Trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân, Tiến sĩ Huỳnh Thanh Điền, chuyên gia kinh tế, giảng viên Trường đại học Nguyễn Tất Thành, cho rằng để tư duy mới đi vào thực tiễn, cần trao thực quyền cho cơ chế điều phối vùng, minh bạch hóa việc chia sẻ nguồn lực, lợi ích và biến các dự án hạ tầng lớn thành “đơn hàng phát triển công nghiệp” cho doanh nghiệp Việt Nam.
Khắc phục đầu tư dàn trải, khai thác hiệu quả không gian phát triển mới
Phóng viên: Tại Hội nghị học tập, quán triệt, triển khai Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị, sáng 3/9, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh phát triển vùng là phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia, “không phải phép cộng các kế hoạch địa phương”; đồng thời yêu cầu chuyển từ không gian hành chính sang không gian phát triển đa tầng, đa cực, theo chức năng, lợi thế và chuỗi giá trị. Theo ông, sự chuyển đổi tư duy này có ý nghĩa như thế nào đối với việc khai thác các không gian phát triển mới sau sắp xếp đơn vị?
Tiến sĩ Huỳnh Thanh Điền: Lâu nay, liên kết vùng tuy đã được đề cập nhưng trên thực tế vẫn triển khai chủ yếu theo địa giới hành chính. Mỗi địa phương tự quy hoạch, đầu tư hạ tầng, chuẩn bị nguồn lực và thu hút đầu tư; thậm chí cùng theo đuổi những mục tiêu, ngành nghề tương tự dù tiềm năng và lợi thế khác nhau.
Cách làm này dẫn tới tình trạng nhiều địa phương cùng đầu tư khu công nghiệp, logistics, đô thị, cảng và các dự án quy mô lớn, làm phân tán nguồn lực, trùng lặp và thiếu kết nối. Lợi thế bổ trợ giữa các địa phương chưa được phát huy, thậm chí có nơi còn cạnh tranh lẫn nhau, làm giảm sức cộng hưởng của toàn vùng.
Điểm mới của Nghị quyết số 27-NQ/TW là chuyển từ phát triển riêng lẻ từng địa phương sang xem toàn vùng như một hệ sinh thái thống nhất. Mỗi địa phương được phân vai theo chức năng, tiềm năng và lợi thế, đồng thời kết nối thông qua chuỗi giá trị, hạ tầng, lao động, dữ liệu và các hành lang kinh tế. Chẳng hạn, địa phương có thế mạnh nông nghiệp tập trung xây dựng vùng nguyên liệu; địa phương có lợi thế công nghiệp phát triển chế biến, chế tạo; đô thị lớn đảm nhận các chức năng tài chính, thương mại, khoa học, công nghệ, đào tạo và logistics. Sự chuyên môn hóa và liên kết này sẽ nâng cao giá trị chung của toàn vùng.
Theo đó, cơ chế, chính sách và mục tiêu phát triển phải phù hợp chức năng của từng địa phương trong tổng thể vùng. Không phải địa phương nào cũng cần tăng trưởng hai con số hoặc có cùng một cơ cấu kinh tế. Nơi giữ vai trò cực tăng trưởng cần phát triển nhanh; nơi bảo đảm an ninh lương thực, nguồn nước, hệ sinh thái hoặc vùng nguyên liệu cần hướng đến tăng trưởng ổn định, bền vững. Điều quan trọng là mức đóng góp của từng địa phương vào hiệu quả chung của vùng và quốc gia.
Tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Cần Thơ được xác định là cực tăng trưởng, đảm nhận vai trò trung tâm dịch vụ, logistics, đào tạo, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp. Trong khi đó, An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long phát huy lợi thế về sản xuất nông nghiệp, thủy sản, vùng nguyên liệu, chế biến và du lịch sinh thái. Không gian phát triển của vùng được mở rộng thông qua hệ thống cao tốc, tuyến đường sắt Thành phố Hồ Chí Minh-Cần Thơ-Cà Mau, cảng biển và các trung tâm logistics, qua đó kết nối sản xuất với chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu.
Tương tự, tại vùng Đông Nam Bộ, Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò trung tâm tài chính, thương mại, nghiên cứu và phát triển, đào tạo nhân lực, đổi mới sáng tạo và logistics; Đồng Nai phát huy lợi thế về công nghiệp, Cảng hàng không quốc tế Long Thành và hệ thống logistics; Tây Ninh phát triển kinh tế biên giới, công nghiệp và kết nối với Campuchia. Hành lang Mộc Bài-Thành phố Hồ Chí Minh-Biên Hòa-Vũng Tàu kết nối cửa khẩu, trung tâm tài chính-thương mại, khu vực sản xuất công nghiệp, sân bay và cảng biển, hình thành một chuỗi không gian kinh tế thống nhất.
