Nâng cao hiệu quả kinh tế trong nuôi trồng thủy sản

Những năm gần đây, nghề nuôi thủy sản trên biển bằng lồng, giàn bè tại thành phố Quảng Ninh phát triển nhanh, mang lại giá trị kinh tế đáng kể và góp phần nâng cao thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, sự gia tăng về số lượng, mật độ lồng, giàn bè đang tạo áp lực ngày càng lớn lên môi trường và hệ sinh thái tại các vùng nuôi.

Kiểm tra, đánh giá khả năng giảm chất hữu cơ và dinh dưỡng của mô hình nuôi IMTA. (Ảnh: NAM MINH)
Kiểm tra, đánh giá khả năng giảm chất hữu cơ và dinh dưỡng của mô hình nuôi IMTA. (Ảnh: NAM MINH)

Tại các khu vực như phường Cẩm Phả, xã Đầm Hà, đặc khu Vân Đồn thuộc thành phố Quảng Ninh, nuôi thủy sản đang phát triển mạnh, trở thành nguồn thu nhập chính của nhiều gia đình. Các đối tượng nuôi chủ yếu gồm cá song, cá vược, cá giò và nhuyễn thể hai mảnh như hàu, vẹm. Tuy nhiên, mật độ lồng nuôi tăng cao làm hạn chế lưu thông nước khiến thức ăn thừa, phân và chất bài tiết tích tụ trong nước, trầm tích đáy, làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm, dịch bệnh. Lượng chất thải hữu cơ lớn còn làm giảm oxy hòa tan, gia tăng các hợp chất nitrogen, phosphor, từ đó ảnh hưởng đến hệ sinh thái và đa dạng sinh học vùng nuôi.

Trước bối cảnh đó, các nghiên cứu trong nước chủ yếu tập trung đánh giá hiện trạng ô nhiễm và các mô hình nuôi biển truyền thống, trong khi nghiên cứu chuyên sâu về nuôi trồng thủy sản đa bậc dinh dưỡng tích hợp (Integrated Multi-Trophic Aquaculture - IMTA) còn hạn chế. Đây là cơ sở để Tiến sĩ Lê Văn Nam, Phân viện Hải dương học tại thành phố Hải Phòng (Viện Hải dương học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) cùng các đồng nghiệp thực hiện đề tài “Nghiên cứu đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm chất hữu cơ và dinh dưỡng phát sinh do hoạt động nuôi thủy sản lồng bè tập trung tại vùng biển Quảng Ninh”.

Nghiên cứu tập trung đánh giá hiện trạng, nguy cơ ô nhiễm nước và trầm tích tại một số khu vực nuôi thủy sản lồng bè tập trung; đồng thời thử nghiệm mô hình nuôi đa bậc dinh dưỡng tích hợp (IMTA) nhằm giảm chất hữu cơ và dinh dưỡng với các đối tượng nuôi có chức năng dinh dưỡng khác nhau. Nhóm nghiên cứu sẽ khảo sát, quan trắc các thông số môi trường và triển khai thí nghiệm để đánh giá khả năng áp dụng mô hình trong điều kiện thực tế.

Để thực hiện, nhóm lựa chọn Đặc khu Vân Đồn làm địa điểm thí nghiệm, với các lồng nuôi khoảng 27 m³/lồng, kết hợp cá, hàu, rong biển,... thuộc các bậc dinh dưỡng khác nhau. Đồng thời thí nghiệm riêng từng đối tượng để đánh giá vai trò trong hấp thụ, chuyển hóa chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng và dinh dưỡng hòa tan.

Theo Tiến sĩ Lê Văn Nam, nuôi trồng thủy sản đa bậc dinh dưỡng tích hợp đã được nghiên cứu, áp dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia có nghề nuôi biển. Mô hình tận dụng mối quan hệ dinh dưỡng tự nhiên giữa các nhóm sinh vật như cá, nhuyễn thể (hàu, vẹm) và rong biển để hấp thụ, chuyển hóa chất hữu cơ, dinh dưỡng dư thừa trong vùng nuôi. Cá là đối tượng nuôi chính và cũng là nguồn phát sinh chất hữu cơ, dinh dưỡng; cá dìa công được bố trí gần đáy để tận dụng vật chất tầng đáy; hàu, vẹm lọc các hạt lơ lửng; rong biển hấp thụ một phần dinh dưỡng hòa tan như nitrogen, phosphor.

Với mô hình này, chất thải từ các loài thủy sản được nuôi ở bậc dinh dưỡng cao có thể trở thành nguồn dinh dưỡng cho các loài ở bậc dinh dưỡng thấp hơn. Nhờ cơ chế tái sử dụng và tuần hoàn dinh dưỡng này, hệ thống IMTA góp phần giảm thiểu chất thải, cải thiện môi trường nuôi và nâng cao hiệu quả kinh tế cho các hộ nuôi trồng thủy sản.

