Khơi dậy sức mạnh văn hóa

Nhận diện đủ hơn để hoàn thiện Luật Di sản văn hóa (sửa đổi) (Kỳ 1)

Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV đang diễn ra, sẽ xem xét cho ý kiến về dự thảo Luật Di sản văn hóa (sửa đổi). Tiếp nối bài “Sửa Luật Di sản văn hóa cần tham khảo quốc tế” trên báo Thời Nay số 1473 ngày 26/2/2024, chúng tôi giới thiệu loạt bài “Nhận diện đủ hơn để hoàn thiện Luật Di sản văn hóa (sửa đổi)”, mong góp thêm ý kiến để các đại biểu Quốc hội tham khảo làm cơ sở góp ý kiến hoàn thiện Luật.
Cần mở rộng khái niệm Di sản để bao quát và có chiến lược bảo tồn hiệu quả hơn các di sản đô thị, di sản nông thôn, di sản các dân tộc thiểu số... Ảnh: Nhà hát Lớn - một biểu tượng văn hóa của Hà Nội. Ảnh: QUANG HƯNG
Cần mở rộng khái niệm Di sản để bao quát và có chiến lược bảo tồn hiệu quả hơn các di sản đô thị, di sản nông thôn, di sản các dân tộc thiểu số... Ảnh: Nhà hát Lớn - một biểu tượng văn hóa của Hà Nội. Ảnh: QUANG HƯNG

Kỳ 1: Chậm “luật hóa” nhiều loại hình di sản

Nhận diện di sản là một quá trình ảnh hưởng sâu sắc đến việc hình thành các giải pháp bảo tồn và lưu giữ được giá trị của các di sản. Tại nhiều nước, các di sản đô thị, nông thôn, công nghiệp được nhận diện rất rõ ràng và bảo tồn tốt để đề cử di sản thế giới UNESCO. Đây là những đóng góp quan trọng để khiến các quốc gia nêu trên trở thành những quốc gia đứng đầu về số lượng di sản thế giới được UNESCO ghi danh.

Theo thống kê của Cục Di sản văn hóa, hiện cả nước có hơn 40.000 di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh. Trong đó, hơn 3 nghìn di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia, hơn 5 nghìn di tích xếp hạng cấp tỉnh.

Tuy vậy, số lượng lớn này không phản ánh đúng và đủ sự phát triển thực chất của chuyên ngành quản lý di sản vật thể. Trên bình diện quốc tế, các di sản vật thể của Việt Nam được UNESCO ghi danh thiếu về số lượng và yếu về tốc độ tăng trưởng so tiềm năng hiện có; cũng như so các nước có điều kiện địa lý và văn hóa tương đồng… Trong khi di sản phi vật thể, di sản tư liệu ở Việt Nam có tốc độ tăng trưởng nhanh về số lượng di sản được UNESCO ghi danh do tương thích, được cập nhật các quy định theo thông lệ và công ước quốc tế thì với di sản vật thể đang có chiều hướng ngược lại.

Có nhiều lý do, nhưng dễ nhận biết nhất là Luật Di sản văn hóa của ta có nhiều điểm không tương thích với công ước quốc tế. Ở ta, nhiều di sản thiên nhiên, cảnh quan văn hóa, di sản đô thị, di sản nông thôn (trong đó có rất nhiều các quần cư di sản các dân tộc thiểu số), di sản nông nghiệp, di sản công nghiệp và nhiều loại hình di sản vật thể khác theo thông lệ quốc tế chưa được thừa nhận và gọi tên đúng bản chất. Do đó đã bị hủy hoại một phần hoặc hoàn toàn.

Thiếu các nhóm di sản nói chung

Công ước 1972 về bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới mà Việt Nam là một quốc gia thành viên có các quy định riêng về “di sản văn hóa” tại Điều 1 và “di sản thiên nhiên” tại Điều 2; đồng thời Điều 3 yêu cầu các quốc gia thành viên phải xác định và phân định các di sản tương ứng với Điều 1 và Điều 2.

Tại Việt Nam, Pháp lệnh số 14-LCT/HĐND ngày 4/4/1984 (được ban hành trước thời điểm Việt Nam gia nhập Công ước) có liệt kê các địa điểm di sản bao gồm 2 nhóm là (1) di tích lịch sử, văn hóa và (2) danh lam thắng cảnh. Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi năm 2009) vẫn giống như Pháp lệnh 1984, các địa điểm di sản vẫn bao gồm 2 nhóm là (1) di tích lịch sử, văn hóa và (2) danh lam thắng cảnh được gọi chung là di tích. Đáng tiếc, cho đến nay dự thảo Luật Di sản văn hóa (sửa đổi), vẫn không thấy có tiến bộ trong vấn đề này.

