Nâng cao kiến thức sức khỏe sinh sản cho thanh thiếu niên vùng cao Yên Bái

Thông qua dự án Cải thiện sức khỏe sinh sản và tình dục cho thanh thiếu niên tỉnh Yên Bái, tỷ lệ thanh thiếu niên có kiến thức cơ bản về sức khỏe sinh sản và tình dục vị thành niên tăng từ 32% lên 83%.
Các đại biểu chia sẻ tại hội thảo.
Các đại biểu chia sẻ tại hội thảo.

Ngày 12/3, Tổ chức Cứu trợ Trẻ em phối hợp ngành y tế Yên Bái tổ chức Hội thảo chia sẻ kết quả dự án Cải thiện sức khỏe sinh sản và tình dục cho thanh thiếu niên tỉnh Yên Bái.

Bác sĩ Trần Văn Hiển, Phó Giám đốc Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Yên Bái cho biết, mục tiêu dự án là cải thiện sức khỏe sinh sản cho thanh thiếu niên từ 15-19 tuổi, đối tượng hưởng lợi gián tiếp là cha mẹ, ông bà, người thân chăm sóc trẻ, cán bộ y tế, giáo viên... Dự án được thực hiện trong 20 tháng (từ tháng 7/2023 đến tháng 3/2025), trên địa bàn huyện Mù Cang Chải và huyện Văn Chấn.

Ông Trần Đăng Khoa, Phó Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em (Bộ Y tế) cho biết, giáo dục về sức khỏe sinh sản, tình dục cho vị thành niên là một nội dung rất quan trọng đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Xã hội càng phát triển, công nghệ càng phát triển, các thông tin cập nhật rất nhanh, cần phải có sự giáo dục, truyền thông đối với người ở độ tuổi này.

Với đối tượng, vị thành niên, thanh niên, những việc như mang thai sớm, lây truyền bệnh tình dục… là những hệ lụy mà tương lai các em sẽ ảnh hưởng rất lớn, nhất là các trẻ em gái, khi lớn lên có thể dẫn tới khó có con và vô sinh…

Mô hình dự án triển khai tại tỉnh Yên Bái một can thiệp rất hay, cần phải nhân rộng, không chỉ trong toàn tỉnh Yên Bái mà trong toàn quốc. Dự án này có thể lồng ghép vào các chương trình của địa phương; nâng cao vai trò của nhà trường, gia đình, các tổ chức đoàn thanh niên; đặc biệt là vai trò của chính các em cần phải có ý thức và hành động trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản cho chính mình”.

Các đại biểu tham dự hội thảo.

Các đại biểu tham dự hội thảo.

Về dự án Cải thiện sức khỏe sinh sản và tình dục cho thanh thiếu niên đã được triển khai tại tỉnh Yên Bái, dự án hướng tới mục tiêu nâng cao nhận thức, cải thiện hành vi và tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và tình dục cho thanh thiếu niên, đặc biệt là tại các khu vực vùng sâu, vùng xa và trong cộng đồng dân tộc thiểu số tại tỉnh Yên Bái. Dự án đã triển khai nhiều hoạt động đa dạng trên địa bàn hai huyện Mù Cang Chải và Văn Chấn.

Các chương trình giáo dục sức khỏe sinh sản được tổ chức tại các trường học thông qua mô hình Câu lạc bộ thanh thiếu niên và các sự kiện truyền thông ngoại khóa, tạo điều kiện để học sinh có không gian thảo luận cởi mở, tiếp cận kiến thức một cách chủ động và thực tế.

Công tác truyền thông giáo dục sức khỏe sinh sản cũng được tăng cường trong cộng đồng thông qua mô hình Câu lạc bộ cha mẹ tại thôn bản, các sự kiện truyền thông địa phương, và lồng ghép nội dung về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên vào các buổi họp thôn. Những hoạt động này giúp cha mẹ và người dân vượt qua rào cản tâm lý để có thể trao đổi và chia sẻ cởi mở hơn về những thắc mắc liên quan đến sức khỏe sinh sản vị thành niên – một chủ đề vốn được coi là nhạy cảm trước đây.

Bên cạnh đó, Dự án cũng tập trung vào đào tạo giáo viên và nhân viên y tế nhằm nâng cao năng lực tư vấn và hỗ trợ cho thanh thiếu niên, đảm bảo các em có thể tìm kiếm sự giúp đỡ từ những nguồn đáng tin cậy.

Bên cạnh đó, việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản thân thiện tại các cơ sở y tế địa phương cũng được đẩy mạnh, giúp các em có thể dễ dàng tiếp cận các dịch vụ tư vấn và hỗ trợ một cách an toàn và hiệu quả hơn.

Đến nay, sau gần hai năm triển khai dự án, các chỉ số quan trọng về kiến thức và hành vi liên quan đến sức khỏe sinh sản và tình dục tại đây đã có những thay đổi tích cực rõ rệt so với trước kia.

Cụ thể, tỷ lệ thanh thiếu niên có kiến thức cơ bản về sức khỏe sinh sản và tình dục vị thành niên tăng từ 32% lên 83%; tỷ lệ thanh thiếu niên hiểu biết về bình đẳng giới tăng từ 70% lên 91%; tỷ lệ thanh thiếu niên chấp nhận sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại tăng từ 63% lên 80%; tỷ lệ thanh thiếu niên có khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và tình dục tăng mạnh từ 24% lên 88%.

