Theo đó, nhóm nghiên cứu đã nhìn nhận thành tựu như một nền tảng năng lực và không chỉ là kết quả quá khứ.
Đáng chú ý, thành tựu 40 năm đổi mới được nhóm nghiên cứu đánh giá theo hai nhóm, bao gồm: Quy mô và thu nhập tăng lên, cơ cấu kinh tế thay đổi, đời sống được cải thiện, giảm nghèo, hội nhập sâu rộng và vị thế quốc tế được nâng cao.
Nhóm nghiên cứu cho rằng, trong vòng 40 năm, Việt Nam là quốc gia đạt mức tăng trưởng GDP trong nhóm cao nhất thế giới với tốc độ tăng trưởng bình quân năm đạt 6,4%; từ nước có thu nhập bình quân đầu người thấp nhất (99 USD/người năm 1990, đã trở thành nước có thu nhập trung bình thấp (vào năm 2009) và sau 17 năm trở thành nước có thu nhập trung bình cao.
Những năng lực đã hình thành từ chặng đường 40 năm qua: năng lực điều chỉnh thể chế; khả năng huy động sức dân và doanh nghiệp; nền sản xuất và thương mại có độ mở cao; hạ tầng ngày càng mở rộng; kinh nghiệm ứng phó với khủng hoảng; đội ngũ nhân lực, doanh nhân, trí thức và văn nghệ sĩ ngày càng lớn cùng nền tảng số đang phát triển.
Nếu chỉ tự hào về con số, thành tựu có thể trở thành tâm lý bằng lòng. Nếu coi thành tựu là vốn năng lực, chúng sẽ trở thành điểm xuất phát cho bước chuyển mới. Đổi mới lần thứ nhất chủ yếu giải phóng các nguồn lực bị ràng buộc; đổi mới giai đoạn mới phải tổ chức các nguồn lực đó thành năng suất, công nghệ, thương hiệu và năng lực cạnh tranh dài hạn.
Các thành tựu nổi bật trong hành trình 40 năm Đổi mới
Theo nhóm nghiên cứu của Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội), thành tựu nền tảng là sự chuyển đổi nhận thức và cơ chế vận hành: từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; thừa nhận nhiều hình thức sở hữu và thành phần kinh tế; mở rộng quyền tự chủ sản xuất-kinh doanh; xây dựng Nhà nước pháp quyền; mở cửa và hội nhập quốc tế. Những chuyển đổi này tạo ra cấu trúc khuyến khích mới, nhờ đó vốn, lao động, đất đai, tri thức và tinh thần kinh doanh được huy động tốt hơn.
Trước thực trạng đó, nhóm nghiên cứu kiến nghị bảo vệ thành quả thể chế bằng ba nguyên tắc: bảo đảm quyền tài sản và quyền kinh doanh hợp pháp; duy trì cạnh tranh bình đẳng; giữ tính ổn định và khả năng dự báo của chính sách. Cải cách mới không được làm suy giảm niềm tin đã tích lũy. Khi cần điều chỉnh chính sách, phải có lộ trình, tham vấn và cơ chế chuyển tiếp để người dân, doanh nghiệp có thể thích ứng.
Với thành tựu về tăng trưởng, công nghiệp hóa và hội nhập, nhóm nghiên cứu đã nhìn nhận Việt Nam hình thành nền sản xuất công nghiệp, mở rộng mạnh xuất khẩu và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Khu vực đầu tư nước ngoài (FDI) giúp mở thị trường, tạo việc làm, đưa tiêu chuẩn sản xuất quốc tế và kết nối Việt Nam với mạng lưới toàn cầu. Khu vực doanh nghiệp trong nước cũng phát triển về số lượng; đã xuất hiện doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp công nghệ và những mô hình đổi mới từ thực tiễn. Minh chứng từ trải nghiệm của ThaiBinh Seed cho thấy, doanh nghiệp Việt Nam có thể chuyển từ khó khăn sang làm chủ nghiên cứu, giống, thương hiệu và chuỗi giá trị khi có tư duy đổi mới và đầu tư dài hạn.
