Thách thức của xã hội số
Trong thời đại công nghệ, mạng xã hội đã trở thành một phần quan trọng trong việc học hỏi, tương tác, thể hiện bản thân, kết nối, mở rộng mối quan hệ. Tuy nhiên, với đặc điểm lan truyền nhanh, phạm vi tiếp cận rộng, khả năng ẩn danh cùng với cơ chế khuếch đại nội dung của các nền tảng số, môi trường mạng cũng đang trở thành mảnh đất màu mỡ cho bạo lực ngôn từ phát triển với tốc độ nhanh chóng. Theo TS Nguyễn Thị Tuyết Nhung, bạo lực ngôn từ được hiểu là hành vi sử dụng lời nói, văn bản, hình ảnh có chứa nội dung xúc phạm, đe dọa, miệt thị, phân biệt đối xử, quấy rối, làm nhục hoặc cố ý hạ thấp danh dự, nhân phẩm của người khác thông qua các phương tiện số. Đó có thể là những bình luận nhằm công kích cá nhân, chế giễu ngoại hình, giới tính, phát tán thông tin riêng tư, tấn công hội đồng, liên tục đe dọa một cá nhân, một tổ chức trên mạng xã hội. Bạo lực ngôn từ không đơn giản là ứng xử thiếu văn minh, mà dưới góc độ an ninh mạng, đây là một khía cạnh thiếu an toàn với người dùng, hậu quả xảy ra khó có thể lường trước.
Theo kết quả nghiên cứu của Trường đại học Y tế công cộng Hà Nội công bố tháng 4/2024 cho thấy: 89,5% sinh viên được hỏi từng trải qua bạo lực mạng dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó 84,9% là nạn nhân trực tiếp, 55,6% từng gây ra hành vi bạo lực và 82,4% đã chứng kiến các vụ việc bạo lực mạng. Đáng lo ngại, tỷ lệ nữ giới bị bạo lực mạng cao hơn nam giới, các hình thức phổ biến nhất bao gồm tin nhắn đe dọa, xúc phạm, hình ảnh không phù hợp và âm thanh xúc phạm. Kết quả cũng chỉ ra chủ đề bạo lực thường gặp nhất liên quan đến quan hệ tình cảm (86,6%), trong đó Facebook vẫn là nền tảng mạng xã hội có tỷ lệ bạo lực cao nhất (54,4%).
Nạn nhân của bạo lực ngôn từ thường phải chịu ảnh hưởng lớn về sức khỏe tinh thần như lo lắng, căng thẳng, trầm cảm, mất tự tin và có thể dẫn đến hành vi tự làm hại bản thân. Không ít câu chuyện đau lòng đã xảy ra. Tháng 8 vừa qua, tại Hội nghị Phổ biến, hướng dẫn Luật An ninh mạng và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Thượng tá Nguyễn Đình Đỗ Thi, Phó Trưởng phòng 1, Cục An ninh mạng (Bộ Công an) cho biết, đã có hàng chục vụ việc học sinh tự tử sau khi bị xúc phạm, bôi nhọ trên không gian mạng. Có em để lại thư tuyệt mệnh nói rằng không chịu được áp lực từ những thông tin xuyên tạc và bình luận ác ý trên mạng.
Theo TS Trần Kim Bá, nạn nhân của bạo lực ngôn từ trên mạng thuộc nhiều nhóm khác nhau. Nhóm học đường thường chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do các em còn ít tuổi, kiến thức xã hội chưa nhiều, chưa có khả năng chống chịu với những lời công kích độc hại. Một học sinh bị bạn bè chế giễu, bị lan truyền tin đồn tiêu cực, bị tấn công trên mạng sẽ có thể luôn thấy bất an, tránh giao tiếp, giảm tập trung, học kém, bỏ học hoặc tự cô lập. Ở người lớn, bạo lực ngôn từ có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự cá nhân, uy tín nghề nghiệp, mất cơ hội việc làm. Đối với các nhóm dễ bị tổn thương như người khuyết tật, dân tộc thiểu số, bạo lực ngôn từ có thể khiến họ ngày càng tự ti, ngần ngại không dám tham gia các hoạt động xã hội, học tập để phát triển bản thân. Trong một tập thể, bạo lực ngôn từ khiến suy giảm niềm tin giữa con người với con người. Những công kích cá nhân làm hạn chế tính đối thoại lành mạnh, suy giảm tính phản biện và minh bạch, không có lợi cho trao đổi tri thức, học hỏi.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ: “Thách thức lớn nhất đối với văn hóa hôm nay không chỉ là thiếu nguồn lực, mà là nguy cơ xói mòn hệ giá trị, lệch chuẩn hành vi, thực dụng hóa, bạo lực ngôn từ, tin giả, tin thất thiệt và sự tấn công của những yếu tố độc hại trong không gian mạng. Nếu không kịp thời chấn hưng văn hóa, chúng ta có thể tăng trưởng nhanh trong ngắn hạn nhưng sẽ thiếu điểm tựa dài hạn. Con người có thể giàu lên nhưng nghèo đi về chuẩn mực, về lòng tự trọng, về trách nhiệm công dân và về khát vọng cống hiến”.
