Ngoại giao khoa học-công nghệ nâng cao năng lực quốc gia

GS.TS. Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam trao Ý định thư hợp tác thúc đẩy Dự án VNREDSat-2 với Ông Sébastien Martin, Thứ trưởng Bộ Kinh tế, Tài chính và Chủ quyền Công nghiệp, Năng lượng và Kỹ thuật số Cộng hoà Pháp, dưới sự chứng kiến của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Tổng thống Cộng hòa Pháp Emmanuel Macron.
GS.TS. Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam trao Ý định thư hợp tác thúc đẩy Dự án VNREDSat-2 với Ông Sébastien Martin, Thứ trưởng Bộ Kinh tế, Tài chính và Chủ quyền Công nghiệp, Năng lượng và Kỹ thuật số Cộng hoà Pháp, dưới sự chứng kiến của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Tổng thống Cộng hòa Pháp Emmanuel Macron.

Trong kỷ nguyên công nghệ, ngoại giao khoa học-công nghệ không chỉ là một lựa chọn mà là xu thế tất yếu của mọi quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển. Phương thức hội nhập quốc tế thông qua hợp tác, kết nối về khoa học-công nghệ cho phép mỗi quốc gia tiếp cận nhanh hơn với dòng chảy tri thức, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao của thế giới.

Xu thế tất yếu

Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030 của Chính phủ xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đóng góp quan trọng vào tăng trưởng và phát triển đất nước. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đặt mục tiêu đến năm 2030, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam đạt mức tiên tiến, thuộc nhóm dẫn đầu Đông Nam Á về năng lực cạnh tranh số và Chính phủ điện tử.

Tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 ngày 5/8 vừa qua, Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung nhấn mạnh, ngoại giao khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang trở thành một trụ cột quan trọng của nền ngoại giao phục vụ phát triển, giữ vai trò mở đường, kết nối và kiến tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi để nâng cao năng lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, thúc đẩy làm chủ công nghệ chiến lược, bảo đảm an ninh công nghệ và nâng cao vị thế quốc gia trong trật tự công nghệ mới.

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Nội, nguyên Hiệu trưởng Trường đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, Chủ tịch Hội các Phòng thử nghiệm Việt Nam, ngoại giao khoa học-công nghệ chính là việc sử dụng các công cụ đối ngoại để thiết lập mạng lưới đối tác, thu hút nguồn lực trí tuệ toàn cầu nhằm kiến tạo và nâng cao sức mạnh nội sinh.

Thế giới đang chứng kiến sự dịch chuyển từ việc “chuyển giao công nghệ một chiều” sang “đồng sáng tạo tri thức”. Việt Nam phải chuyển từ thế thụ động sang chủ động, đưa các vấn đề thực tiễn cấp bách của mình như biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, phát triển vật liệu xanh, năng lượng tái tạo, an toàn thực phẩm... trở thành một phần trong chương trình nghị sự nghiên cứu của quốc tế. Bằng cách đó, chúng ta tạo ra môi trường thử nghiệm toàn cầu.

Thời gian qua, các viện nghiên cứu, trường đại học và nhiều doanh nghiệp đã thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động hợp tác, kết nối nhằm thu hút các nguồn lực tri thức, công nghệ và chuyên gia quốc tế. Viện Hàn lâm Khoa học công nghệ Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tăng cường các hoạt động ngoại giao khoa học-công nghệ, ký kết hợp tác với các viện, trường đại học quốc tế nhằm tiếp cận, học hỏi và nâng cao nguồn tri thức khoa học, đào tạo nhân lực và tham gia đồng nghiên cứu, làm chủ công nghệ và tiến tới sáng tạo công nghệ mới phục vụ mục tiêu phát triển quốc gia.