Cũng theo nhóm nghiên cứu, thành tựu hội nhập cần được phát huy theo chiều sâu. Mục tiêu sắp tới không chỉ là xuất khẩu nhiều hơn mà là giữ lại nhiều giá trị hơn trong nước; không chỉ thu hút dự án, mà tạo liên kết; không chỉ tiếp nhận tiêu chuẩn, mà từng bước tham gia xây dựng tiêu chuẩn và thương hiệu. Năng lực sản xuất đã hình thành là bàn đạp để phát triển dịch vụ kỹ thuật, thiết kế, logistics, tài chính, nghiên cứu và phát triển (R&D), dữ liệu và các công đoạn có giá trị cao hơn.
Đáng chú ý, chính sách giảm nghèo đã chuyển từ cứu trợ và bảo đảm mức sống tối thiểu sang giảm nghèo đa chiều, phát triển sinh kế và mở rộng tiếp cận dịch vụ xã hội. Sự chuyển đổi này phản ánh một tiến bộ về tư duy: người dân không chỉ là đối tượng nhận hỗ trợ mà là chủ thể có năng lực và khát vọng. Nhóm nghiên cứu của Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng, thành quả giảm nghèo đến từ sự kết hợp giữa tăng trưởng, chính sách xã hội, tín dụng, hạ tầng, dịch vụ cơ bản và sự tham gia của cả hệ thống.
Thêm vào đó, giáo dục, y tế, văn hóa và hạ tầng xã hội đã tạo nền tảng con người cho phát triển. Đội ngũ trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ và doanh nhân được mở rộng; đời sống văn hóa phong phú hơn; di sản và các ngành sáng tạo bắt đầu được gắn với du lịch, công nghệ và thị trường. Đây là nguồn lực nội sinh cần được bảo vệ và nâng cấp, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh về nhân tài, nội dung số và sức mạnh mềm. Thành quả trong phát triển con người khá tốt: chỉ số HDI từ mức đạt của nước phát triển thấp (1986) sang mức trung bình vào năm 2000 và đến 2025 trở thành nước có giá trị HDI cao (0,766).
Những giá trị cần tiếp tục giữ vững
Nhóm nghiên cứu của Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội) đề xuất, coi năm giá trị sau là “tài sản phát triển” cần giữ vững trong mọi cải cách: ổn định chính trị-xã hội, đồng thuận và niềm tin; khả năng bảo đảm an sinh cơ bản; tinh thần tự chủ gắn với mở cửa; và năng lực điều chỉnh chính sách từ thực tiễn. Các giá trị này không đối lập với đổi mới nhanh. Chính sự ổn định có chất lượng, dựa trên pháp quyền, minh bạch và cơ hội, mới tạo điều kiện cho đầu tư dài hạn và sáng tạo.
Các chuyên gia kiến nghị, để tránh thành tựu bị bào mòn, cần theo dõi sớm những dấu hiệu suy giảm: niềm tin thị trường, chi phí sống, chênh lệch cơ hội, chất lượng việc làm, khả năng tiếp cận dịch vụ và tính dự báo của chính sách. Trong đó, báo cáo thành tựu hằng năm nên chỉ ra cả kết quả đạt được, phần chưa đạt và nguy cơ mất thành quả; không nên chỉ liệt kê hoạt động hoặc số tiền đã chi.
Thiết nghĩ, mô hình phát triển đã tạo nên thành tựu của 40 năm đổi mới cần tiếp tục được kế thừa nhưng không thể chỉ kéo dài bằng cách tăng thêm vốn, lao động, đất đai, khai thác tài nguyên và mở rộng gia công. Giai đoạn mới đòi hỏi chuyển trọng tâm sang năng suất, năng lực nội sinh, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chất lượng thể chế và phát triển con người. Đổi mới mô hình phát triển vì thế đồng thời là đổi mới tư duy, cách phân bổ nguồn lực, mô hình doanh nghiệp, phương thức quản trị và thước đo thành công