Trong mô hình này, vùng động lực và cực tăng trưởng có nhiệm vụ tập trung nguồn lực, dẫn dắt và lan tỏa thị trường, vốn, công nghệ, nhân lực, dịch vụ đến các địa phương chung quanh. Các hành lang kinh tế kết nối những cực này với vùng sản xuất, khu công nghiệp, cửa khẩu, sân bay và cảng biển, chuyển kết nối giao thông thành liên kết kinh tế thực chất.
Sau sắp xếp đơn vị hành chính, quy mô địa phương được mở rộng, tạo thuận lợi để tích hợp không gian đô thị, công nghiệp, nông nghiệp, biển, cửa khẩu và logistics, đồng thời giảm sự chia cắt trong quy hoạch, đầu tư. Tuy nhiên, cơ hội này chỉ được phát huy khi có cơ chế điều phối vùng đủ mạnh, quy hoạch và dữ liệu thống nhất, cùng cơ chế để các địa phương cùng quyết định, góp vốn, chịu trách nhiệm và hưởng lợi.
Có thể nói, Nghị quyết số 27-NQ/TW chuyển tư duy từ “phép cộng các nền kinh tế địa phương” sang phát triển một nền kinh tế vùng thống nhất, có phân công, liên kết và bổ trợ. Qua đó, khắc phục đầu tư dàn trải, trùng lặp, cục bộ và khai thác hiệu quả không gian phát triển mới.
Phóng viên: Nghị quyết xác định xây dựng cơ chế liên kết, điều phối vùng thật sự mạnh, thực chất, hiệu quả là khâu đột phá; thực hiện theo nguyên tắc các địa phương cùng quyết định, cùng góp vốn, cùng chịu trách nhiệm và cùng hưởng lợi. Theo ông, cơ chế này cần được thiết kế và vận hành như thế nào?
Tiến sĩ Huỳnh Thanh Điền: Liên kết vùng trước hết phải được thiết kế từ tư duy hoạch định chính sách và giao mục tiêu của Trung ương. Mọi chủ trương, quy hoạch, chương trình đầu tư và chỉ tiêu phát triển cần được xem xét trên tổng thể vùng, sau đó mới phân bổ thành nhiệm vụ cụ thể cho từng địa phương. Nếu Trung ương vẫn giao mục tiêu và phân bổ nguồn lực riêng lẻ theo từng tỉnh, thành phố thì các địa phương khó thoát khỏi tư duy cục bộ và cạnh tranh lẫn nhau.
Trên cơ sở mục tiêu chung của vùng, cần xây dựng quy hoạch thống nhất, phân vai rõ chức năng, lợi thế và trách nhiệm của từng địa phương. Mỗi địa phương không nhất thiết phát triển đầy đủ các ngành hoặc đạt cùng một tốc độ tăng trưởng, mà phải hoàn thành tốt vai trò được xác định trong chuỗi giá trị và không gian phát triển chung.
Tiếp đó, cần hoàn thiện khung pháp lý về phát triển vùng, quy định rõ thẩm quyền quyết định, trách nhiệm và cơ chế phối hợp. Đối với mỗi dự án liên vùng, phải xác lập một cơ quan hoặc địa phương làm đầu mối, chịu trách nhiệm xuyên suốt từ chuẩn bị, huy động vốn, triển khai đến vận hành. Trung ương trực tiếp quyết định hoặc điều phối thống nhất những dự án liên vùng có ý nghĩa chiến lược quốc gia.
Nguyên tắc “cùng góp vốn, cùng chịu trách nhiệm và cùng hưởng lợi” phải được cụ thể hóa ngay trong phương án tài chính. Mức đóng góp của từng địa phương cần căn cứ vào khả năng ngân sách, phạm vi hưởng lợi và tác động của dự án; đồng thời quy định rõ việc phân chia nguồn thu, chi phí vận hành, giá trị tăng thêm từ đất đai và trách nhiệm xử lý rủi ro. Cần cho phép ngân sách của một địa phương, nhất là đô thị đặc biệt và cực tăng trưởng, được đầu tư cho công trình ngoài địa giới nếu công trình đó phục vụ lợi ích chung của vùng.