Bà Lê Thị Hồng Vân, Giám đốc Sở Y tế Yên Bái đánh giá cao hiệu quả của dự án. Dự án có thời gian không dài nhưng mang lại chuyển đổi tích cực cho các nhóm tác động. Khi điều tra lại thì nhận thấy kiến thức tăng lên, hành vi thay đổi, định hướng cho tương lai rõ nét và tích cực hơn.

Bà Lê Thị Hồng Vân, Giám đốc Sở Y tế Yên Bái đánh giá cao hiệu quả của dự án.

Bà Lê Thị Hồng Vân, Giám đốc Sở Y tế Yên Bái đánh giá cao hiệu quả của dự án.

Bà Lê Thị Thanh Hương, Trưởng đại diện Tổ chức Cứu trợ trẻ em tại Việt Nam, cho biết: "Sự phối hợp giữa các đơn vị tại địa phương đã giúp dự án đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Những kết quả này là cho thấy việc đầu tư vào giáo dục và chăm sóc sức khỏe cho thanh thiếu niên là một trong những giải pháp quan trọng để bảo vệ sức khỏe tương lai của thế hệ trẻ.

Cũng theo ông Trần Đăng Khoa, về lứa tuổi có thể can thiệp, hiện nay, trẻ em trai và trẻ em gái có xu hướng dậy thì sớm, thậm chí các em có thể dậy thì từ khi 10-11 tuổi. Do vậy việc can thiệp giáo dục sức khỏe sinh sản cần mở rộng độ tuổi, bắt đầu từ trung bình là từ 11 tuổi trở lên.

Tại hội thảo, Tổ chức Cứu trợ trẻ em và các đối tác tại tỉnh Yên Bái cũng bày tỏ mong muốn tiếp tục nhân rộng mô hình dự án với sự tham gia của các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức phi chính phủ và khu vực tư nhân để bảo đảm tính bền vững và khả năng tiếp cận lâu dài cho thanh thiếu niên, đặc biệt là ở các vùng khó khăn của tỉnh Yên Bái và các tỉnh miền núi phía Bắc.

Có thể bạn quan tâm

Bệnh nhân H. và 2 gói thuốc đông y gia truyền giả bị lừa mua.

Cẩn trọng với thuốc đông y gia truyền giả

Thời gian gần đây, nhiều vụ việc sản xuất, kinh doanh thuốc đông y giả liên tục bị cơ quan chức năng phát hiện và thu giữ. Sản phẩm được quảng cáo là thuốc đông y gia truyền có tác dụng chữa bách bệnh, kể cả ung thư, nhưng bên trong lại chứa chất cấm.

Hình ảnh bệnh nhân trước và sau điều trị.

Ung thư biểu mô tế bào đáy tái phát liên tiếp, lời cảnh báo từ bác sĩ

Ung thư biểu mô tế bào đáy (BCC) – loại ung thư da phổ biến nhất – thường có tiên lượng tốt nhưng không hề “vô hại” như nhiều người nghĩ. Trường hợp một bệnh nhân gần 60 tuổi phải phẫu thuật tới 3 lần do tái phát liên tiếp cho thấy tính chất xâm lấn âm thầm, ranh giới khó kiểm soát của bệnh, đặc biệt ở vùng mặt nguy cơ cao.

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

Trong bối cảnh ngành y tế Việt Nam đứng trước yêu cầu đổi mới về công nghệ và nâng cao chất lượng điều trị, việc xuất hiện những sản phẩm “Make in Vietnam” mang hàm lượng khoa học cao không chỉ góp phần cải thiện hiệu quả chăm sóc sức khỏe mà còn khẳng định năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ của doanh nghiệp trong nước.

Tiến sĩ, bác sĩ Cao Việt Tùng thực hiện thay van động mạch phổi qua da cho bé L.V với sự tư vấn của chuyên gia Hàn Quốc.

Tránh “cưa xương ức” lần hai, bé 14 tuổi được thay van tim qua da chỉ trong 2 giờ

13 năm sau ca phẫu thuật điều trị tứ chứng Fallot, van động mạch phổi dần suy giảm theo quy luật tự nhiên của cơ thể, khiến bé gái đứng trước nguy cơ phải cưa xương ức để thay van lần hai. Tuy nhiên, nhờ kỹ thuật tiên tiến thay van động mạch phổi qua da, em đã có thể tránh được cuộc đại phẫu thêm một lần nữa.

Quang cảnh hội nghị chiều 28/4 nhằm tháo gỡ khó khăn cho "phòng tuyến" y tế cơ sở trên địa bàn tỉnh Cà Mau.

Cà Mau nhận diện để gỡ khó cho tuyến y tế cơ sở

Kể từ khi chính thức thu gọn từ 164 xuống còn 64 đơn vị (sau hợp nhất tỉnh), hệ thống y tế cơ sở tại Cà Mau đối mặt với không ít khó khăn, nhất là thiếu hụt lãnh đạo, biên chế chuyên môn, cùng hạ tầng chắp vá... Đây là những điểm nghẽn được lãnh đạo Cà Mau nhận diện để sớm khơi thông.

Dự phòng chủ động RSV góp phần ổn định sức khỏe, cải thiện chất lượng sống. Ảnh: Shutterstock

Nhiễm trùng do RSV dễ tiến triển nặng ở người lớn mắc phổi tắc nghẽn mạn tính: Giải pháp nào để kiểm soát?

Theo Bộ Y tế, gần 10% dân số Việt Nam “sống chung” với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) - nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 4 trên toàn thế giới vào năm 2021. Nguy hiểm hơn, bệnh nhân COPD có nguy cơ cao mắc bệnh do virus hợp bào hô hấp (RSV) và có thể dẫn đến các đợt cấp, nhập viện, một số biến chứng khác.