Quảng bá hình ảnh đất nước qua việc dạy và học tiếng Việt

Việc dạy và học tiếng Việt trong cộng đồng người Việt Nam ở Lào không chỉ nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa, cội nguồn dân tộc, mà thông qua đó còn quảng bá, lan tỏa những hình ảnh đẹp về đất nước, con người Việt Nam đến với người dân Lào và bạn bè quốc tế.
Một tiết học tiếng Việt ở Trường song ngữ Lào-Việt Nam Nguyễn Du (thủ đô Vientiane, Lào). (Ảnh: Trịnh Dũng)
Một tiết học tiếng Việt ở Trường song ngữ Lào-Việt Nam Nguyễn Du (thủ đô Vientiane, Lào). (Ảnh: Trịnh Dũng)

Cộng đồng người Việt Nam ở Lào phần lớn sinh sống tại thủ đô Vientiane và có nhu cầu học tiếng Việt rất lớn. Chia sẻ với phóng viên Báo Nhân Dân, Phó Giám đốc Bệnh viện đa khoa Hà Nội-Viêng Chăn (Lào) Nguyễn Thị Thu Huyền cho biết, cách đây 10 năm, gia đình chị chuyển sang Lào sinh sống, khi ấy cô con gái lớn mới hơn 3 tuổi, tiếng Việt còn chưa sõi. Ở nhà, gia đình chị chỉ sử dụng tiếng Việt, nhưng do ở trường các cháu giao tiếp nhiều bằng tiếng Lào cho nên khả năng sử dụng tiếng Việt không tốt. Từ đó, chị Huyền chủ động thu xếp công việc cá nhân để dạy thêm tiếng Việt cho con.

Xuất phát từ tình cảm với quê hương và trải nghiệm cá nhân, chị Huyền mong muốn những người con gốc Việt khi gặp nhau có thể giao tiếp bằng tiếng Việt. Chị Huyền mượn địa điểm Chùa Phật Tích tại thủ đô Vientiane tổ chức các lớp dạy miễn phí tiếng Việt cơ bản cho con em của kiều bào và người Lào có nhu cầu. Đến nay, chị Huyền đã tổ chức được hai lớp học, mỗi lớp học trong ba tháng vào buổi tối, với tổng số hơn 60 học viên tham gia.

Toàn bộ kinh phí tổ chức đều do chị Huyền đứng ra lo, bản thân chị cũng trực tiếp tham gia giảng dạy cho các học viên. Bên cạnh đó, chị Huyền còn tổ chức lớp học tiếng Lào cơ bản cho cộng đồng người Việt Nam tại Lào. Chị Huyền còn dự định mở thêm lớp tiếng Việt nâng cao, nhằm giúp người học có thể sử dụng thành thạo.

Tham tán, Thường trực Ban Công tác cộng đồng, Đại sứ quán Việt Nam tại Lào Vũ Tú Oanh đánh giá cao và bày tỏ ủng hộ mở thêm các lớp dạy tiếng Việt. Đây là những hoạt động cần thiết và rất đáng quý, góp phần đáp ứng nhu cầu không chỉ của con em người Việt Nam, mà cả người Lào. Về lâu dài, cần tiếp tục nhân rộng mô hình như Trường song ngữ Lào-Việt Nam Nguyễn Du, nhất là ở những địa bàn có đông người Việt Nam sinh sống.

Trường song ngữ Lào-Việt Nam Nguyễn Du được hình thành năm 2005, trên cơ sở sáp nhập hai ngôi trường cấp tiểu học Nguyễn Du I và Nguyễn Du II. Hiệu trưởng Nguyễn Thị Thanh Hương cho biết, ngôi trường ban đầu do cộng đồng người Việt Nam ở thủ đô Vientiane mở, sau này phát triển thành Trường song ngữ, do Ban Chấp hành Hội Người Việt Nam ở thủ đô Vientiane nhận thấy sự cấp bách của việc dạy tiếng Việt cho con em trong cộng đồng. Hiện nhà trường có các cấp học từ mẫu giáo đến hết lớp 12, với 67 cán bộ, giáo viên và hơn 1.000 học sinh là con em kiều bào tại Lào và học sinh người Lào. Đặc biệt, số học sinh người Lào chiếm tới 2/3 tổng số học sinh của trường.

Em Nguyễn Lan Anh, 17 tuổi, học sinh lớp 12 Trường song ngữ Lào-Việt Nam Nguyễn Du cho biết, bố mẹ em là người gốc Việt Nam sinh sống ở Lào đã lâu, bản thân em cũng được sinh ra tại Lào. Lan Anh tự tin về khả năng tiếng Việt của mình và hy vọng sau khi tốt nghiệp lớp 12 sẽ theo học đại học tại Việt Nam. Hiện theo học lớp 9, Trần Hiểu Anh, 16 tuổi, cũng có bố mẹ từ Việt Nam sang Lào công tác và sinh sống cho nên em chuyển sang theo học tại Lào.

Lan Anh và Hiểu Anh chia sẻ, ở trường, các em nhận được sự chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của các thầy, cô giáo, giúp các em giao tiếp và sử dụng thành thạo tiếng Việt. Khi ở nhà, các em cũng thường xuyên sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp với các thành viên gia đình, chăm đọc sách, báo, xem các kênh truyền hình bằng tiếng Việt để nâng cao vốn từ và khả năng sử dụng tiếng Việt.

