Nghiên cứu, ứng dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học

Thuốc bảo vệ thực vật là một trong những vật tư quan trọng quyết định đến giá trị và chất lượng nông sản. Trong đó, thuốc bảo vệ thực vật sinh học được xem là nền tảng của nền nông nghiệp xanh vì ít để lại dư lượng trong sản phẩm; an toàn với con người, môi trường và hệ sinh thái.

Vận hành thiết bị bay không người lái phun thuốc trừ sâu trên đồng lúa xã Thư Lâm, thành phố Hà Nội. (Ảnh ANH SƠN)
Vận hành thiết bị bay không người lái phun thuốc trừ sâu trên đồng lúa xã Thư Lâm, thành phố Hà Nội. (Ảnh ANH SƠN)

Xuất phát từ nhu cầu thực tế, thời gian qua, công tác nghiên cứu, phát triển và sản xuất các loại thuốc bảo vệ thực vật sinh học ở nước ta đã có nhiều chuyển biển tích cực.

Từ phòng thí nghiệm đến đồng ruộng

Năm 2001, khoa Nông nghiệp, Trường đại học Cần Thơ bắt đầu đặt nền móng phát triển các giải pháp sinh học trong bảo vệ thực vật. Sau bảy năm nghiên cứu, tuyển chọn các chủng Trichoderma ưu việt, đến năm 2009, công nghệ này đã được chuyển giao cho Tập đoàn Lộc Trời (trước đây là Công ty Bảo vệ thực vật An Giang).

Trưởng phòng Nghiên cứu và Phát triển sản phẩm (Tập đoàn Lộc Trời) Huỳnh Minh Châu cho biết, thuốc trừ bệnh sinh học Tricô ĐHCT là sản phẩm đầu tiên sử dụng hoạt chất từ các chủng Trichoderma spp được Cục Bảo vệ thực vật (nay là Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cấp phép lưu hành với tư cách là thuốc bảo vệ thực vật sinh học.

Năm 2014, Trung tâm Nghiên cứu và Sản xuất sinh học Lộc Trời ra đời đã đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ từ phòng thí nghiệm sang sản xuất công nghiệp và thương mại hóa các sản phẩm, chế phẩm sinh học. Từ sản phẩm Tricô ĐHCT ban đầu, Trường đại học Cần Thơ tiếp tục chuyển giao các sản phẩm khác cho Lộc Trời như: Tricô ĐHCT-Phytopth, Tricô ĐHCT-Nấm hồng, Tricô ĐHCT-Lúa von...

Các chủng Trichoderma spp hoạt động như một hàng rào phòng thủ sinh học, vừa ngăn chặn, vừa tấn công các vi sinh vật gây hại nhờ vào khả năng cạnh tranh dinh dưỡng, tiết enzyme phân hủy vách tế bào và kích thích hệ miễn dịch cây trồng. Việc ứng dụng Trichoderma nói riêng và vi sinh vật có lợi nói chung không chỉ giúp kiểm soát dịch hại bền vững mà còn góp phần bảo vệ, cân bằng hệ vi sinh, hướng đến canh tác an toàn và phục hồi hệ sinh thái đất lâu dài.

Chuỗi sản phẩm này được tuyển chọn từ các chủng Trichoderma spp bản địa và được xây dựng công thức với cơ chế tác động chuyên biệt trên từng nhóm đối tượng dịch hại. Trong đó, tập trung ở nhóm cây trồng như: Các loại cây ăn trái, cây công nghiệp như hồ tiêu, cà-phê, rau. Bình quân mỗi năm Tập đoàn Lộc Trời cung cấp cho thị trường hàng trăm tấn thuốc Tricô ĐHCT, có thời điểm sản lượng tiêu thụ đạt hơn 200 tấn/năm.

Cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Huỳnh Tấn Đạt cho biết, hiện cả nước có 94 cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật đủ điều kiện theo quy định, trong đó, có 85 cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật sinh học. Các dạng thuốc sản xuất trong nước chủ yếu là thuốc bảo vệ thực vật vi sinh vật, thảo mộc và các thuốc nhóm hóa sinh.

Tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam đã sản xuất được gần 30 dạng thuốc bảo vệ thực vật thành phẩm khác nhau. Trong đó, có rất nhiều dạng tiên tiến và an toàn cho con người như: Dạng hạt phân tán trong nước, dầu phân tán, đậm đặc tan trong nước, dạng hạt (WG, OD, SL, GR,...).

Cùng với đó, các công nghệ sản xuất thuốc bảo vệ thực vật sinh học phổ biến trên thế giới cũng đã được đăng ký, sản xuất và ứng dụng tại Việt Nam như: Thuốc bảo vệ thực vật sinh học nano, chiết xuất từ thảo mộc, chứa các vi sinh vật và một số loại thuốc có nguồn gốc virus hay từ tuyến trùng...