Theo Công ước 1972, di sản văn hóa thế giới liệt kê gồm 3 nhóm: các di tích (monuments), nhóm các công trình/quần thể (groups of buildings), và các địa điểm (sites).

Nửa thế kỷ sau khi thế giới đạt được đồng thuận, chúng ta vẫn chưa hoàn tất việc nội luật hóa 3 nhóm di sản văn hóa cơ bản nhất được liệt kê tại Công ước 1972: các di tích (monuments), nhóm công trình (groups of buildings), và các địa điểm (sites). Trong khi đó, nhận thức của thế giới đã tiến đi rất xa, ngày càng theo hướng tổng thể và di sản sống.

Theo các tiến bộ của nhân loại, di sản văn hóa được nhận diện đã được mở rộng hơn nhiều so cách thức liệt kê ban đầu khi các quốc gia cùng nhau ký kết Công ước. Đến năm 2004, Hội đồng Di tích và Di chỉ quốc tế (ICOMOS) liệt kê toàn bộ các di sản văn hóa và hỗn hợp đã được UNESCO ghi danh để kiểm đếm lại các loại hình di sản văn hóa, họ đã xác định 3 nhóm nêu trên gộp lại chỉ là 1 trong 7 nhóm lớn…

Khoảng trống Cảnh quan văn hóa…

Dự thảo Luật Di sản văn hóa (sửa đổi) không xác định Cảnh quan văn hóa là một loại hình di sản riêng, mà được hiểu là cảnh quan của di tích và không gian văn hóa chung quanh. Cũng vì cách hiểu này, mà dự thảo không có các quy định dành riêng cho Cảnh quan văn hóa, và sử dụng cụm từ “cảnh quan văn hóa” rải rác bên dưới với tư cách cảnh quan cần được bảo vệ chung quanh di tích.

Cách hiểu trên khác biệt hoàn toàn về bản chất, theo UNESCO, Cảnh quan văn hóa là một loại hình di sản độc lập mới được bổ sung vào quy trình ghi danh World Heritage Sites (Di sản thế giới) năm 1992, bên cạnh Di sản văn hóa, Di sản thiên nhiên, Di sản văn hóa và thiên nhiên hỗn hợp. Di sản thế giới đầu tiên được công nhận với tư cách là Cảnh quan văn hóa là Ruộng bậc thang vùng Cordillera, Philippines, được UNESCO ghi danh vào năm 1995.

Cảnh quan văn hóa theo định nghĩa tại phần II.A. Định nghĩa Di sản thế giới (Chương II. Danh mục di sản thế giới); Hướng dẫn thực hiện Công ước năm 2023 như sau “Cảnh quan văn hóa được ghi danh trong Danh mục Di sản thế giới là các di sản văn hóa đại diện cho “các thành quả kết hợp của thiên nhiên và con người” được chỉ định tại Điều 1 của Công ước. Chúng thể hiện sự tiến hóa của xã hội con người và quá trình cư trú qua thời gian, dưới tác động của những giới hạn vật chất và/hoặc cơ hội của môi trường thiên nhiên và từ các lực lượng xã hội, kinh tế, văn hóa kế tiếp nhau, từ bên ngoài và bên trong”…

Khi không nhận thức được chính xác vai trò của Cảnh quan văn hóa, chúng ta đã, đang và sẽ mất đi các di sản này trên cả thực địa và danh hiệu. Bài học nhãn tiền là, sau nhiều lần UNESCO và ICOMOS nhắc nhở Việt Nam phải coi Di sản Quần thể di tích Cố đô Huế là một Cảnh quan văn hóa và mở rộng các ranh giới nhưng không được thực hiện, tiêu chí (iii) tại Giá trị nổi bật toàn cầu của Di sản đã bị xóa bỏ trong phiên họp thứ 38 tại Doha vào tháng 6/2014. Và như đã nêu, từ năm 2014 tới nay, đã 10 năm, Việt Nam không được UNESCO ghi danh thêm bất cứ một di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới nào.

Chúng tôi đề xuất về các đối tượng điều chỉnh của Luật Di sản văn hóa (sửa đổi) nên liệt kê đủ các đối tượng di sản văn hóa phi vật thể; di sản văn hóa vật thể; di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di sản thiên nhiên; cảnh quan văn hóa; các di sản quần cư và các nhóm di sản văn hóa vật thể khác tương tự như thông lệ quốc tế.