Hội đồng điều phối vùng cần có thực quyền, bộ phận chuyên trách, ngân sách hoạt động và hệ thống dữ liệu dùng chung; được tham gia lựa chọn dự án ưu tiên, điều phối nguồn lực, giám sát tiến độ và xử lý vướng mắc. Kết quả liên kết vùng phải trở thành một tiêu chí đánh giá trách nhiệm người đứng đầu địa phương.
Khi lợi ích địa phương chưa thống nhất với lợi ích chung, phải lấy quy hoạch và hiệu quả tổng thể của vùng làm căn cứ quyết định. Địa phương chịu chi phí hoặc nhường nguồn lực cho dự án chung cần được bù đắp thông qua chia sẻ nguồn thu, phân bổ ngân sách hoặc ưu tiên đầu tư. Trung ương giữ vai trò điều phối và quyết định cuối cùng đối với những vấn đề các địa phương không thể tự thống nhất.
Như vậy, liên kết vùng chỉ thực chất khi được bắt đầu từ tư duy vùng của Trung ương, được cụ thể hóa bằng mục tiêu chung, sự phân vai rõ ràng, một đầu mối chịu trách nhiệm và cơ chế chia sẻ nguồn lực, lợi ích minh bạch.
Phân rõ chức năng, trách nhiệm và quyền lợi của từng địa phương
Phóng viên: Nghị quyết đặt ra yêu cầu gắn các công trình đường sắt, năng lượng, đô thị, cảng biển và hạ tầng số với phát triển công nghiệp trong nước. Cần có cơ chế gì để các dự án hạ tầng lớn thật sự nâng cao năng lực của doanh nghiệp Việt Nam, thay vì doanh nghiệp chủ yếu tham gia những khâu có giá trị thấp, thưa ông?
Tiến sĩ Huỳnh Thanh Điền: Các công trình đường sắt, năng lượng, đô thị, cảng biển và hạ tầng số không chỉ tạo ra kết cấu hạ tầng mà còn mở ra thị trường rất lớn cho cơ khí, vật liệu, thiết bị điện, tự động hóa, phần mềm, tư vấn thiết kế và quản lý vận hành. Nếu thiếu định hướng ngay từ đầu, phần lớn giá trị sẽ thuộc về nhà thầu nước ngoài, còn doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu tham gia xây lắp hoặc cung cấp lao động có giá trị gia tăng thấp.
Trước hết, mỗi dự án lớn cần được xem là một “đơn hàng phát triển công nghiệp”. Ngay từ giai đoạn chuẩn bị phải xác định những công nghệ, thiết bị và công đoạn mà doanh nghiệp trong nước có thể làm chủ; xây dựng lộ trình nâng dần tỷ lệ nội địa hóa và mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam, phù hợp các cam kết quốc tế.
Chính sách đấu thầu cần chia gói hợp lý để doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia, đồng thời khuyến khích liên danh giữa nhà thầu nước ngoài và doanh nghiệp Việt Nam. Tiêu chí lựa chọn không nên chỉ dựa vào giá thấp mà cần tính đến giá trị tạo ra trong nước, mức độ chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, sử dụng nhà cung cấp nội địa và chi phí vận hành trong toàn bộ vòng đời dự án.
Đối với nhà thầu nước ngoài, chuyển giao công nghệ phải trở thành nghĩa vụ cụ thể trong hợp đồng, có mục tiêu và kết quả kiểm chứng được, như số kỹ sư Việt Nam được đào tạo, số quy trình công nghệ được tiếp nhận, tỷ lệ thiết bị mà doanh nghiệp trong nước có thể sản xuất, sửa chữa hoặc thay thế. Cần tránh tình trạng chuyển giao chỉ dừng ở tài liệu hoặc đào tạo hình thức.
Cùng với đó, cần lựa chọn một số doanh nghiệp lớn trong nước làm hạt nhân, liên kết với doanh nghiệp nhỏ và vừa, viện nghiên cứu, trường đại học để hình thành mạng lưới nhà cung cấp. Các cụm công nghiệp hỗ trợ nên được bố trí dọc hành lang kinh tế, gần dự án, khu công nghiệp, cảng biển và trung tâm logistics nhằm giảm chi phí và tạo thị trường ổn định, lâu dài.
Để doanh nghiệp tư nhân tham gia các dự án liên vùng và dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư, cần có danh mục dự án minh bạch, cơ chế chia sẻ rủi ro hợp lý, thủ tục lựa chọn nhà đầu tư ổn định và khả năng tiếp cận vốn dài hạn. Nhà nước tập trung vào quy hoạch, hạ tầng nền tảng và kiểm soát chất lượng; doanh nghiệp được tham gia từ thiết kế, đầu tư, thi công đến vận hành và bảo trì.
