Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ giám sát xâm nhập mặn

Hiện nay, hầu hết hệ thống sông lớn như: sông Hồng và sông Đồng Nai,… đều bị xâm nhập mặn, gây ảnh hưởng xấu đến mọi hoạt động sinh hoạt và sản xuất của người dân.

(Ảnh: TTXVN)
(Ảnh: TTXVN)

Trước thực trạng này, các nhà khoa học Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Viện Hàn lâm) đã nghiên cứu, ứng dụng giải pháp Internet vạn vật (Internet of Things-IoT) giám sát xâm nhập mặn vào thực tiễn.

Xâm nhập mặn đang trở thành thách thức lớn và diễn ra khá phổ biến tại nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước, nhất là những hệ thống sông lớn. Điều đó gây ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh lương thực, nuôi trồng thủy sản, sản lượng cây ăn quả, đồng thời tác động trực tiếp đến đời sống và sức khỏe người dân. Thí dụ tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, tình trạng xâm nhập mặn đang ở mức báo động bởi các nguyên nhân như: ảnh hưởng nước biển dâng, nhiệt độ tăng cao, khai thác nước ngầm quá mức đã gây tác động xấu tới các hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp…

Theo thống kê, năm 2024, sản lượng lương thực có hạt của cả nước giảm 81,1 nghìn tấn so với năm 2023, trong đó xâm nhập mặn là một trong những nguyên nhân chính. Bên cạnh đó, cùng với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội thì công tác giám sát, cảnh báo xâm nhập mặn được xác định là một trong những giải pháp cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.

Thạc sĩ Nguyễn Thị Nhật Quỳnh và các đồng nghiệp ở Viện Cơ học và Tin học ứng dụng (nay là Viện Công nghệ thông tin, Viện Hàn lâm) triển khai nghiên cứu Dự án sản xuất thử nghiệm cấp Viện Hàn lâm “Hệ thống giám sát xâm nhập mặn ứng dụng công nghệ IoT”. Quá trình thực hiện dự án, bước đầu nhóm tác giả khẳng định khả năng làm chủ công nghệ trong nước, từ thiết kế đầu đo độ mặn đến phần mềm thu thập, xử lý và hiển thị dữ liệu theo thời gian thực cho đến cung cấp công cụ và giải pháp, dữ liệu thực tế, chính xác cho các cơ quan quản lý nhà nước.

Qua tìm hiểu, dự án hệ thống giám sát xâm nhập mặn ứng dụng công nghệ IoT được kế thừa, phát triển kết quả của đề tài “Nghiên cứu và thiết kế máy đo độ dẫn điện nước siêu sạch có độ phân giải đến 0.01μS/cm” của Viện Vật lý Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Viện Công nghệ thông tin, Viện Hàn lâm). Sản phẩm hệ thống giám sát được sản xuất thử nghiệm với 20 thiết bị đo đa chỉ tiêu, cho phép theo dõi độ mặn của nước (0-85g/L), độ dẫn điện (EC), nhiệt độ nước (TE). Mỗi thiết bị đo đều được đặt trên một hệ thống khung phao nổi, tích hợp tấm pin năng lượng mặt trời cung cấp nguồn điện. Dữ liệu đo được tự động truyền về máy chủ thông qua mạng không dây, sau đó phân tích và hiển thị lên ứng dụng điện thoại thông minh (App IoTVision), giúp người dùng dễ dàng theo dõi và nhận cảnh báo khi độ mặn vượt ngưỡng.

Dự án hệ thống giám sát xâm nhập mặn ứng dụng công nghệ IoT được kế thừa, phát triển kết quả của đề tài “Nghiên cứu và thiết kế máy đo độ dẫn điện nước siêu sạch có độ phân giải đến 0.01μS/cm” của Viện Vật lý Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Viện Công nghệ thông tin, Viện Hàn lâm). Sản phẩm hệ thống giám sát được sản xuất thử nghiệm với 20 thiết bị đo đa chỉ tiêu, cho phép theo dõi độ mặn của nước (0-85g/L), độ dẫn điện (EC), nhiệt độ nước (TE). Mỗi thiết bị đo đều được đặt trên một hệ thống khung phao nổi, tích hợp tấm pin năng lượng mặt trời cung cấp nguồn điện. Dữ liệu đo được tự động truyền về máy chủ thông qua mạng không dây, sau đó phân tích và hiển thị lên ứng dụng điện thoại thông minh (App IoTVision), giúp người dùng dễ dàng theo dõi và nhận cảnh báo khi độ mặn vượt ngưỡng.

