Nâng cao hiệu quả tư vấn, phản biện và giám định xã hội

Tư vấn, phản biện và giám định xã hội là kênh trí tuệ quan trọng của đội ngũ trí thức, góp phần nâng cao chất lượng hoạch định chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Các nhà khoa học tham quan khu trưng bày sản phẩm công nghệ tại sự kiện Kết nối công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam.
Các nhà khoa học tham quan khu trưng bày sản phẩm công nghệ tại sự kiện Kết nối công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam.

Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới, hoạt động này vẫn còn hạn chế, đòi hỏi có giải pháp đồng bộ, hiệu quả để phát huy hơn nữa tiềm năng, trí tuệ của đội ngũ trí thức trong giai đoạn tới.

Chưa đi vào chiều sâu, thực chất

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định rõ nhiệm vụ, vai trò của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội) trong sự nghiệp phát triển đất nước, nhất là chức năng tư vấn, phản biện và giám định xã hội đối với các chủ trương, chính sách lớn trong bối cảnh khoa học và công nghệ phát triển nhanh, yêu cầu chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và thích ứng biến đổi khí hậu ngày càng cấp thiết.

Cùng với đó, Nghị định số 126/2024/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức, hoạt động và quản lý hội đã cụ thể hóa chủ trương của Đảng, tạo cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi để các hội tham gia tư vấn, phản biện các chương trình, dự án, đề án quan trọng.

Thực tế cho thấy, hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội thời gian qua đã từng bước khẳng định vai trò, phát huy trí tuệ đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong và ngoài hệ thống Liên hiệp Hội.

Nhiều ý kiến khoa học có giá trị đã cung cấp cho các cơ quan lãnh đạo, quản lý, góp phần làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của các chủ trương, chính sách.

Nội dung phản biện ngày càng đi vào chiều sâu, tập trung vào các lĩnh vực then chốt; một số ý kiến đã kịp thời chỉ ra bất cập, giúp điều chỉnh, hoàn thiện dự thảo chính sách, nâng cao tính khả thi khi triển khai.

Bên cạnh kết quả đạt được, hoạt động này vẫn còn những hạn chế, vướng mắc như: Ở một số nơi chưa thật sự chủ động, còn nặng về hình thức; chất lượng phản biện chưa đồng đều; cơ chế phối hợp, tiếp thu và phản hồi ý kiến chưa rõ ràng; nguồn lực và cơ chế đãi ngộ chuyên gia còn hạn chế…

Theo ông Nguyễn Văn Phước, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, hoạt động phản biện ở không ít nơi vẫn còn nặng về hình thức, thiên về góp ý kỹ thuật, câu chữ, quy trình; chưa thật sự đi sâu vào “bài toán phát triển” ở tầm vĩ mô và những vấn đề cấp thiết đặt ra, nhiều ý kiến mới dừng ở việc “kiểm tra” tính hợp pháp, tính phù hợp, mà chưa phát huy đầy đủ vai trò “kiến tạo” chính sách.

Tiến sĩ Bùi Thanh Tùng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hải Phòng cho biết, công tác tư vấn, phản biện hiện chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn. Nhiều nhiệm vụ có thời gian chuẩn bị rất ngắn, thậm chí chỉ vài ngày, trong khi nội dung chuyên sâu, đòi hỏi huy động chuyên gia phù hợp, tổ chức hội thảo, tổng hợp ý kiến và hoàn thiện báo cáo trong điều kiện gấp rút.

Cùng với đó, cơ chế tài chính chậm được điều chỉnh, chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ đặt ra, trở thành rào cản trong việc thu hút chuyên gia có trình độ cao tham gia thường xuyên, lâu dài.

Ở một số lĩnh vực, nội dung tư vấn, phản biện của Liên hiệp Hội và các tổ chức thành viên còn có điểm giao thoa với hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, đặt ra yêu cầu tăng cường phối hợp, phân định rõ chức năng để tránh trùng lắp, nâng cao hiệu quả chung.

Thực tế cho thấy, tại nhiều địa phương năng lực tham mưu, tổ chức triển khai nhiệm vụ tư vấn, phản biện còn nhiều hạn chế. Liên hiệp Hội tỉnh đang thiếu đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn sâu để xử lý những dự án phức tạp; trong khi đó cán bộ, công chức, viên chức tại các sở, ngành chưa thật sự tích cực tham gia.

Từ thực tiễn hoạt động chuyên ngành, Thạc sĩ Phạm Thị Ngọc, Trưởng ban Tư vấn, phản biện Hội Khoa học và Kỹ thuật An toàn Thực phẩm Việt Nam chỉ rõ, phản biện khoa học thực chất là hoạt động mang tính xây dựng, nhằm hoàn thiện chính sách trên cơ sở luận cứ xác đáng, nhưng ở một số nơi vẫn bị hiểu lệch thành phê phán, “soi lỗi”.