Nếu tên gọi Luật Di sản văn hóa không mang được đầy đủ nội hàm này, cần cân nhắc đổi tên thành Luật Di sản, để đáp ứng mục tiêu bảo tồn toàn vẹn hệ thống di sản quốc gia thay vì chỉ chú mục vào đối tượng điều chỉnh là di tích hoặc biến tất cả các di sản thành di tích, danh lam thắng cảnh theo nghĩa hẹp như dự thảo.

Tương tự Di sản văn hóa và thiên nhiên, Cảnh quan văn hóa cũng được mô tả và tiêu chuẩn hóa thành các nhóm cụ thể được UNESCO ghi danh Di sản thế giới (WHS), bao gồm: (i) Cảnh quan được xác định rõ ràng do con người thiết kế và tạo ra một cách có chủ ý; (ii) Cảnh quan phát triển hữu cơ; (iii) Cảnh quan văn hóa kết hợp.

Có thể bạn quan tâm

Giới thiệu về triển lãm “Bản thể giấy”.

“Bản thể giấy” giàu có thêm từ bản thể nghệ sĩ

Là phương tiện, giấy vàng son, giấy trầm sâu, giấy mịn màng qua tạo hình từ bàn tay họa sĩ. Thăm triển lãm “Bản thể giấy” đang mở tại B&C Maison d’Art, số 8 ngõ Thi Sách, phố Thi Sách (Hà Nội), người xem thấy được nhiều hơn từ cảm nhận chất liệu. Cũng như bỏ qua chính chất liệu để khám phá thế giới nghĩ của những tâm hồn đẹp.

Còn có một Huy Du của âm nhạc thời bình

Còn có một Huy Du của âm nhạc thời bình

Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh và chương trình nghệ thuật tưởng nhớ, tôn vinh nhạc sĩ Huy Du (1926-2026), PGS, TS Nguyễn Huy Phương,  con trai nhạc sĩ Huy Du, hiện là Giám đốc Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, chia sẻ về những giá trị được lưu giữ trong di sản âm nhạc của cha ông. Cũng như câu chuyện đưa đến gần hơn với công chúng hôm nay giá trị của tác phẩm nhạc sĩ Huy Du với những “Đường chúng ta đi”, “Nổi lửa lên em”, “Tình em”, “Anh vẫn hành quân”, “Trên đỉnh Trường Sơn ta hát”…

Đoàn nhà văn Việt Nam làm việc với Hội Nhà văn Trung Quốc.

Qua trang văn, độc giả quốc tế hiểu hơn về tinh thần Việt

Tháng 8/2026, tác phẩm “Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ” của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh được dịch giả Nguyễn Lệ Chi giới thiệu thành công tới nhà xuất bản ở Trung Quốc. Đây là tác phẩm đầu tiên của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh bước chân vào thị trường Hoa ngữ, kể từ sau các ấn bản dịch bằng tiếng Anh, Hàn, Thái, Nhật.

Lòng dũng cảm bắt đầu từ trái tim yêu thương

Lòng dũng cảm bắt đầu từ trái tim yêu thương

Truyện đồng thoại “Bọ ngựa hiệp sĩ một tay” (NXB Hà Nội, Nhã Nam phát hành tháng 9/2026) của nhà văn Uông Triều là một truyện dài trong một chuỗi các truyện đồng thoại của anh viết về xóm Hồ. Tiếp nối những câu chuyện thú vị từ “Vua ngan xóm hồ” (tác phẩm đã nhận giải thưởng Khát vọng Dế mèn lần 4, NXB Kim Đồng phát hành) lần này, độc giả lại tiếp tục được thưởng thức những mẩu chuyện ngộ nghĩnh, vui nhộn nơi xóm Hồ bé nhỏ thông qua một nhân vật ấn tượng khác: “Bọ ngựa - Hiệp sĩ một tay”.

Tác phẩm “Mắt cửa”, màu nước của họa sĩ Phan Anh Thư.

Hoài phố cảm tác

Sau thời gian lưu trú trong tháng 5 vừa qua để cảm nghiệm sâu sắc hơn nữa về vùng đất và con người Hội An (Đà Nẵng), bốn họa sĩ trẻ đang được chú ý của mỹ thuật đương đại Việt Nam đến từ Hà Nội, Huế, TP Hồ Chí Minh đã đưa hơn 20 tác phẩm màu nước, lụa và sơn dầu trở lại Hội An trong đợt 1 của triển lãm “Hoài phố cảm tác”. Sự kiện diễn ra từ ngày 11 đến 30/9. Đợt 2 của triển lãm sẽ tiếp nối từ ngày 9/10 đến 8/11, tại TP Hồ Chí Minh.