Thời gian qua, một số dự án sản xuất thử nghiệm nhằm chuyển giao, ứng dụng vào thực tế sản xuất cũng đã được nghiên cứu, phát triển như: Nghiên cứu sản xuất chế phẩm Chaetomium trừ nấm gây bệnh trên cây chè, cà-phê và cao su; nghiên cứu công nghệ sản xuất và ứng dụng chế phẩm sinh học Bio-VAAS.1 kiểm soát bệnh vàng lá, thối rễ và chảy gôm trên cây cam, sầu riêng; dự án hoàn thiện công nghệ sản xuất, ứng dụng chế phẩm BIOFUN để phòng trừ rệp sáp hại cà-phê; hoàn thiện công nghệ sản xuất và sử dụng chế phẩm sinh học phòng trừ bệnh héo xanh vi khuẩn trên lạc...

Tự chủ động công nghệ, đầu tư trọng điểm

Công tác nghiên cứu, ứng dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học ở nước ta thời gian qua đã đạt được một số thành tựu đáng ghi nhận. Tuy nhiên, có rất ít dây chuyền công nghệ sản xuất thuốc bảo vệ thực vật sinh học ở quy mô công nghiệp.

Nguyên nhân là hầu hết các cơ sở vật chất thiết bị chưa đồng bộ, nhiều công đoạn vẫn thực hiện bằng phương pháp thủ công. Phần lớn các doanh nghiệp phụ thuộc vào các đối tác nước ngoài, nhất là về vấn đề bản quyền, nguyên liệu và công nghệ.

anh-man-hinh-2025-07-22-luc-060606-9816.png
Người dân xã Khánh Bình, tỉnh Cà Mau phun thuốc bảo vệ thực vật trên đồng lúa. (Ảnh HUỲNH LÂM)

Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu thử nghiệm, sản xuất, chuyển giao các thuốc bảo vệ thực vật sinh học hiện nay còn khó khăn, thiếu đồng bộ do chưa có sự phối hợp, liên kết giữa các thành phần sản xuất, dẫn đến vướng mắc khi chuyển giao và ứng dụng. Phần lớn các nghiên cứu thử nghiệm chỉ dừng ở quy mô phát hiện tiềm năng của sản phẩm trong phòng thí nghiệm, chưa có các bước nghiên cứu chuyên sâu, sản xuất ra thuốc thành phẩm, chuyển giao công nghệ sản xuất ở quy mô lớn và đưa được ra thị trường phục vụ người tiêu dùng.

Theo phản ánh của nhiều doanh nghiệp, các chính sách về phát triển thuốc bảo vệ thực vật sinh học hiện nay chưa phù hợp và đủ mạnh để khuyến khích nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học. Thủ tục, chỉ tiêu đăng ký tuy được cắt giảm đáng kể so với thuốc hóa học nhưng vẫn còn cồng kềnh, rườm rà. Phương pháp kiểm nghiệm đánh giá đối với các thuốc bảo vệ thực vật sinh học còn bị hạn chế về kỹ thuật.

Hiện nay, nước ta đã có một lực lượng cán bộ khoa học có trình độ chuyên môn cao, song chưa xây dựng được đội ngũ cán bộ khoa học đầu ngành về thuốc bảo vệ thực vật sinh học để có những kết quả nghiên cứu mang tính đột phá. Việc nghiên cứu sản xuất loại thuốc này còn dàn trải, chưa tập trung, cho nên chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn. Bên cạnh đó, trang thiết bị nghiên cứu, sản xuất thuốc bảo vệ thực vật sinh học ở quy mô công nghiệp là rất ít, chủ yếu là dây chuyền sản xuất ở quy mô nhỏ lẻ, bán thủ công.

Để nâng cao hiệu quả việc nghiên cứu, ứng dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học vào sản xuất, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật Việt Nam Nguyễn Văn Sơn kiến nghị, cơ quan chức năng cần khẩn trương rà soát lại Luật Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật cũng như toàn bộ quy trình, thủ tục đăng ký, yêu cầu về chỉ tiêu chất lượng, từ đó điều chỉnh, sửa đổi cho phù hợp thực tế sản xuất.

Cùng với đó, cần phân nhóm cụ thể các loại thuốc bảo vệ thực vật sinh học và xây dựng cơ chế đăng ký phù hợp từng chủng loại. Nhằm phát huy nguồn lực sẵn có của các trung tâm, viện nghiên cứu, Nhà nước cần sớm ban hành chính sách xã hội hóa trong nghiên cứu, sản xuất thuốc bảo vệ thực vật sinh học; bổ sung một số chính sách hỗ trợ khuyến khích và ưu đãi các các tổ chức, doanh nghiệp đầu tư công nghệ sản xuất thuốc bảo vệ thực vật sinh học như: Hỗ trợ các thủ tục để tiếp nhận công nghệ, vay vốn, thuê đất làm nhà xưởng, các ưu đãi về thuế, phí để phát triển sản phẩm. Đồng thời, tập trung đào tạo nhân lực, bảo đảm đúng đối tượng, ưu tiên phát triển nguồn nhân lực đủ mạnh để thực hiện nghiên cứu, sản xuất và chuyển giao công nghệ...