Điều này đòi hỏi đội ngũ trí thức tham gia tư vấn, phản biện phải có bản lĩnh khoa học và tinh thần trách nhiệm xã hội cao; đồng thời cần từng bước xây dựng, lan tỏa văn hóa phản biện vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách.

Đổi mới phương thức tổ chức, thực hiện

Hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội không chỉ là nhiệm vụ mà còn là sứ mệnh của đội ngũ trí thức đối với đất nước. Điều đó đòi hỏi Liên hiệp Hội các địa phương phải tiếp tục hoàn thiện, đổi mới mạnh mẽ về nhận thức, nội dung và phương thức tổ chức thực hiện, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả hoạt động này.

Tiến sĩ Lê Công Lương, nguyên Phó Tổng Thư ký, Trưởng ban Khoa học, Công nghệ và Hợp tác quốc tế, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cho rằng, cần đổi mới mạnh mẽ phương thức tổ chức thực hiện. Trọng tâm là chuyển từ tư duy “tham gia khi được mời” sang thế chủ động đề xuất, phản biện. Nhất là phải gắn hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội với xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức, coi đây là môi trường để trí thức rèn luyện bản lĩnh, phát huy năng lực và khẳng định trách nhiệm xã hội.

Đội ngũ trí thức khoa học là chủ thể không thể thay thế trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội; nếu xem đây là một “công trình khoa học đặc biệt”, thì trí thức chính là những “kiến trúc sư” kiến tạo nên giá trị và chất lượng của công trình ấy.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Tô Bá Trượng, Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục cho rằng, để trí thức phát huy đầy đủ vai trò này, cần một môi trường cởi mở, minh bạch, tôn trọng tranh luận khoa học trên tinh thần xây dựng và trách nhiệm. Để phản biện sắc sảo, trúng và đúng, cần đội ngũ trí thức khoa học có nền tảng chuyên môn sâu, lập luận chặt chẽ; để bảo đảm khách quan, độc lập phải có bản lĩnh khoa học, điều cốt lõi là cái tâm và trách nhiệm với đất nước.

Theo ông Lê Thanh Tùng, Trưởng ban Phổ biến kiến thức (Liên hiệp Hội), cần tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền và ngay trong hệ thống Liên hiệp Hội về vai trò đặc biệt quan trọng của tư vấn, phản biện và giám định xã hội.

Việc triển khai các nghị quyết quan trọng của Trung ương như Nghị quyết số 57-NQ/TW sẽ kéo theo yêu cầu sửa đổi, ban hành nhiều luật và văn bản dưới luật. Đây vừa là cơ hội, vừa là trách nhiệm để đội ngũ trí thức tham gia đóng góp, hoàn thiện chính sách của Đảng và Nhà nước.

Để đáp ứng yêu cầu đó, Liên hiệp Hội cần tiếp tục rà soát, cập nhật cơ sở dữ liệu chuyên gia theo lĩnh vực, vùng miền; có cơ chế khuyến khích, tôn vinh và đãi ngộ xứng đáng; đồng thời xây dựng quy trình phối hợp minh bạch với các cơ quan Đảng, Nhà nước trong đặt hàng, tổ chức và tiếp thu ý kiến phản biện kèm theo trách nhiệm phản hồi, giải trình rõ ràng.

Có thể bạn quan tâm

AI có thể hỗ trợ phân tích dữ liệu nguồn gene, đặc điểm sinh trưởng và chất lượng cây trồng, qua đó rút ngắn quá trình chọn tạo giống (Ảnh minh hoạ có sử dụng AI)

Bài 2: Hướng đi thực thi nghị quyết 57-NQ/TW cho “siêu thực phẩm” Việt

Các quốc gia Đông Nam Á đang đưa trí tuệ nhân tạo (AI) vào quản lý vùng trồng, cảnh báo sâu bệnh, truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chất lượng nông sản. Từ kinh nghiệm này, Việt Nam có thể học hỏi, ứng dụng AI để đưa các “siêu thực phẩm” bản địa trở thành một thị trường lớn, mang lại thu nhập cao cho người nông dân.

Sử dụng UAV dân dụng cỡ nhỏ để quan trắc, giám sát hệ sinh thái tại đảo Bạch Long Vĩ (thành phố Hải Phòng). (Ảnh: HIẾU THẢO)

Sử dụng UAV giám sát hệ sinh thái ven biển

Trước sức ép từ biến đổi khí hậu và các hoạt động phát triển kinh tế, nhiều hệ sinh thái ven biển, đảo đang đứng trước nguy cơ suy giảm. Việc ứng dụng thiết bị bay không người lái giúp thu thập dữ liệu nhanh, chính xác, tiết kiệm chi phí, góp phần phục vụ giám sát, bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển kinh tế biển bền vững.

