40 năm đổi mới nhìn lại và đi tới

Kỳ II: Ông Vũ Quốc Tuấn, nguyên Trợ lý Thủ tướng Võ Văn Kiệt:

“Phải lắng nghe thực tiễn để xây dựng cơ chế, chính sách”

Ông Vũ Quốc Tuấn. Ảnh | KHÁNH AN
Ông Vũ Quốc Tuấn. Ảnh | KHÁNH AN

Văn kiện Đại hội XIV đánh dấu một cột mốc đặc biệt khi tổng kết 40 năm công cuộc Đổi mới - hành trình đưa đất nước vượt qua khủng hoảng, từng bước hội nhập và vươn lên phát triển. Từ việc đúc kết những bài học lý luận, thực tiễn sâu sắc của chặng đường đã qua, văn kiện cũng mở ra tầm nhìn về một kỷ nguyên mới, với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI. Nhìn lại hành trình ấy, ông Vũ Quốc Tuấn - nguyên Trợ lý Thủ tướng Võ Văn Kiệt giai đoạn 1985-1994, thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải - chia sẻ về vai trò của các thế hệ lãnh đạo trong việc khởi xướng, mở đường và thúc đẩy công cuộc Đổi mới, đồng thời đúc rút những bài học mà theo ông vẫn còn nguyên giá trị đối với chặng đường phát triển của đất nước hôm nay.

Đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật

Phóng viên: Nhìn lại thời điểm trước Đại hội VI, ông đánh giá thế nào về vai trò của các thế hệ lãnh đạo trong việc dám nhìn thẳng vào thực trạng đất nước; đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật; và lắng nghe những đòi hỏi từ thực tiễn để mở đường cho công cuộc Đổi mới?

Ông Vũ Quốc Tuấn: Thời bao cấp có một khái niệm mà bây giờ nhiều người trẻ khó hình dung: “ngăn sông, cấm chợ”. Hầu hết các địa phương đều tự lập trạm kiểm soát. Hàng hóa đi từ tỉnh này sang tỉnh khác đều có thể bị dừng lại để kiểm tra.

Tôi còn nhớ một câu chuyện mang màu sắc giai thoại nhưng phản ánh thực tế thời điểm ấy. Đồng chí Đỗ Mười, khi đó là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, trong một chuyến công tác ở Tiền Giang, được địa phương biếu khoảng 10 kg gạo mang về. Đến một trạm kiểm soát, cán bộ trực gác phát hiện có gạo trên xe và nhất quyết giữ lại. Anh em đi cùng giải thích đây là quà địa phương biếu đồng chí Đỗ Mười, nhưng người trực trạm chỉ lắc đầu: Quy định là quy định (!). Có thể theo năm tháng, câu chuyện ấy đã trở thành một ký ức chung của tập thể, nhưng nó đủ để hình dung về một thời kỳ mà cơ chế ngăn sông, cấm chợ đã trói buộc đời sống và làm ách tắc cả nền kinh tế.

Trong bối cảnh đó, tháng 7/1986, đồng chí Trường Chinh được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Tổng Bí thư. Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội VI đã cơ bản hoàn tất, nhưng khi xem xét, đồng chí nhận thấy văn kiện này vẫn chưa bám sát tình hình và những yêu cầu thực tiễn đang đặt ra, nhất là yêu cầu đổi mới tư duy kinh tế, cần phải viết lại. Nhóm biên tập mới được lựa chọn rất kỹ.

Đầu tháng 8/1986, bản đề cương gồm 25 vấn đề cốt lõi của dự thảo Báo cáo Chính trị được đưa ra thảo luận. Những quan điểm khác nhau về từng nội dung được mổ xẻ thẳng thắn trong Tổ biên tập và Tiểu ban Văn kiện. Đó là một đợt làm việc đặc biệt sôi nổi, dân chủ và cởi mở, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật mà đồng chí Trường Chinh đặt ra ngay từ buổi sinh hoạt đầu tiên của Tổ biên tập và Tiểu ban ngày 10/8/1986.

Nhiệm vụ của Tổ biên tập là nghiên cứu, tổng hợp để làm rõ con đường đổi mới phải đi như thế nào. Trong đó, đồng chí Hà Nghiệp là người chắp bút, tổng hợp ý kiến của cả nhóm để hoàn thiện sáu bài phát biểu của đồng chí Trường Chinh tại Hội nghị Trung ương và Bộ Chính trị.