Những lễ hội và cơ duyên gặp gỡ

Những lễ hội và cơ duyên gặp gỡ

Sự kiện đáng kể cần điểm lại đầu tiên ở Thủ đô, trước Lễ hội Văn hóa thế giới tại Hà Nội một ngày, và cùng kéo dài đến hết ngày chủ nhật vừa qua (từ 1 đến 4/10) là Hội sách Hà Nội lần thứ XI với chủ đề “Sách mở tri thức - Công nghệ dẫn tương lai”.

Các đại biểu tham quan trưng bày về nhà báo Huỳnh Thúc Kháng và Báo Tiếng Dân. Ảnh: SƠN HẢI

Biến địa chỉ báo chí cách mạng thành trung tâm sáng tạo

Hội thảo khoa học và Trưng bày chuyên đề kỷ niệm 150 năm ngày sinh nhà báo Huỳnh Thúc Kháng với chủ đề “Huỳnh Thúc Kháng - Từ Báo Tiếng Dân đến Trường dạy làm báo” vừa diễn ra tại Thái Nguyên đã đón nhận nhiều gợi ý cho mô hình hoạt động của di tích quốc gia địa điểm Trường Dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng. Thời Nay xin trích một số ý kiến và kỳ vọng sớm đón nhận những bước hiện thực hóa từ sau hội thảo ý nghĩa này.

Văn hóa xây dựng lòng tin trong biến động

Văn hóa xây dựng lòng tin trong biến động

Diễn ra từ ngày 1 đến 4/10, quy tụ đại diện từ 50 quốc gia và tổ chức quốc tế, Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội lần thứ hai không chỉ mang đến những hoạt động giao lưu nghệ thuật, ẩm thực và di sản đặc sắc, mà còn khẳng định vai trò ngày càng nổi bật của Việt Nam trong thúc đẩy đối thoại văn hóa, tăng cường hiểu biết và kết nối giữa các dân tộc.

Cao ốc mới cần tôn trọng cảnh quan, bản sắc

Cao ốc mới cần tôn trọng cảnh quan, bản sắc

Xây dựng các tòa nhà phá vỡ kỷ lục trước đó về độ cao đang có dấu hiệu trở thành trào lưu tại Việt Nam. Tuy nhiên, điều đô thị hiện đại thật sự cần là những khối bê-tông đồ sộ, hay những không gian bền vững và lấy nhu cầu của con người làm gốc?

Phở Ngô Sapa. Ảnh: NAM NGUYỄN

Bữa ăn sáng và lời nói thầm

Chuyến công tác vùng cao hôm ấy cực kỳ thuận lợi, chúng tôi xuất hành trở về Hà Nội sớm hơn dự kiến. Xe khởi hành khi đất và người Lào Cai còn chưa thức giấc. Miền đất vùng biên xa xôi còn ẩn mình trong bóng tối cứ lùi xa dần theo từng vòng quay của bánh xe.

Thế hệ trẻ tham gia sản xuất phim hoạt hình.

Cơ hội nào để hoạt hình Việt Nam vươn tầm quốc tế?

Trong bức tranh sôi động của công nghiệp sáng tạo toàn cầu, lĩnh vực hoạt hình đang ngày càng khẳng định vị thế về giá trị kinh tế, văn hóa và sức ảnh hưởng sâu rộng. Với hoạt hình Việt Nam, những chuyển động tích cực trong thời gian gần đây mang lại tín hiệu khả quan và cơ hội phát triển. Tuy nhiên, để thúc đẩy tiềm năng trở thành lợi thế văn hóa, năng lực cạnh tranh và từng bước xây dựng ngành công nghiệp hoạt hình đúng nghĩa, cần nhận diện, tháo gỡ nhiều điểm nghẽn.

Cảnh phim “Trạng Quỳnh thời nhí nhố”.

Chuyên nghiệp hơn mới có thể bứt phá

Bên cạnh câu chuyện phát triển ý tưởng và xây dựng những dự án nguyên bản, một điểm nghẽn khác của hoạt hình Việt Nam nằm ở mức độ chuyên nghiệp và khả năng vận hành của toàn ngành. Đây cũng là vấn đề được nhiều chuyên gia quốc tế nhắc đến khi đánh giá triển vọng phát triển của các nền hoạt hình mới nổi.