“Lá chắn thép” bảo vệ
Việt Nam là một trong những quốc gia đứng đầu thế giới về tỷ lệ người dùng internet (khoảng 78,44 triệu người) và mạng xã hội (72,3 triệu người), tương đương 73,3% tổng dân số. Môi trường mạng vì thế có sức ảnh hưởng vô cùng mạnh mẽ đối với từng người dân. Phòng, chống bạo lực ngôn từ trên mạng chính là bảo vệ quyền được sống an toàn về tinh thần cho cộng đồng. Muốn thực hiện tốt điều này, cần xây dựng một “lá chắn thép” với nhiều lớp hàng rào bảo vệ. Trên thực tế, hiện nay công nghệ trong kiểm duyệt nội dung trên các nền tảng mạng vẫn còn hạn chế. AI và thuật toán chưa đủ thông minh để hiểu hết nghĩa trong tiếng Việt, bởi tiếng Việt vốn đa nghĩa, nhiều tiếng lóng nên dễ bị bỏ sót hoặc hiểu sai ngữ nghĩa. Hơn nữa, việc kiểm duyệt các nội dung xấu độc đang phụ thuộc phần lớn vào báo cáo của người sử dụng, sự phối hợp từ nhà cung cấp và cơ quan chức năng chưa được chặt chẽ. Tham luận của Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Công an tại Hội thảo “Phát huy giá trị văn hóa Việt Nam thành một động lực quan trọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”, ngày 10/10 vừa qua, tiếp tục cảnh báo tình trạng bạo lực ngôn từ, thông tin giả, văn hoá ứng xử lệch chuẩn trên không gian mạng có xu hướng gia tăng, đe dọa trực tiếp đến các giá trị đạo đức, truyền thống tốt đẹp của gia đình và xã hội. Các biểu hiện bao gồm: phát ngôn lệch chuẩn và bạo lực lăng mạ, miệt thị, lan truyền thông tin sai lệch hoặc bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự người khác, thờ ơ, vô cảm trước cái sai, hùa theo đám đông kích động trên mạng xã hội, chia sẻ nội dung chưa kiểm chứng, lan truyền tin giả, thông tin giật gân, hoặc xuyên tạc các chủ trương, đường lối để câu view, câu like.
TS Đỗ Thị Kim Oanh cho rằng, một trong những giải pháp căn cơ đầu tiên là nâng cao năng lực số cho người dân, đặc biệt là trẻ em và thanh thiếu niên. Trong xã hội công nghệ, một người không chỉ biết sử dụng thiết bị, phần mềm hay các nền tảng trực tuyến mà còn phải có năng lực đánh giá thông tin, nhận diện các nguy cơ rủi ro, thiếu an toàn trong tiếp nhận thông tin, có thái độ tôn trọng quyền riêng tư và dám chịu trách nhiệm về hành vi của mình trên môi trường mạng. Theo chuyên gia, giáo dục phòng, chống bạo lực ngôn từ cần được tích hợp vào chương trình giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, giáo dục pháp luật cho học sinh trong nhà trường. Đồng thời trang bị cho các em những kỹ năng ứng xử khi mình là nạn nhân, biết cách tìm kiếm giải pháp hỗ trợ khi cần thiết. Về phía gia đình, cha mẹ và người thân có vai trò quan trọng giúp trẻ em xây dựng năng lực cảm xúc, biết tôn trọng sự khác biệt, không sử dụng các ngôn từ mang tính công kích, chễ giễu, xúc phạm người khác trên mạng xã hội.
Tăng cường hơn nữa trách nhiệm của các nền tảng số cũng là giải pháp khả thi. Theo đó, các nhà cung cấp được yêu cầu gia tăng các biện pháp kỹ thuật trong kiểm duyệt nội dung, tích hợp thêm các tính năng cảnh báo người dùng. Trong trường hợp có dấu hiệu đe dọa nghiêm trọng hoặc xâm phạm dữ liệu cá nhân, các nền tảng phải có quy trình xử lý ưu tiên, thường xuyên phối hợp các cơ quan chức năng để giải quyết theo quy định của pháp luật. Việc ứng dụng AI vào kiểm duyệt nội dung cần có cơ chế giám sát, với các tiêu chí được đề cập rõ ràng nhằm ngăn chặn các hành vi gây hại nhưng vẫn bảo đảm tính tranh luận tích cực, tránh việc thuật toán nhận diện sai những phê bình, phản biện hợp pháp với bạo lực ngôn từ.
TS Trần Kim Bá nhận định, bên cạnh xử lý các hành vi vi phạm cần hoàn thiện các cơ chế hỗ trợ nạn nhân. Môi trường mạng dù ảo nhưng đã từng để lại những hậu quả đáng tiếc, di chứng nặng nề trong đời thật. Cần hình thành các đường dây nóng tiếp nhận thông tin và có chuyên gia đánh giá kịp thời mức độ nguy hiểm của từng trường hợp, triển khai các biện pháp bảo vệ, kịp thời hỗ trợ tâm lý cho nạn nhân; tăng cường truyền thông nâng cao nhận thức cho người dân khi tham gia môi trường mạng.
Giữ không gian mạng trong sạch, văn minh là nhiệm vụ sống còn trong quản trị xã hội thời kỳ mới. Vì vậy, chống bạo lực ngôn từ chính là bảo vệ môi trường an toàn để mọi công dân số có thể yên tâm học tập, kết nối, sáng tạo, tìm kiếm cơ hội phát triển bản thân, từ đó đóng góp xây dựng đất nước.