Chúng tôi vẫn gọi đó là những bài phát biểu nảy lửa, bởi đã nhìn thẳng vào sự trì trệ, sa sút của nền kinh tế và đặt ra yêu cầu phải đổi mới tư duy. Chính những quan điểm đó đã góp phần thuyết phục Bộ Chính trị, Ban Bí thư đi đến thống nhất. Trong đó, đồng chí Trường Chinh có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình chuẩn bị và khởi xướng công cuộc Đổi mới.

Chính vì vậy mà sau này đồng chí Võ Văn Kiệt từng nói với tôi rằng: Không có đồng chí Trường Chinh thì cũng không có Võ Văn Kiệt của thời kỳ đổi mới. Phải có đồng chí Trường Chinh mở đường thì sau đó mới có điều kiện để đồng chí Võ Văn Kiệt triển khai hàng loạt chủ trương đổi mới trong thực tiễn.

Sau Đại hội VI, dưới bút danh N.V.L. Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã viết loạt bài “Những việc cần làm ngay” đăng trên Báo Nhân Dân. Các bài viết đi thẳng vào những vấn đề nóng bỏng của đất nước, tạo nên một diễn đàn đặc biệt để phê phán những biểu hiện tiêu cực, quan liêu và thúc đẩy tinh thần Đổi mới trong toàn xã hội.

Tôi cho rằng sẽ không thể có công cuộc Đổi mới nếu thiếu những người lãnh đạo ở cương vị lớn biết lắng nghe, biết tôn trọng thực tiễn và dám hành động vì lợi ích của nhân dân. Đó là một mạch nối xuyên suốt từ các đồng chí Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt và Phan Văn Khải...

- Theo ông, những phẩm chất như gần dân, biết lắng nghe, tôn trọng thực tiễn và dám hành động vì lợi ích của nhân dân đã được đồng chí Võ Văn Kiệt thể hiện như thế nào trong quá trình lãnh đạo và thúc đẩy công cuộc Đổi mới?

Hồi mới ra nhận nhiệm vụ Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, đồng chí Võ Văn Kiệt xin dành một năm để đi nghiên cứu thực tiễn, vì mới ở miền nam ra, chưa hiểu nhiều về miền bắc, miền trung. Trở về, đồng chí triệu tập cán bộ cốt cán, họp một ngày về các vấn đề kinh tế của đất nước, công tác kế hoạch hóa và đưa ra 2 kết luận: không đâu trên đất nước mình nghèo cả, ở đâu cũng có thể làm giàu; công tác kế hoạch hóa là áp đặt hình thức, quan liêu, triệt tiêu sáng kiến…

Đồng chí dành nhiều thời gian thực tế ở đồng bằng Nam Bộ, với mong muốn biến nơi đây thành vùng sản xuất lương thực và thủy sản lớn nhất cả nước, xuống tận địa phương, gặp bí thư, chủ tịch tỉnh, rồi ra tận đồng ruộng trò chuyện với các lão nông để hỏi cách làm ăn. Đồng chí vẫn thường nói với tôi một câu rất giản dị: Muốn biết thì phải hỏi dân.

Chính từ thực tiễn đó, mà đồng chí đưa ra chủ trương thau chua, rửa mặn, xây dựng hệ thống thủy lợi đưa nước ngọt vào, mở rộng diện tích canh tác, ngọt hóa bán đảo Cà Mau. Ngày nay nghe chuyện năng suất lúa tăng thêm vài tấn một hecta có thể thấy bình thường, nhưng thời điểm ấy, từ chỗ nhiều nơi chỉ làm được một vụ với năng suất một, hai tấn mỗi hecta, nâng lên bốn, năm tấn là cả một cuộc cách mạng.

Những dấu ấn của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt như quyết định xây dựng Đường dây 500kV Bắc-Nam, tuyến đường Bắc Thăng Long-Nội Bài, tổ chức lại hệ thống ngân hàng theo mô hình hai cấp hay xóa bỏ cơ chế phân phối lương thực ở Hà Nội... đến nay đã được nhắc đến nhiều như những bước đột phá của thời kỳ Đổi mới. Ít ai biết rằng, ngay cả những việc tưởng như rất nhỏ, như chuyện lễ đón nguyên thủ nước ngoài từ sân bay Nội Bài về Phủ Chủ tịch theo thông lệ quốc tế, khi ấy cũng từng vấp phải không ít ý kiến phản đối, vì người ta lo... chệch hướng .