Phim hoạt hình của nhiều nước Đông Nam Á được giới thiệu sinh động tại Liên hoan phim Annecy, Pháp.

Từ Annecy đến hướng đi mở cho hoạt hình Việt

Bên cạnh câu chuyện về tác phẩm xuất sắc, giải thưởng danh giá, hoạt động giao lưu chia sẻ…, bài học về khả năng liên tục tạo ra những ý tưởng, cơ hội mới là hướng đi mà hoạt hình Việt Nam cần bắt nhịp trong hành trình hội nhập quốc tế. Điều này có thể nhận ra qua Liên hoan phim hoạt hình quốc tế Annecy (Pháp). Năm nay, sự kiện quy tụ hơn 19 nghìn nhà làm phim, nhà sản xuất, nhà đầu tư, trường đào tạo và doanh nghiệp sáng tạo từ 120 quốc gia.

Khán giả khắp nơi trên thế giới đổ về cùng thưởng thức các tác phẩm mới ở Annecy, Pháp.

Mặc áo bản sắc để bước ra thế giới

Khi nhắc đến hoạt hình Việt Nam, yếu tố khiến nhiều đối tác quốc tế quan tâm chính là bản sắc văn hóa. Giữa hàng nghìn dự án từ khắp thế giới, lợi thế cạnh tranh không còn dừng lại ở khả năng sản xuất, làm chủ công nghệ, mà là nhận diện về bản sắc giữa bản đồ hoạt hình toàn cầu. Với kho tàng lịch sử, truyền thuyết, văn học dân gian, đời sống đương đại giàu sắc màu, Việt Nam đang sở hữu nguồn chất liệu sáng tạo dồi dào để hình thành những tác phẩm mang dấu ấn riêng. Điều quan trọng làm thế nào để chuyển hóa những giá trị văn hóa ấy thành các tác phẩm có sức sống nghệ thuật và thuyết phục được khán giả toàn cầu.

Tìm hiểu về không gian, lịch sử, truyền thống làng gốm Bát Tràng. Ảnh: QUANG HƯNG

Phải thuận thiên, giữ bản sắc văn hóa và hạnh phúc người dân

Sông Hồng là sông lớn, có đặc điểm thủy văn rất phức tạp, tần suất lũ lớn, nên trong suốt 1.000 năm qua, Thăng Long-Hà Nội phát triển chủ yếu về phía nam và phía tây sông Hồng. Dòng sông vừa là nguồn sống, vừa là rào cản bởi hệ thống đê điều ngăn lũ. Kết quả là, kiến trúc Hà Nội quay mặt vào phố, quay lưng ra sông. Vì thế, Đồ án điều chỉnh tổng thể quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng, tỷ lệ 1/5.000 (gọi tắt là Quy hoạch) đòi hỏi phải có tư duy quản trị rất lớn từ “quản lý dòng sông như thế nào” sang “làm thế nào để thành phố và dòng sông cùng phát triển”.

Mưu sinh trên sông. Ảnh: SONG ANH

Người cửa sông

“Mới đó mà đã hơn 17 năm rồi...”, anh Lê Văn Thức mở đầu câu chuyện bằng một tiếng thở dài, nhưng ánh mắt lại lấp lánh sự bình yên của một người đã đi qua giông bão.

Bên trong phong cảnh

Bên trong phong cảnh

Sóng Mây Gallery.S, Hà Nội đang giới thiệu 100 đơn vị tác phẩm tranh chì và điêu khắc gỗ kích thước trung bình và nhỏ của nghệ sĩ điêu khắc nổi tiếng người Nhật Mukai Katsumi (sinh năm 1946).

Điện Biên sẵn sàng cho Ngày hội văn hóa dân tộc H'Mông

Điện Biên sẵn sàng cho Ngày hội văn hóa dân tộc H'Mông

Từ ngày 9 đến 11/10, Ngày hội văn hóa dân tộc H'Mông lần thứ IV sẽ diễn ra tại tỉnh Điện Biên với sự tham gia của nghệ nhân, diễn viên, vận động viên quần chúng dân tộc H'Mông đến từ 11 tỉnh, gồm: Điện Biên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Thái Nguyên, Sơn La, Cao Bằng, Lai Châu, Lào Cai, Thanh Hóa, Nghệ An và Đắk Lắk. Ngày hội do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp UBND tỉnh Điện Biên và các địa phương tổ chức.