“Điểm nổi bật của hệ thống là khả năng giám sát liên tục theo thời gian thực, dễ dàng mở rộng quy mô để phù hợp thực tiễn. Hệ thống có khả năng triển khai đồng thời nhiều trạm đo, hình thành mạng lưới giám sát trên diện rộng, phục vụ công tác quản lý tài nguyên nước và thích ứng dài hạn với biến đổi khí hậu”, Thạc sĩ Nguyễn Thị Nhật Quỳnh chia sẻ.

Không dừng ở phạm vi sản xuất thử nghiệm, nhóm nghiên cứu đang tiếp tục cải tiến thiết bị đo phiên bản mới hơn phù hợp xu thế phát triển không ngừng của công nghệ và phù hợp môi trường thực tiễn khắc nghiệt tại nơi đặt các trạm đo. Từ đó, giúp các cơ quan quản lý các cấp, nhiều người dùng có nguồn dữ liệu chính xác trong xây dựng kế hoạch, nghiên cứu, ứng dụng vào sản xuất và khai thác, nuôi trồng thủy-hải sản…; đồng thời, góp phần giảm rủi ro và thiệt hại do xâm nhập mặn gây ra.

Ngoài ra, các kết quả nghiên cứu của dự án có tính ứng dụng cao trong phát triển trong hệ thống giám sát tài nguyên môi trường nước và quan trắc môi trường; xây dựng cơ sở dữ liệu về quan trắc, giám sát, tiến tới dự báo tình hình nhiễm mặn ở khu vực rộng lớn… Trước đó, dự án được Quỹ Newton của Viện Hàn lâm Kỹ thuật Hoàng gia Anh (RAEng) đánh giá cao về tiềm năng thương mại hóa sản phẩm.

Dự án còn có tên trong danh sách được RAEng tài trợ cán bộ sang London đào tạo về thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học. Các thành viên Hội đồng nghiệm thu dự án của Viện Hàn lâm đánh giá cao các kết quả của nhóm nghiên cứu, nhất là việc phát triển thành công hệ thống giám sát xâm nhập mặn ứng dụng công nghệ IoT-công nghệ Việt. Các thiết bị phần cứng và phần mềm trong vận hành hệ thống đều thể hiện tính đồng bộ cao, được thử nghiệm và vận hành ổn định trong điều kiện thực tế.

Có thể bạn quan tâm

FPT ra mắt chương trình đào tạo Thạc sĩ Công nghệ thông tin định hướng Trí tuệ nhân tạo vạn vật (MIT-AIoT) nhằm đáp ứng nhu cầu đội ngũ nhân lực chất lượng cao có khả năng xây dựng các hệ thống AIoT thông minh, an toàn. Ảnh: FSB.

Đào tạo nhân lực làm chủ hệ thống thông minh trong kỷ nguyên AI

Trí tuệ nhân tạo (AI) và Internet vạn vật (IoT) đang mở ra nhiều cơ hội phát triển các hệ thống sản xuất, đô thị và dịch vụ thông minh, đồng thời đặt ra yêu cầu mới về an toàn thông tin. Việc đào tạo đội ngũ nhân lực có khả năng thiết kế, tích hợp và vận hành các hệ thống này đang trở thành một bài toán quan trọng.

Đoàn công tác của Bộ Khoa học và Công nghệ khảo sát tại Trung tâm Phục vụ Hành chính công tỉnh Quảng Trị. (Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Tháo gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số, lấy hiệu quả phục vụ làm thước đo

Sau hơn hai tháng triển khai đợt cao điểm 100 ngày, Bộ Khoa học và Công nghệ đã hoàn thành nhiều nhiệm vụ về thể chế, kết nối dữ liệu, tái cấu trúc thủ tục hành chính và bảo đảm an toàn hệ thống. Yêu cầu trong thời gian còn lại là đưa các kết quả này vào vận hành thực chất, nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Quang cảnh chương trình Cơ hội hợp tác khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, phát triển công nghệ chiến lược và sản phẩm chiến lược. (Ảnh: HÀ LINH)

Gắn nghiên cứu công nghệ năng lượng với nhu cầu doanh nghiệp

Ngày 10/10, trong khuôn khổ chuỗi sự kiện chào mừng kỷ niệm 70 năm thành lập Đại học Bách khoa Hà Nội, Viện Công nghệ năng lượng (Đại học Bách khoa Hà Nội) tổ chức chương trình Cơ hội hợp tác khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, phát triển công nghệ chiến lược và sản phẩm chiến lược.