Doanh nghiệp công nghệ số tìm hiểu các giải pháp về hạ tầng số và dữ liệu tại Hội nghị Data Center & Cloud Infrastructure Summit (DCCI Summit) 2026.

AI định hình lại hạ tầng số quốc gia

Cuộc cạnh tranh trí tuệ nhân tạo (AI) đang chuyển từ thuật toán sang hạ tầng số. Trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây và hạ tầng tính toán đang trở thành yếu tố quyết định năng lực phát triển AI, sức cạnh tranh và khả năng tự chủ công nghệ của mỗi quốc gia.

Sản xuất AI Camera của MK Vision tại Khu công nghiệp Thăng Long Vĩnh Phúc, Bình Xuyên, tỉnh Phú Thọ. (Ảnh: BÍCH LIÊN)

Khi chủ trương đi vào cuộc sống

Sau 18 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã trở thành một trong những ưu tiên của chiến lược phát triển đất nước. Hàng loạt luật, nghị định, chương trình và đề án quan trọng được ban hành, tạo hành lang pháp lý thuận lợi hơn cho quá trình phát triển.

Vinh danh giải Nhất. (Ảnh: HNV)

Vinh danh thế hệ các nhà kiến tạo AI đưa tri thức toàn cầu giải bài toán thực tế Việt Nam 2026

Thành công của VAIC 2026 có được nhờ sự phối hợp chặt chẽ và đồng hành của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong nước và quốc tế. Đây là tiền đề quan trọng để xây dựng hệ sinh thái AI mở, thúc đẩy hợp tác nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong kỷ nguyên số.

Các đại biểu tham dự Hội nghị Mã hóa tài sản thực Việt Nam 2026.

Thúc đẩy xây dựng hệ sinh thái an toàn tài sản số

Chuyển đổi số quốc gia đang diễn ra mạnh mẽ. Dữ liệu, nền tảng số và các hệ thống thông tin đã trở thành tài sản quan trọng của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Bảo đảm an toàn tài sản số không chỉ là yêu cầu về kỹ thuật mà còn là yếu tố cốt lõi để bảo vệ chủ quyền số, bảo đảm an ninh quốc gia, củng cố niềm tin số.

 Công an tỉnh Khánh Hòa bắt giữ các đối tượng để điều tra hành vi lừa đảo tiền mã hóa. Ảnh: Công an tỉnh Khánh Hòa

Cần chủ động dựng “lá chắn” trước tội phạm mạng

Tội phạm trên không gian mạng đang ngày càng chuyên nghiệp, có tổ chức và tận dụng mạnh mẽ trí tuệ nhân tạo để thực hiện các hành vi lừa đảo. Thực tế này đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực điều tra số, tăng cường phối hợp liên ngành và chủ động xây dựng “lá chắn an ninh mạng từ cơ sở”.

Thượng tá Nguyễn Thành Chung, Cục A05, Bộ Công an phát biểu tại Hội nghị Mã hóa tài sản thực Việt Nam 2026 (Vietnam RWA Summit 2026).

Thách thức mới về phòng, chống rửa tiền và an ninh mạng trong thị trường tài sản mã hóa

Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng đang tăng trưởng mạnh mẽ cả về quy mô, số lượng giao dịch, cũng như mức độ phổ biến, yêu cầu về phòng, chống rửa tiền và bảo đảm an ninh mạng trong lĩnh vực tài sản mã hóa đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Cảnh báo thời tiết theo thời gian thực trên hệ thống biển báo điện tử.

Cảnh báo thời tiết theo thời gian thực trên biển báo điện tử, hỗ trợ lái xe chủ động lưu thông an toàn

Trước diễn biến thời tiết ngày càng phức tạp, Trung tâm Kỹ thuật và Công nghệ đường bộ phía bắc (Cục Đường bộ Việt Nam) đã triển khai chức năng cảnh báo thời tiết theo thời gian thực trên hệ thống biển báo điện tử, giúp người lái xe chủ động nắm bắt thông tin, điều chỉnh hành trình và bảo đảm an toàn khi lưu thông.

Khai mạc chương trình “Thách thức Đổi mới sáng tạo Việt Nam”(Vietnam AI Inovation Challenge 2026) và phát động “Cuộc thi Olympic Trí tuệ nhân tạo Quốc tế 2027” (International Artificial Intelligence Olympiad-IAIO 2027). (Ảnh: HNV)

Định hình năng lực cạnh tranh, tạo bệ phóng mới cho AI Việt Nam

Chương trình “Thách thức Đổi mới sáng tạo Việt Nam” bước sang năm thứ năm (2022-nay). Năm nay, thêm điểm mới, lần đầu tiên, Việt Nam đăng cai một kỳ thi Olympic quốc tế chuyên sâu về trí tuệ nhân tạo, đánh dấu bước tiến quan trọng trong hội nhập, khẳng định vị thế của Việt Nam trong hệ sinh thái AI toàn cầu.