Trường đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) đã triển khai thành công một số dự án trọng điểm, như Dự án về nghiên cứu và đào tạo trong lĩnh vực khoa học phân tích (OEPAC), phối hợp cùng Đại học Tokyo và Hiệp hội các nhà sản xuất dụng cụ phân tích Nhật Bản-JAIMA, Dự án về an toàn thực phẩm và quan trắc chất lượng môi trường (SATREPS EDFEN), hợp tác với Đại học Waseda, Đại học Tokyo và JAIMA. Những dự án này đã và đang tạo ra sức bật lớn, nâng tầm toàn diện chất lượng đào tạo và nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ phân tích, an toàn thực phẩm và quan trắc môi trường tại Việt Nam.

Là thành viên Đoàn đại biểu cấp cao cùng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga, thăm chính thức Cộng hòa Pháp và dự Hội nghị thượng đỉnh Không gian vũ trụ tại Paris từ ngày 7-12/9 vừa qua, Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học công nghệ Việt Nam cho biết, với Nga, Việt Nam sẽ tăng cường vào các lĩnh vực khoa học chiến lược. Đó là vật lý hạt nhân, năng lượng nguyên tử, năng lượng mới và hệ thống năng lượng tiên tiến và các công nghệ số có tính nền tảng, công nghệ vũ trụ, vệ tinh nhỏ, viễn thám, UAV và các hệ thống tự hành, công nghệ vật liệu tiên tiến…

Với Pháp, Việt Nam thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực công nghệ vũ trụ. Vệ tinh quan sát trái đất VNREDSat-1 là một trong những kết quả tiêu biểu của hợp tác khoa học-công nghệ hai nước. Việc hợp tác giữa Viện Hàn lâm và Trung tâm Nghiên cứu Vũ trụ quốc gia Pháp (CNES) và Airbus Defence & Space đang được mở rộng hướng tới thế hệ vệ tinh quan sát Trái đất tiếp theo. Ở tầm nhìn dài hạn, Việt Nam hướng tới phát triển và từng bước làm chủ vệ tinh, chùm vệ tinh quan sát Trái đất cùng hạ tầng dữ liệu không gian.

Làm chủ và đồng sáng tạo công nghệ

Mục tiêu cuối cùng của hợp tác quốc tế về khoa học là làm chủ công nghệ. Một quốc gia chỉ có thể làm chủ công nghệ khi có nền tảng tri thức, nhân lực và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của chính mình.

Tại Trường đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội), việc hợp tác quốc tế được thực hiện dựa trên các tiêu chí rõ ràng gồm: tiếp cận chuẩn mực đào tạo quốc tế, tự chủ công nghệ phục vụ cộng đồng và khả năng mở rộng mạng lưới đổi mới sáng tạo. Phòng thí nghiệm trọng điểm được vận hành như một hệ sinh thái mở, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình giao lưu học thuật.

Tại đây, các giáo sư, chuyên gia quốc tế thường xuyên đến làm việc và phối hợp chặt chẽ với đội ngũ nghiên cứu Việt Nam, từ đó kiến tạo nên những sản phẩm và công trình khoa học mang tầm quốc tế.

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Nội, giá trị cốt lõi của ngoại giao khoa học-công nghệ không chỉ nằm ở vốn đầu tư hay cơ sở vật chất thu được, mà còn là khả năng thu hút tri thức và chuyên gia giỏi, gắn kết chặt chẽ với cộng đồng chuyên gia quốc tế, đồng thời tạo bệ phóng đưa sinh viên trong nước tiếp cận và vươn tới những chuẩn mực đào tạo hàng đầu.

Ngoại giao khoa học-công nghệ có thể được khởi đầu từ những cam kết cấp cao, nhưng sự thành công lại được quyết định bởi năng lực hấp thụ, tính chủ động và tinh thần hợp tác của các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế.

Giá trị cốt lõi của ngoại giao khoa học-công nghệ không chỉ nằm ở vốn đầu tư hay cơ sở vật chất thu được, mà còn là khả năng thu hút tri thức và chuyên gia giỏi, gắn kết chặt chẽ với cộng đồng chuyên gia quốc tế, đồng thời tạo bệ phóng đưa sinh viên trong nước tiếp cận và vươn tới những chuẩn mực đào tạo hàng đầu.