Quan trọng nhất là phải có một chương trình phát triển năng lực doanh nghiệp trong nước gắn với toàn bộ danh mục dự án hạ tầng quốc gia, thay vì xử lý riêng từng dự án. Khi đó, đầu tư hạ tầng đồng thời trở thành quá trình tích lũy công nghệ, hình thành đội ngũ kỹ sư, phát triển công nghiệp hỗ trợ và nâng vị trí của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị.
Phóng viên: Cũng tại Hội nghị học tập, quán triệt, triển khai Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị, sáng 3/9 Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu mỗi nhiệm vụ phải rõ mục tiêu, đầu mối chịu trách nhiệm, thẩm quyền, nguồn lực, thời hạn, sản phẩm và dữ liệu kiểm chứng; “chuyển từ quản lý tiến độ sang quản trị kết quả”. Từ thực tiễn triển khai chính sách phát triển vùng thời gian qua, theo ông, đâu là những điều kiện cần ưu tiên để Nghị quyết số 27-NQ/TW sớm đi vào cuộc sống?
Tiến sĩ Huỳnh Thanh Điền: Trước hết, cần có quy hoạch vùng chất lượng, xác định rõ chức năng của từng địa phương và cụ thể hóa bằng các chương trình, dự án liên vùng có đầu mối, nguồn lực, tiến độ và trách nhiệm rõ ràng. Chủ trương phát triển vùng phải được thể hiện ngay từ khâu Trung ương giao mục tiêu, phân bổ vốn và lựa chọn dự án ưu tiên.
Tiếp theo, cần luật hóa cơ chế liên kết vùng, quy định cụ thể thẩm quyền của Hội đồng điều phối vùng, trách nhiệm của từng địa phương, cơ chế sử dụng ngân sách ngoài địa giới và nguyên tắc chia sẻ nguồn thu, chi phí, rủi ro. Đồng thời, phải xây dựng các quy chuẩn chung về quy hoạch, hạ tầng, môi trường và hệ thống dữ liệu dùng chung, tránh tình trạng mỗi địa phương áp dụng một tiêu chuẩn riêng.
Nguồn lực nhà nước cần tập trung cho các dự án có khả năng kết nối và tạo sức lan tỏa, qua đó dẫn dắt vốn tư nhân, phát triển doanh nghiệp và hình thành chuỗi giá trị vùng. Khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và liên thông dữ liệu phải trở thành công cụ điều hành, giám sát thực hiện theo thời gian thực.
Phóng viên: Vậy theo ông, việc kiểm tra, giám sát nên dựa trên những tiêu chí nào để phản ánh đúng hiệu quả liên kết vùng?
Tiến sĩ Huỳnh Thanh Điền: Việc đánh giá không nên chỉ cộng kết quả tăng trưởng của từng địa phương mà phải đo hiệu quả chung của toàn vùng. Các tiêu chí trọng tâm gồm: tiến độ và hiệu quả dự án liên vùng; thời gian lưu thông và mức giảm chi phí logistics; tỷ lệ vốn tư nhân huy động được từ đầu tư công; số lượng, chất lượng liên kết giữa doanh nghiệp và các địa phương; mức độ liên thông, chia sẻ dữ liệu; đóng góp của khoa học, công nghệ, năng suất và kinh tế số; khả năng thu hút đầu tư, tạo việc làm và mở rộng thị trường.
Đặc biệt, cần đo tác động lan tỏa của các cực tăng trưởng thông qua mức độ chuyển giao vốn, công nghệ, nhân lực và cơ hội phát triển đến các địa phương chung quanh. Một vùng phát triển hiệu quả phải thể hiện ở kết nối tốt hơn, lưu thông nhanh hơn, chi phí thấp hơn, nguồn lực được sử dụng hiệu quả hơn và khoảng cách phát triển giữa các địa phương từng bước được thu hẹp.
Các chỉ tiêu này cần được công khai, theo dõi định kỳ và gắn với trách nhiệm của người đứng đầu. Địa phương hoàn thành tốt nhiệm vụ liên kết vùng cần được ưu tiên nguồn lực; trường hợp chậm trễ hoặc đặt lợi ích cục bộ lên trên lợi ích chung phải được xác định rõ trách nhiệm và có biện pháp xử lý.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!