Tôi nhận thấy, đồng chí Võ Văn Kiệt có hai phẩm chất nổi bật nhất: Luôn xuất phát từ cuộc sống và người dân; luôn lắng nghe, biết dùng người tài, không hề có định kiến về xuất thân hay quá khứ của họ, miễn là họ có tâm huyết đóng góp cho đất nước.

dai-hoi-vi.jpg
Đại hội lần thứ VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Ảnh | TL

“Nghe thì đau, nhưng đúng”

- Xin ông cho biết đồng chí Võ Văn Kiệt đã lắng nghe kể cả những ý kiến trái chiều và sử dụng đội ngũ trí thức, chuyên gia như thế nào để hình thành những quyết sách đổi mới?

Khi còn là Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, đồng chí Võ Văn Kiệt cùng Thường vụ Thành ủy mời ông Nguyễn Xuân Oánh, nguyên Phó Thủ tướng của chính quyền Sài Gòn tham gia góp ý kiến về những vấn đề đổi mới. Sau này, khi làm Thủ tướng, đồng chí tiếp tục thành lập Tổ chuyên gia tư vấn về cải cách kinh tế và hành chính - tiền thân của Ban Nghiên cứu của Thủ tướng. Chúng tôi vẫn gọi vui đó là Ban nghiên cứu năm không: không biên chế, không chức quyền, không lương, không cấp trên cấp dưới và không bị giới hạn khi phát biểu với Thủ tướng. Nhưng lại có điều quan trọng nhất: được nói thật. Thời ấy, không ít người ngại phát biểu vì nói trái ý lãnh đạo rất dễ bị quy chụp. Nhưng đồng chí Võ Văn Kiệt thì khác, không ngắt lời, không áp đặt, không cho rằng cứ giữ chức vụ cao là biết hết mọi việc. Đồng chí thường nói với chúng tôi rằng, ngồi ở cương vị nào cũng phải học. Có lẽ chính vì vậy mà nhiều chuyên gia, trí thức trong và ngoài nước đã sẵn sàng cộng tác, góp phần tạo nên những quyết sách đổi mới.

Có lần, bối cảnh kinh tế nước ta vẫn hết sức khó khăn, trong một cuộc gặp trí thức và văn nghệ sĩ ở Thành phố Hồ Chí Minh, một người đứng lên nói rất thẳng: Nếu hai, ba năm nữa kinh tế vẫn thế này thì các anh phải “đi” thôi. Một vị lãnh đạo lập tức nổi nóng, nhưng đồng chí Võ Văn Kiệt chỉ cười và nói: Nghe thì đau, nhưng đúng. Phải nghe người ta. Theo tôi, điều làm nên sự khác biệt của đồng chí Võ Văn Kiệt là không ngại những ý kiến trái chiều, bởi thấu hiểu muốn tìm ra cái đúng thì trước hết phải biết lắng nghe.

Trước mỗi hội nghị, trước khi phát biểu về một lĩnh vực nào, đồng chí đều gặp những người trực tiếp làm công việc ấy và mời các chuyên gia đến trao đổi. Vì thế, những điều đồng chí nói luôn rất sát thực tế, vừa có hơi thở của cuộc sống, vừa có góc nhìn của chuyên gia và chính kiến của người đứng đầu. Đồng chí từng chia sẻ với tôi: Không phải tôi không thích lý luận. Nhưng tôi thích thứ lý luận được tổng kết từ thực tiễn Việt Nam. Làm việc với đồng chí, tôi hiểu rằng, tư duy đổi mới bắt đầu từ một điều rất giản dị: điều gì có lợi cho dân thì làm, điều gì trói buộc sức dân thì phải tháo gỡ.

- Dưới góc nhìn của ông, Thủ tướng Phan Văn Khải - người kế nhiệm Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã để lại những dấu ấn gì trong dòng chảy của công cuộc Đổi mới?

Với tôi, dấu ấn lớn nhất của đồng chí Phan Văn Khải là mở đường cho sự phát triển của doanh nghiệp và kinh tế tư nhân. Trước đó, chúng ta có nhiều đạo luật riêng cho từng loại hình như Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp nhà nước..., đến năm 2005 mới thống nhất thành một Luật Doanh nghiệp chung. Đó là một bước tiến rất lớn, nhưng không dễ dàng. Khi đưa ra Quốc hội, đã có rất nhiều ý kiến tranh luận, thậm chí phản đối gay gắt vì lo ngại rằng nếu mở rộng không gian cho kinh tế tư nhân thì có làm mờ đi vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước hay không?