Theo cô Thanh Hương, chương trình giảng dạy của trường tuân thủ quy định của Bộ Giáo dục và Thể thao Lào, riêng môn tiếng Việt được ưu tiên giảng dạy từ bốn đến tám tiết học mỗi tuần, các em nhỏ được học nhiều hơn. Môn tiếng Việt được dạy theo giáo trình tiếng Việt dành cho người Việt Nam ở nước ngoài, do Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam biên soạn. Đội ngũ giáo viên nhà trường luôn xác định trách nhiệm không đơn thuần là dạy ngôn ngữ, mà còn gieo trồng và lan tỏa tình yêu tiếng Việt. “Chúng tôi hy vọng mỗi học sinh tốt nghiệp sẽ là một đại sứ văn hóa và ngôn ngữ của Việt Nam trên đất nước Lào, để các em mang những hình ảnh đẹp về đất nước, con người Việt Nam lan tỏa đến với người dân Lào và bạn bè quốc tế”, cô Thanh Hương bày tỏ.

Có thể bạn quan tâm

Trần Ngọc Vàng và nghệ sĩ Thanh Thủy trong phim. (Ảnh: Galaxy Studio)

“Heo Năm Móng” đạt top 1 phòng vé điện ảnh mùa lễ 30/4

“Heo Năm Móng” nhanh chóng trở thành hiện tượng trên các diễn đàn điện ảnh và mạng xã hội, không chỉ nhờ chiến lược truyền thông hiệu quả, mà còn bởi hiệu ứng lan tỏa sau công chiếu. Sau 6 ngày ra mắt, phim chạm mốc 50 tỷ đồng, trở thành phim có doanh thu Top 1 phòng vé trong thời điểm ra mắt.

Nhà báo Hữu Việt và các diễn giả Phạm Thị Kim Oanh, Phan Cẩm Tú tại buổi tọa đàm. (Ảnh: HỒNG QUÂN)

Bảo vệ bản quyền từ góc nhìn của lĩnh vực điện ảnh

Trong các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, điện ảnh là một trong số những loại hình bị vi phạm bản quyền nhiều nhất. Ở kỷ nguyên số, công nghệ và trí tuệ nhân tạo là sự tiến bộ nhưng cũng là những công cụ đắc lực để sao chép và phát tán sản phẩm điện ảnh, gây ảnh hưởng nặng nề nhiều mặt.

Phối cảnh công trình biểu tượng bông lúa Cà Mau.

Giá trị văn hóa từ "Biểu tượng bông lúa" ở Cà Mau

Sự phát triển của một địa phương trong kỷ nguyên mới không chỉ được đong đếm một cách cơ học bằng những con đường rải nhựa, hay những cây cầu bê-tông nối nhịp đôi bờ. Tầm vóc và sức sống của một vùng đất còn được khắc họa đậm nét qua những biểu tượng văn hóa mang tầm nhìn chiến lược.

Cảnh trong vở kịch ngắn “Chuyện nhà chị Tín” của Nhà hát Kịch Việt Nam biểu diễn tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. (Ảnh: THƯƠNG NGUYỄN)

Mở lối để sân khấu tiếp cận công chúng

Không thiếu những cuộc thi, liên hoan được tổ chức rầm rộ, những vở diễn mới liên tục ra mắt mỗi năm, nhưng sân khấu nước ta vẫn đang loay hoay đi tìm khán giả. Lý do tình trạng này là bởi các đơn vị chức năng chưa xây được nhịp cầu đủ mạnh để kết nối với công chúng trong môi trường truyền thông đang thay đổi từng ngày.

Các văn nghệ sĩ trong chuyến đi thực tế tại mỏ than ở Quảng Ninh vào dịp Ngày Thơ Việt Nam năm 2026. (Ảnh: THIÊN AN)

Chuyển động mới của văn học viết về công nhân

Trong dòng chảy của văn học đương đại, đề tài công nhân từng là mạch nguồn quan trọng, được khai thác nhiều, nhưng cũng có giai đoạn gần như vắng bóng. Vài năm trở lại đây, mảng đề tài này được quan tâm hơn, không còn bó hẹp trong khuôn mẫu cũ mà thể hiện góc nhìn đa chiều, gắn với nhịp vận động của xã hội hiện đại. 

Hơn 50.000 khán giả có mặt tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình thưởng thức chương trình “Tổ quốc trong tim”. (Ảnh THÀNH ĐẠT)

Hoàn thiện thể chế, tạo đà cho văn hóa bứt phá

Ngày 24/4, Quốc hội chính thức thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam với tỷ lệ tán thành cao (477/489 đại biểu). Nghị quyết đánh dấu bước chuyển quan trọng trong hoàn thiện thể chế, tạo đà cho văn hóa thật sự bứt phá, trở thành nguồn lực nội sinh và động lực đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn mới.

Nguyễn Bảo Yến (áo vàng) và các thành viên Hội đồng đánh giá luận án và các giảng viên hướng dẫn của Nhạc viện Quốc gia S.V.Rachmaninov.

Nguyễn Bảo Yến: Từ Quán quân Sao Mai đến Tiến sĩ âm nhạc đầu tiên của Việt Nam ở nước ngoài

Tại Nhạc viện Quốc gia S.V.Rachmaninov bên dòng sông Đông của nước Nga vừa diễn ra một sự kiện đáng nhớ khi Quán quân Sao Mai năm 2015 Nguyễn Bảo Yến bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ chuyên ngành âm nhạc. Cô cũng là nữ ca sĩ Việt Nam đầu tiên được nhận học vị Tiến sĩ âm nhạc ở nước ngoài.