Quang cảnh buổi làm việc. (Ảnh: LƯƠNG TÙNG)

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng làm việc với Trung tâm ICISE

Ngày 10/10, tại Trung tâm quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành (ICISE), tỉnh Gia Lai, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng có buổi làm việc với Giáo sư Trần Thanh Vân, Giám đốc Trung tâm ICISE để bàn về các giải pháp tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện để Trung tâm phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế.

Nâng cao năng lực thực hành cho các nhà lãnh đạo, quản lý trong chuyển đổi số và ứng dụng AI

Nâng cao năng lực thực hành cho các nhà lãnh đạo, quản lý trong chuyển đổi số và ứng dụng AI

Ngày 10/10, tại Hà Nội, Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam phối hợp với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức buổi trao đổi chuyên đề "Chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đối với lãnh đạo, quản lý: Kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp", với sự tham gia của khoảng 700 học viên là các nhà lãnh đạo, quản lý.

Ngày hội Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo thành phố Đà Nẵng - SURF 2026. (Ảnh: THANH TÂM)

Đà Nẵng: Xây dựng Đề án Truyền thông khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Ngày 10/10, Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Đà Nẵng phối hợp Trung tâm Hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Đà Nẵng tổ chức Hội thảo “Góp ý xây dựng Đề án Truyền thông khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2026-2030”.

Giới thiệu Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số tới các đại biểu tham dự sự kiện chào mừng Ngày Chuyển đổi số quốc gia năm 2026 do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức. (Ảnh: Hà Linh)

Đẩy nhanh triển khai Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số

Bộ Khoa học và Công nghệ đang khẩn trương triển khai các nhiệm vụ đưa Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số vào thực tiễn. Qua đó, bảo đảm sự thống nhất trong xây dựng, vận hành các hệ thống số, tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu, khắc phục đầu tư phân tán, trùng lặp, góp phần nâng cao hiệu quả chuyển đổi số quốc gia. 

"Hiến kế" sẽ là không gian tương tác, giúp tất cả các ý kiến đóng góp hay, mang tính xây dựng của người dân được chính quyền trân trọng tiếp nhận. (Ảnh: Ng. Hiếu)

Lắng nghe dân, đồng hành cùng doanh nghiệp, mở lối thu hút đầu tư

Hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số quốc gia và Ngày Doanh nhân Việt Nam, thành phố Huế đưa vào vận hành ba nền tảng số trên Hue-S, mở thêm kênh tiếp nhận hiến kế, giải quyết kiến nghị doanh nghiệp và công khai thông tin dự án đầu tư, hướng đến chính quyền kiến tạo, phục vụ, minh bạch và hiệu quả.

Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Phạm Đức Long cùng các đại biểu thực hiện nghi thức bấm nút ra mắt nền tảng ứng dụng chuyển đổi số cấp xã. (Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Khơi thông nguồn lực, thúc đẩy chuyển đổi số

Chuyển đổi số ngày càng trở thành yếu tố then chốt quyết định năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng của doanh nghiệp. Vì vậy, tạo lập môi trường thuận lợi, kết nối nguồn lực và tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng, dữ liệu là điều kiện quan trọng để chuyển đổi số tạo sức bật mới cho doanh nghiệp.

Các đại biểu tham quan gian hàng trưng bày sản phẩm chuyển đổi số tại sự kiện chào mừng Ngày Chuyển đổi số quốc gia năm 2026 do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức. (Ảnh: Hà Linh)

Đổi mới cách hỗ trợ địa phương chuyển đổi số

Năm 2027, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ đổi mới cách hỗ trợ địa phương chuyển đổi số, tập trung giải quyết các bài toán cụ thể của người dân và doanh nghiệp. Những mô hình triển khai thành công sẽ được nhân rộng.