Có thể bạn quan tâm

Dự án Trường nội trú liên cấp xã Hướng Phùng đang được khẩn trương hoàn thiện để kịp đưa vào sử dụng đầu năm mới (Ảnh: HƯƠNG GIANG)

Quảng Trị yêu cầu đến 31/8 giải ngân vốn đầu tư công đạt tối thiểu 60% kế hoạch năm 2026

Ngày 20/8, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị cho biết, Chủ tịch Lê Hồng Vinh vừa ký công văn yêu cầu các sở, ban, ngành, đơn vị cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu tiếp tục đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, duy trì tỷ lệ giải ngân cao hơn mức bình quân chung của cả nước. 

Việc được Trung Quốc cấp thêm 140 mã số vùng trồng và 31 mã số cơ sở đóng gói sẽ góp phần mở rộng năng lực tham gia chuỗi xuất khẩu chính ngạch của sầu riêng Đắk Lắk. (Ảnh: Nguyễn Công Lý)

Trung Quốc phê duyệt thêm 140 mã số vùng trồng và 31 mã số cơ sở đóng gói cho sầu riêng Đắk Lắk

Ngày 20/8, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk Nguyễn Thiên Văn cho biết, Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) vừa thông báo chấp thuận cấp thêm cho tỉnh Đắk Lắk 140 mã số vùng trồng, với tổng diện tích 4.321,88ha và chấp thuận cấp thêm 31 mã số cơ sở đóng gói, có tổng diện tích 91.135m2, công suất khoảng 5.470 tấn/ngày.

Quy hoạch, hạ tầng, pháp lý, chất lượng sống và khả năng tài chính đang trở thành những “bộ lọc” quan trọng của thị trường bất động sản. (Ảnh: HNV)

Người mua bất động sản chuyển từ kỳ vọng tăng giá sang ưu tiên giá trị thực

Khảo sát tâm lý người tiêu dùng bất động sản quý II/2026 của Batdongsan.com.vn cho thấy niềm tin thị trường đang cải thiện nhưng người mua không còn ra quyết định chủ yếu dựa trên kỳ vọng giá tăng.Quy hoạch, hạ tầng, pháp lý, chất lượng sống và khả năng tài chính đang trở thành những “bộ lọc” quan trọng.

LPBank lọt Top 6 ngân hàng tư nhân nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam theo bảng xếp hạng Vietnam Largest Taxpayers (VNTAX). (Ảnh: LPBank)

LPBank lọt Top 6 ngân hàng tư nhân nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

Năm 2025, LPBank đóng góp 3.298 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước, tăng hơn 3 lần so năm 2021, đưa ngân hàng vào Top 6 ngân hàng tư nhân nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam. Kết quả này ghi dấu hành trình mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả hoạt động và từng bước gia tăng năng lực tạo giá trị cho nền kinh tế.

Hội nghị đối thoại về thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp và chuẩn hóa sổ sách kế toán. (Ảnh: KHÔI MINH)

Chuẩn hóa sổ sách, chủ động phòng ngừa rủi ro thuế

Ngày 19/8, Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Hỗ trợ doanh nghiệp Hà Nội (Sở Tài chính Hà Nội) tổ chức Hội nghị đối thoại về thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp và chuẩn hóa sổ sách kế toán. Hội nghị cập nhật chính sách thuế, trao đổi giải pháp chuẩn hóa hồ sơ, chứng từ, nâng cao năng lực quản trị và phòng ngừa rủi ro.

Quang cảnh triển lãm HORECFEX Vietnam 2026. (Ảnh: Công Vinh)

HORECFEX Vietnam 2026 thúc đẩy ứng dụng công nghệ, kiến tạo tương lai ngành HORECA

HORECFEX Vietnam 2026 - Diễn đàn công nghệ, đổi mới sáng tạo và cung ứng cho ngành du lịch với gần 100 gian hàng về công nghệ, nhà cung cấp sản phẩm, thiết bị và giải pháp dành cho ngành khách sạn, nhà hàng và du lịch đã chính thức khai mạc vào sáng 20/8, tại Cung hội nghị quốc tế Ariyana Đà Nẵng (thành phố Đà Nẵng).

Tuyến đường nối phường Định Công và trục Vành đai 2,5 và đường Giải Phóng đang dần về đích sau 23 năm kéo dài.