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Nội

Viện Hàn lâm Khoa học công nghệ Việt Nam chú trọng đổi mới mô hình hợp tác quốc tế từ “trao đổi cán bộ-hội thảo khoa học-đề tài nghiên cứu” sang mô hình “đồng phát triển công nghệ”. Mô hình hợp tác gồm bốn yếu tố: Xây dựng các phòng thí nghiệm và nhóm nghiên cứu chung đặt tại Việt Nam, triển khai các chương trình đồng tài trợ dài hạn gắn với một bài toán công nghệ cụ thể, đào tạo chuyên gia theo mô hình “train-the-trainer” (đào tạo nhân sự cốt lõi để người được đào tạo có khả năng tiếp tục đào tạo đội ngũ trong nước), đồng thời đưa doanh nghiệp tham gia ngay từ giai đoạn R&D để hình thành chuỗi từ nghiên cứu-nguyên mẫu-thử nghiệm-sản xuất-thương mại hóa.

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái cho biết, ngay từ khi thiết kế chương trình hợp tác phải xác định rõ ràng phần việc phía Việt Nam làm chủ, cơ chế chia sẻ dữ liệu và kết quả nghiên cứu, quyền sở hữu trí tuệ cũng như các mốc đánh giá năng lực. Điều này giúp chuyển giao công nghệ gắn chặt với mục tiêu nâng cao nội lực, thay vì chỉ dừng ở tiếp nhận sản phẩm hoặc thiết bị. Bởi, nếu sau một dự án chúng ta chỉ có thêm một thiết bị nhưng không có thêm một đội ngũ chuyên gia có khả năng hiểu, sửa đổi và phát triển thế hệ thiết bị tiếp theo, thì chưa thể gọi đó là thành công đầy đủ của hợp tác khoa học và công nghệ.

Có thể bạn quan tâm

Đông đảo đại biểu trong nước và quốc tế tham dự diễn đàn. (Ảnh: HÙNG ANH)

Việt Nam nắm bắt cơ hội mở rộng ứng dụng UAV, làm chủ công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị

Diễn đàn Kinh tế tầm thấp và Công nghiệp UAV Việt Nam 2026 không chỉ góp phần cập nhật xu hướng và nhận diện các vấn đề chính sách mà còn tạo thêm nền tảng để doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực công nghệ, phát triển chuỗi cung ứng và từng bước đưa kinh tế tầm thấp trở thành một động lực tăng trưởng mới của Việt Nam.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và lãnh đạo các nước tham dự Phiên chính thức Hội nghị thượng đỉnh Không gian vũ trụ. Ảnh: TTXVN

Ngoại giao công nghệ mở thêm không gian phát triển cho Việt Nam

Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành một nội dung quan trọng trong quan hệ đối ngoại, chuyến thăm cấp cao của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới các đối tác lớn như Nga và Pháp mở thêm cơ hội để Việt Nam tiếp cận tri thức, công nghệ, nhân lực và các hệ sinh thái đổi mới sáng tạo toàn cầu.

Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Phạm Đức Long tham dự và phát biểu tại họp báo ngày 10/9. (Ảnh: Thu Phương)

Luật sửa đổi 4 luật về công nghệ, viễn thông: Giảm tiền kiểm, tăng hậu kiểm và quản lý bằng dữ liệu

Với việc cắt giảm 47 điều kiện kinh doanh, bãi bỏ 2 thủ tục hành chính, tăng phân cấp, phân quyền, sử dụng dữ liệu thay cho yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại giấy tờ, Luật số 20/2026/QH16 cho thấy sự chuyển dịch rõ nét trong phương thức quản lý nhà nước: giảm những rào cản không còn cần thiết, tăng hậu kiểm và giám sát tuân thủ.

Người dân cần nâng cao cảnh giác và có ý thức khi tham gia mạng xã hội.