Khi đất nước đã giải quyết được bài toán đủ ăn, đủ mặc thì động lực phát triển tiếp theo phải là doanh nghiệp. Hồi đó chúng tôi thường so sánh rất đơn giản: ở nhiều nước, cứ một nghìn dân có hàng chục doanh nghiệp, còn Việt Nam thì tỷ lệ rất thấp. Vì thế mới đặt mục tiêu phát triển mạnh đội ngũ doanh nghiệp, hướng tới một triệu doanh nghiệp. Muốn có một nền kinh tế mạnh thì trước hết phải có một cộng đồng doanh nghiệp mạnh.

Ngày trước có tâm lý không thích người giàu, nhất là quá giàu, mọi thứ đều muốn bình quân chủ nghĩa. Đến thời Thủ tướng Phan Văn Khải thì tư duy đã khác: khuyến khích làm giàu chính đáng, phát triển doanh nghiệp.

Tuy nhiên, cho đến bây giờ, khu vực doanh nghiệp vẫn còn nhiều rào cản. Chúng ta có hàng triệu hộ kinh doanh nhưng rất ít hộ muốn chuyển thành doanh nghiệp. Doanh nghiệp không muốn, không dám và không chịu lớn, cứ duy trì quy mô nhỏ để an toàn. Đó cũng là một vấn đề cần tháo gỡ.

Muốn đi lên phải có khát vọng, không thể phát triển cầm chừng

- Thưa ông, tiếp nối chặng đường 40 năm Đổi mới, đâu là điều kiện quan trọng nhất để hiện thực hóa khát vọng đưa đất nước bước vào Kỷ nguyên vươn mình, đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số và tạo ra một động lực phát triển mới cho nền kinh tế?

Theo tôi, trong “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, muốn đi lên thì phải thay đổi tư duy, có khát vọng, phải bứt phá, chứ không thể phát triển cầm chừng mãi được. Từ góc nhìn đó, việc tinh gọn bộ máy, sắp xếp lại đơn vị hành chính, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền... đều là những chủ trương phù hợp yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay.

Theo quan sát và kinh nghiệm của tôi, với những cải cách có quy mô rất lớn, nếu có thêm thời gian để thí điểm, đánh giá và hoàn thiện trước khi triển khai rộng sẽ tạo được sự đồng thuận và thuận lợi hơn trong quá trình thực hiện. Đầu tư những dự án lớn, những đại công trình lớn cũng cần nghiên cứu kỹ lưỡng về nhiều mặt, lắng nghe ý kiến đa chiều, để đạt được hiệu quả cao nhất, tạo ra những sức bật cho tăng trưởng bền vững. Khi Thủ tướng Võ Văn Kiệt quyết định xây dựng đường dây 500 kV Bắc-Nam, chúng tôi chuẩn bị và nghiên cứu suốt ba năm, tập hợp nhiều chuyên gia, lắng nghe các ý kiến phản biện.

Bây giờ cái khó không chỉ ở mô hình mới, mà còn ở tư duy cũ. Chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo là một quá trình rất dài. Những dấu ấn của cơ chế xin - cho vẫn còn đó, làm giảm động lực phát triển. Muốn tăng trưởng hai con số phải có động lực tăng trưởng mới. Hiện nay, tăng trưởng của chúng ta vẫn chủ yếu dựa vào đầu tư công, xuất khẩu và khu vực FDI. Đó là những nguồn lực quan trọng, nhưng chưa phải là sức mạnh nội sinh của nền kinh tế.

Theo tôi, muốn phát triển bền vững thì phải tiếp tục cởi trói cho kinh tế tư nhân, tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước lớn lên và yên tâm đầu tư, kinh doanh, hạn chế tối đa hình sự hóa các quan hệ kinh tế.

- Theo ông, những thế hệ lãnh đạo đã dẫn dắt đất nước qua 40 năm Đổi mới để lại những bài học gì cho chặng đường phát triển hôm nay?

Bài học lớn nhất vẫn là phải lắng nghe thực tiễn cuộc sống để xây dựng cơ chế, chính sách. Chính sách không thể xuất phát từ những suy nghĩ duy ý chí, từ sự nóng vội hoặc từ những tính toán không vì đại cục. Nếu chính sách xuất phát từ tư duy giáo điều hay lợi ích cục bộ của từng ngành, từng bộ thì rất khó phù hợp thực tiễn.