Giải cứu dự án đường Nguyễn Cảnh Dị nối dài: Khi kỷ cương gắn liền với trách nhiệm

Sau 23 năm kéo dài vướng mắc giải phóng mặt bằng, pháp lý và kỹ thuật, dự án Khu đô thị mới Bắc Đại Kim mở rộng đang được tháo gỡ từ sự chỉ đạo quyết liệt của Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, cùng sự vào cuộc của chính quyền cơ sở, chủ đầu tư, phấn đấu hoàn thành tuyến đường Nguyễn Cảnh Dị nối dài trong quý III/2026.

Cục trưởng Nguyễn Thu Hương phát biểu tại buổi làm việc. (Ảnh: BÁ DŨNG)

Vĩnh Long: Cục Thống kê hiến kế tháo gỡ khó khăn, nâng cao hiệu quả điều hành kinh tế

Ngày 20/8, Đoàn công tác của Cục Thống kê do Cục trưởng Nguyễn Thu Hương làm Trưởng đoàn có buổi làm việc với Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long về kết quả thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 7 tháng đầu năm, đồng thời trao đổi về các động lực, kịch bản tăng trưởng cho những tháng cuối năm 2026 và định hướng năm 2030.

Sầu riêng đã vươn lên trở thành mặt hàng rau quả xuất khẩu chủ lực, với kim ngạch hàng tỷ USD mỗi năm. (Ảnh: Ban Tổ chức cung cấp)

Gỡ điểm nghẽn ngành hàng sầu riêng, kiến tạo xuất khẩu bền vững

Sầu riêng đã vươn lên trở thành mặt hàng rau quả xuất khẩu chủ lực, với kim ngạch hàng tỷ USD mỗi năm. Tuy nhiên, sự phát triển nóng về diện tích, sản lượng đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về kiểm soát chất lượng, tổ chức lại vùng nguyên liệu, quản lý mã số vùng trồng, đa dạng hóa thị trường và nâng cao giá trị ngành hàng.

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hoài trao đổi với phóng viên báo chí bên lề Hội thảo khoa học quốc gia “Đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển” sáng 20/8, tại Hà Nội.

Muốn trở thành nước thu nhập cao, Việt Nam phải tăng tốc nguồn nhân lực và năng suất

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hoài, Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, để hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam cần chuyển mạnh từ mô hình dựa vào vốn, tài nguyên và FDI với trình độ công nghệ trung bình sang phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao...

Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Thắng Lợi, Giảng viên cao cấp, Đại học Kinh tế Quốc dân trả lời phỏng vấn sáng 20/8, tại Hà Nội.

Tạo động lực tăng trưởng mới từ công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Trao đổi bên lề Hội thảo khoa học quốc gia “Đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển”, Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Thắng Lợi cho rằng cần tạo động lực tăng trưởng mới từ công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đồng thời nâng cao năng suất và chất lượng dòng vốn FDI.

VETC quyết định chưa áp dụng và tạm dừng triển khai chính sách phí dịch vụ VETC này để rà soát, lắng nghe thêm ý kiến khách hàng và xây dựng giải pháp phù hợp hơn. (Ảnh: HUYỀN THANH)

VETC tạm dừng thu phí dịch vụ Ví VETC

Ngày 20/8, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thu phí tự động VETC cho biết, trước các phản ánh của dư luận xã hội liên quan chính sách phí dịch vụ Ví VETC vừa qua, VETC quyết định chưa áp dụng và tạm dừng triển khai chính sách phí này để rà soát, lắng nghe thêm ý kiến khách hàng và xây dựng giải pháp phù hợp hơn.

Định hình kiến trúc phát triển mới cho Việt Nam

Bài 5: Định hình kiến trúc phát triển mới cho Việt Nam

Năm 2026 trở thành dấu mốc quan trọng để Việt Nam quyết định đổi mới mô hình phát triển, tăng trưởng 2 con số trong dài hạn nhằm vượt bẫy thu nhập trung bình, hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Chuyển mạnh sang tạo ra sản phẩm, kết quả và giá trị cụ thể

Các nhiệm vụ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW chỉ được coi là hoàn thành khi có sản phẩm vận hành, dữ liệu kiểm chứng, người dùng thực tế và hiệu quả đo đếm được. Yêu cầu đặt ra là phải chuyển mạnh từ triển khai nhiệm vụ sang tạo ra sản phẩm, kết quả và giá trị cụ thể, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Bước chuyển chiến lược trong tư duy phát triển của Việt Nam

Bước chuyển chiến lược trong tư duy phát triển của Việt Nam

Nghị quyết 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đã đánh dấu bước chuyển chiến lược trong tư duy phát triển của Việt Nam, từ mục tiêu tăng trưởng sang đổi mới mô hình phát triển quốc gia, tạo nền tảng hiện thực hóa khát vọng đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.