Mạnh tay để mạng xã hội không còn "ô nhiễm"

Vừa qua, một cuộc chiến “thanh lọc” mạng xã hội đã được lực lượng chức năng mạnh tay xử lý với nhiều vụ việc liên quan các youtuber, tiktoker. Đây là hồi chuông cảnh tỉnh cho người sử dụng mạng xã hội khi thông tin xấu độc có thể lợi dụng môi trường mạng để lan truyền những hình ảnh, nội dung không lành mạnh đến người dân.

Các đại biểu trao đổi tại KOL Summit 2026.

Củng cố sức mạnh mềm quốc gia trên không gian số

Ngày 7/9, tại Thành phố Hồ Chí Minh, hơn 1.000 nghệ sĩ, KOL (người có ảnh hưởng), nhà sáng tạo nội dung cùng đại diện cơ quan quản lý, hiệp hội và doanh nghiệp công nghệ đã tham gia Hội nghị KOL toàn quốc lần thứ II-KOL Summit 2026.

Trình diễn giải pháp công nghệ cho an ninh, an toàn, cứu hộ tại Secutech+ Vietnam 2026

Trình diễn giải pháp công nghệ cho an ninh, an toàn, cứu hộ tại Secutech+ Vietnam 2026

Tại triển lãm Secutech+ Vietnam 2026, HTI Group giới thiệu hệ sinh thái các sản phẩm công nghệ được nghiên cứu, phát triển và làm chủ bởi đội ngũ kỹ sư Việt Nam, từ các giải pháp phục vụ an ninh, giám sát, phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ cứu nạn đến những ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ số...

Từ những em bé thu mình vì mặc cảm, các em ở trường Hy Vọng dần hòa nhập với bạn bè, được ghi nhận bởi những thế mạnh riêng và tìm thấy vị trí của mình trong tập thể.

Có một ngôi trường nhân văn mang tên Hy Vọng

Giáo dục nhân văn ngoài truyền đạt kiến thức, còn cần môi trường để những đứa trẻ có xuất phát điểm khác nhau vẫn được học tập, trưởng thành và xây dựng tương lai. Ở Đà Nẵng có một ngôi trường như vậy - Trường Hy Vọng.

Tham quan Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt. (Ảnh: Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt)

Điện hạt nhân: Xây nhà máy chỉ là điểm khởi đầu

Việt Nam có thể nhập khẩu thiết bị và lựa chọn công nghệ, nhưng không thể nhập khẩu năng lực quốc gia để vận hành điện hạt nhân an toàn trong hàng chục năm. Bài toán thực sự không chỉ là xây dựng nhà máy, mà là chuẩn bị con người, hệ thống pháp quy và một hệ sinh thái đủ sức tiếp nhận, kiểm soát, từng bước làm chủ công nghệ.

Sở Khoa học-Công nghệ Hà Nội tổ chức diễn tập ứng phó y tế trong sự cố bức xạ và hạt nhân. (Ảnh: Thu Hằng)

Quản lý an toàn bức xạ trước yêu cầu mới

Ứng dụng bức xạ, đồng vị phóng xạ ngày càng mở rộng, trong khi Việt Nam chuẩn bị bước vào giai đoạn phát triển mới của năng lượng nguyên tử. Thực tế này đòi hỏi phương thức quản lý phải chuyển mạnh từ xử lý hồ sơ hành chính sang kiểm soát theo mức độ rủi ro, tăng cường phân cấp và ứng dụng dữ liệu số.

Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm áp dụng quy chuẩn kỹ thuật có liên quan. (Ảnh: Tô Hội)

Quy chuẩn kỹ thuật: “Hàng rào” bắt buộc bảo vệ người tiêu dùng

Quy chuẩn kỹ thuật không đơn thuần là những giới hạn, yêu cầu kỹ thuật đối với sản phẩm, hàng hóa. Đây là công cụ pháp lý bắt buộc giúp Nhà nước kiểm soát các nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, môi trường, an ninh quốc gia và quyền lợi người tiêu dùng, đồng thời bảo đảm hoạt động sản xuất, kinh doanh diễn ra minh bạch, công bằng.