hợp tác giáo dục giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland (Ảnh: NGUYỄN MẠNH)

24 biên bản hợp tác được trao tại Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số

Trong khuôn khổ Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số, 24 biên bản ghi nhớ (MOU) giữa các cơ quan quản lý giáo dục, cơ sở giáo dục, tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam với các đối tác quốc tế đã được ký kết. Nội dung hợp tác tập trung vào đào tạo, nghiên cứu khoa học, phát triển nguồn nhân lực, giáo dục nghề nghiệp.

Quang cảnh hội nghị. (Ảnh: NH)

Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực sức khỏe

Sáng 9/10, tại Hà Nội, Trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội tổ chức khai mạc Hội nghị Khoa học sức khỏe với chủ đề “Chăm sóc sức khỏe toàn diện trong kỷ nguyên số”. Hội nghị diễn ra trong hai ngày 9 và 10/10 với 59 báo cáo khoa học thuộc các lĩnh vực y khoa, răng-hàm-mặt, dược và điều dưỡng.

Sinh viên Học viện Ngân hàng trao đổi, thảo luận trong giờ học. (Ảnh: HVNH)

Gắn đào tạo đại học với nhu cầu doanh nghiệp

Nhiều cơ sở giáo dục đại học đang đưa doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào đào tạo, từ xác định nhu cầu nhân lực, xây dựng chương trình đến thực hành, nghiên cứu. Qua đó, liên kết Nhà nước-nhà trường-doanh nghiệp từng bước đi vào thực chất, gắn đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo với nhu cầu thị trường.

Các cơ sở giáo dục và đào tạo của Việt Nam tích cực thúc đẩy hợp tác quốc tế và hội nhập giáo dục, mở rộng quan hệ giữa với các cơ sở đại học, tổ chức giáo dục quốc tế. (Ảnh: NGUYỄN MẠNH)

Các cơ sở giáo dục tích cực kết nối, mở rộng hợp tác, học hỏi kinh nghiệm quốc tế

Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số mở ra không gian kết nối các doanh nghiệp công nghệ, cơ sở đại học, tổ chức giáo dục, các đơn vị phát triển giải pháp. Nhiều hoạt động ký kết, hợp tác đã được thực hiện, góp phần mở rộng mạng lưới hợp tác giữa các cơ sở giáo dục, doanh nghiệp trong nước với đối tác quốc tế.

Phiên hội thảo chuyên đề Giáo dục phổ thông. (Ảnh: Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Giá trị của AI phải được chứng minh bằng kết quả học tập

AI đang thay đổi cách dạy học và vận hành nhà trường, nhưng số hóa nhiều hơn chưa đồng nghĩa học sinh học tốt hơn. Tại Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số, ngày 8-9/10 tại Hà Nội, các chuyên gia nhấn mạnh giá trị của AI cần được kiểm chứng qua sự tiến bộ về kiến thức, tư duy và năng lực tự học của học sinh.

Quang cảnh tọa đàm chuyên gia “Định hình chân dung nhân tài thời đại 4.0” diễn ra chiều 8/10, trong khuôn khổ IECEE 2026. (Ảnh: BUV)

Trí tuệ nhân tạo làm thay đổi tiêu chí tuyển dụng đối với sinh viên mới tốt nghiệp

Không chỉ đòi hỏi kiến thức chuyên môn, doanh nghiệp ngày càng chú trọng khả năng ứng dụng công nghệ, giải quyết vấn đề, quản lý thời gian, giao tiếp và thích ứng của sinh viên mới tốt nghiệp. Đáng chú ý, trí tuệ nhân tạo (AI) đang bắt đầu làm thay đổi tiêu chí tuyển dụng ở nhiều vị trí việc làm.

Hội thảo quy tụ nhiều học giả, chuyên gia, nhà nghiên cứu và học viên cao học, nghiên cứu sinh trong nước và quốc tế. (Ảnh: FTU)

Hoàn thiện hệ sinh thái đào tạo sau đại học chuẩn quốc tế

Ngày 8/10, tại Hà Nội, Trường đại học Ngoại thương tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế dành cho người học sau đại học (ICGE 2026) với chủ đề "Tái định hình hợp tác trong một thế giới phân mảnh: Bằng chứng từ các doanh nghiệp, thị trường và chính sách".

Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số sáng khai mạc sáng 8/10. (Ảnh: NGUYỄN MẠNH)

Giáo dục trong kỷ nguyên số: Hợp tác để làm chủ công nghệ, phát triển con người

Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số tạo diễn đàn thúc đẩy hợp tác quốc tế và hội nhập giáo dục; mở rộng quan hệ giữa các cơ sở giáo dục Việt Nam và các tổ chức giáo dục quốc tế; chia sẻ mô hình, phương pháp và công nghệ đổi mới sáng tạo trong giảng dạy, học tập và quản trị.

Thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ và AI trong trường học

Thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ và AI trong trường học

Hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số quốc gia (10/10) và Tuần lễ học tập suốt đời năm 2026, sáng 8/10, Ngày hội khoa học và công nghệ cho học sinh phổ thông phường Vĩnh Hưng (Hà Nội) đã được tổ chức tại Trường tiểu học và THCS Vĩnh Hưng với sự tham gia của gần 1.000 học sinh.

Hình ảnh cuộc thi “Tìm hiểu Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu-Quốc Tử Giám” dành cho học sinh trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội. (Ảnh: BAN TỔ CHỨC)

Giáo dục di sản văn hóa ở trường học

Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt chỉ tiêu: Đến năm 2030, 100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hóa.