Đơn cử như việc cắt giảm điều kiện kinh doanh. Nếu giao cho mỗi bộ tự cắt giảm giấy phép của mình thì rất khó, bởi ai cũng có xu hướng giữ lại quyền quản lý, chẳng ai tự đập vỡ “nồi cơm” của mình. Thủ tướng Phan Văn Khải thành lập Tổ công tác cải cách doanh nghiệp và cử chúng tôi trực tiếp làm việc với từng bộ để rà soát. Cái nào thật sự cần thì giữ, cái nào cản trở doanh nghiệp thì bỏ. Sau khi nghe chuyên gia phân tích, đồng chí quyết rất nhanh. Theo tôi, để có một chính sách đúng cần ba điều kiện: lắng nghe, phản biện và một người đứng đầu đủ bản lĩnh để quyết định, dám chịu trách nhiệm.

Tôi nhớ mãi câu nói của đồng chí Võ Văn Kiệt: Nếu việc gì cũng phải đợi hơn 20 bộ trưởng đồng ý rồi mới quyết thì tôi còn làm Thủ tướng để làm gì? Tôi là người chịu trách nhiệm thì tôi phải quyết.

- Xin trân trọng cảm ơn ông.

Có thể bạn quan tâm

Nhiều người thường mua vàng để tích trữ.

Giải pháp Để vốn xã hội chịu rời nơi trú ẩn

Trong bài phát biểu tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu đổi mới căn bản tư duy phát triển, chuyển từ phân bổ nguồn lực sang kiến tạo, dẫn dắt kích hoạt nguồn lực xã hội, trong đó khơi thông vốn của nhân dân là đột phá chiến lược.

Ảnh | HOÀNG GIANG

40 năm đổi mới nhìn lại và đi tới

LTS: Bốn mươi năm Đổi mới là hành trình chuyển mình sâu sắc của đất nước từ những bước đi mở đường đến những thành tựu mang tầm vóc thời đại. Nhìn lại chặng đường ấy để nhận diện những giá trị đã làm nên sức bật Việt Nam và xác định hành trang cho một kỷ nguyên phát triển mới.

Tác giả Lê Minh Hoan.

Nhổ neo trong tư duy phát triển

Có một con thuyền nhỏ neo bên bến. Nước lớn, nước ròng, con thuyền vẫn ở đó. Không phải vì nó không thể đi xa, mà vì sợi dây neo buộc nó lại, đủ dài để lênh đênh một quãng, nhưng không bao giờ chạm tới chân trời.

Chi phí cho bữa ăn hằng ngày càng đắt đỏ. Ảnh | THÀNH ĐẠT

Vòng xoáy đắt đỏ và bài toán chi tiêu

Một bát phở tăng giá, tiền thuê nhà neo cao, chi phí chợ búa ngày càng nặng gánh… Hà Nội đang đối mặt với vòng xoáy đắt đỏ, nơi áp lực sống len vào từng bữa cơm và đồng lương của người lao động.

Mức doanh thu miễn thuế với hộ kinh doanh được nâng lên 1 tỷ đồng/năm. Ảnh | VNG

Hộ kinh doanh: Chờ một lối đi rộng hơn

Khu vực với hơn 6 triệu hộ kinh doanh, đóng vai trò “lớp đệm sinh kế” cho hàng chục triệu người Việt, đang cần một cách nhìn chính sách mềm hơn, thực tế hơn và đồng hành nhiều hơn.

Sản xuất, lắp ráp ô-tô tại Công ty cổ phần Tập đoàn ô tô Trường Hải tại Khu kinh tế mở Chu Lai (Đà Nẵng).

Hoàn thiện thể chế để “cỗ xe kinh tế” tăng tốc

Trong nỗ lực hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng “hai con số”, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) từ tổng hợp ý kiến doanh nghiệp và thực tiễn thị trường, đã gửi Bộ Tư pháp kiến nghị 7 nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế theo hướng thực chất.

Kỹ sư nông nghiệp Phạm Ngọc Hồ chia sẻ về quy trình sản xuất phân bón hữu cơ.

“Chìa khóa vàng” phát triển nông nghiệp bền vững

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp và các quy định khắt khe về phát thải toàn cầu, việc chuyển dịch từ phương thức canh tác, sản xuất, chăn nuôi truyền thống sang mô hình “kinh tế tuần hoàn” là đòi hỏi cấp thiết.

Mặt bằng lãi suất tăng là phép thử đối với thị trường bất động sản. Ảnh | KHIẾU MINH

Lãi suất tăng và “bài toán khó” của người vay mua nhà

Sau nhiều năm lãi suất thấp, thị trường tín dụng đang bước vào một giai đoạn điều chỉnh mới. Tại các đô thị lớn, lãi suất vay mua nhà đã tăng mạnh trong những tháng đầu năm 2026, khiến nhiều người mua nhà đối mặt với áp lực trả nợ ngày càng lớn.

Trong năm 2025, lần đầu tiên Viettel thử nghiệm thành công và đưa vào sản xuất hàng loạt nhiều loại vũ khí chiến lược công nghệ cao. Ảnh | THÀNH ĐẠT

Minh định vị thế, vai trò dẫn dắt của kinh tế nhà nước

Kinh tế nhà nước (KTNN) phải tiên phong kiến tạo phát triển, dẫn dắt, mở đường, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ cấu lại nền kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Công nhân trong ca sản xuất tại Công ty TNHH Rhythm. Ảnh trong bài | THÀNH ĐẠT

Hiện thực hóa cơ hội, đón chu kỳ tăng trưởng mới

Cộng đồng kinh doanh đang dịch chuyển trạng thái, sẵn sàng đón nhận, hiện thực hóa các cơ hội của không gian phát triển mới. Đây là lúc doanh nghiệp tiếp tục cần thêm sự hậu thuẫn của môi trường kinh doanh công khai, minh bạch và an toàn.

Nhiều khu nhà ở xã hội có không gian sống và vui chơi cho người già và trẻ nhỏ.

Giá nhà và bài toán không chỉ của người mua

Khi Thủ tướng yêu cầu phải có câu trả lời vì sao giá nhà chung cư liên tục tăng và “cao mãi”, thị trường nghe đó như một câu chuyện nóng. Với kinh tế, đây là một câu hỏi tỉnh táo hơn: mô hình đô thị hiện nay đang phân bổ cơ hội và rủi ro như thế nào, và những ai đang bị cuốn theo các đường đi của giá nhà.

Cán bộ Công ty cổ phần Đầu tư Phát triển Nhà Constrexim kiểm tra tiến độ công trình. Ảnh trong bài | THÀNH ĐẠT

Bài toán năng suất và đầu tư của doanh nghiệp

Sự sôi động trong hoạt động sản xuất, kinh doanh quý IV/2025 đang đặt doanh nghiệp vào các yêu cầu phải thay đổi cách nghĩ, cách làm. Nhưng đó cũng có thể là điểm khởi đầu cho các hoạt động đầu tư, kinh doanh mới.

Ông Jensen Huang (đứng giữa), Chủ tịch kiêm CEO NVIDIA, mong muốn đưa Việt Nam trở thành “ngôi nhà thứ hai” của Tập đoàn. Ảnh | NIC

Dòng FDI vào chu kỳ tăng trưởng mới

Trước những biến động lớn của dòng đầu tư toàn cầu những năm gần đây, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vẫn tiếp tục đổ vào Việt Nam một cách mạnh mẽ. Quan trọng hơn, xu hướng dịch chuyển của FDI ngày càng rõ nét với sự dẫn dắt của nhiều dự án lớn trong các ngành công nghệ chiến lược.

Trao quyết định của Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ công nhận công trình chào mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ Chính phủ lần thứ I cho đại diện Đảng ủy Tổng công ty Đường sắt Việt Nam.

Những công trình khơi dậy khát vọng phát triển

Được coi là năm bản lề quan trọng, năm 2025 các phong trào thi đua được phát động, lan tỏa rộng khắp và nhiều công trình chào mừng đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng và các ngày lễ, kỷ niệm trọng đại của đất nước được khởi công, nỗ lực về đích.

PGS, TS Nguyễn Đức Lộc.

Không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình chuyển đổi xanh

Việc tiến tới cấm xe máy sử dụng nhiên liệu hóa thạch trong khu vực vành đai 1 Hà Nội từ năm 2026 là một bước đi mạnh mẽ trong lộ trình chuyển đổi xanh, thể hiện cam kết của Chính phủ trong nỗ lực giảm phát thải và phát triển giao thông bền vững.

Các diễn giả tham gia thảo luận về các sáng kiến đột phá phát triển Trung tâm tài chính tại Việt Nam.

Từ lời hứa đến hành động thực thi

Trung tâm tài chính (TTTC) quốc tế không phải là ước vọng thuần túy về dòng vốn, mà hơn thế, đó là “bài kiểm tra năng lực” thể chế. Thế nên trên thực tế “tấm giấy thông hành” đầu tiên Việt Nam cần có không chỉ là quy hoạch, cơ sở hạ tầng hay các tòa cao ốc lộng lẫy, mà chính là niềm tin!