Kết quả bước đầu cho thấy, mô hình nuôi đa bậc có khả năng cải thiện một số chỉ tiêu chất lượng nước tại khu vực thử nghiệm. Theo nghiên cứu, tổng lượng phosphor giảm 16,9%, amonia giảm khoảng 16%, chất rắn lơ lửng giảm 11,6%, trong khi độ trong của nước tăng trung bình 0,10m. Mô hình không chỉ góp phần giảm áp lực lên môi trường biển mà còn tăng hiệu quả kinh tế khi các hộ nuôi có thể thu hoạch thêm nhuyễn thể và rong biển bên cạnh sản phẩm chính là cá, trên cùng diện tích và thời gian nuôi.

Tiến sĩ Đào Thị Ánh Tuyết (Học viện Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) cho biết, kết quả bước đầu của mô hình IMTA do Tiến sĩ Lê Văn Nam chủ nhiệm có ý nghĩa cả về khoa học và thực tiễn. Việc tiếp tục mở rộng quy mô, phạm vi nghiên cứu sẽ góp phần bổ sung dữ liệu cho nghề nuôi biển và đánh giá rõ hơn hiệu quả mô hình trong các điều kiện môi trường khác nhau.

Giáo sư, Tiến sĩ Trịnh Văn Tuyên, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho rằng, đề tài đã đánh giá hiện trạng, rủi ro ô nhiễm nước và trầm tích tại các khu vực nuôi thủy sản lồng bè tập trung, qua đó làm rõ cơ chế tích tụ, lan truyền các chất ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng. Kết quả bước đầu cũng cung cấp cơ sở tham khảo để địa phương phát triển nuôi biển theo hướng thân thiện hơn với môi trường.

Có thể bạn quan tâm

Toàn cảnh Hội nghị đại biểu người lao động lần thứ VII năm 2026 của EVNNPC. (Ảnh: EVNNPC cung cấp)

EVNNPC phát huy dân chủ, củng cố đồng thuận, tạo động lực phát triển

Tổng công ty Điện lực miền bắc (EVNNPC) vừa tổ chức Hội nghị đại biểu người lao động lần thứ VII năm 2026 để đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Hội nghị người lao động lần thứ VI và hoạt động sản xuất kinh doanh giai đoạn 2024-2025, phát huy dân chủ, tăng cường đối thoại, thống nhất mục tiêu, nhiệm vụ giai đoạn 2026-2027.

Một dự án hạ tầng lớn có thể gồm nhiều lĩnh vực chuyên sâu, từ thiết kế, xây dựng, cơ điện đến ITS (giao thông thông minh), chiếu sáng, an toàn giao thông và các hệ thống công nghệ. (Ảnh: TRANG LIÊN)

Chọn doanh nghiệp đủ năng lực đảm nhận vai trò quản trị các dự án lớn

Không phải doanh nghiệp nào cũng đủ năng lực để đảm nhận vai trò quản trị các dự án lớn. Nhưng khi đã lựa chọn được doanh nghiệp đủ năng lực, cần trao quyền chủ động tương xứng với trách nhiệm được giao. Sàng lọc đúng năng lực, trao đủ quyền tổ chức và quy trách nhiệm đến cùng là cơ sở để hình thành những tổng thầu mạnh.

Cải cách hành chính được Tây Ninh xác định là nền tảng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. (Ảnh: THANH PHONG)

Tây Ninh tạo dư địa tăng trưởng từ ba khâu đột phá

Nhiệm kỳ 2026-2030, Tây Ninh xác định cải cách hành chính, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cùng việc huy động nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng là ba khâu đột phá. Đây được xem là nền tảng để khơi thông nguồn lực, nâng cao năng suất, mở rộng không gian kinh tế và tạo thêm dư địa tăng trưởng cho Tây Ninh.

Tọa đàm với chủ đề “Từ “Made in Vietnam” đến “Made in CPTPP”: Tái cấu trúc nguồn cung để đáp ứng xuất xứ và tăng sức chống chịu”. (Ảnh: KIM DUNG)

Tái cấu trúc nguồn cung, bảo đảm yêu cầu xuất xứ

Thực thi CPTPP mở thêm thị trường cho hàng Việt nhưng đặt ra yêu cầu về nguồn nguyên liệu và xuất xứ. Khi lợi thế thuế quan gắn chặt với khả năng đáp ứng quy tắc xuất xứ, tái cấu trúc nguồn cung, kết nối với các đối tác trong CPTPP và nâng sức chống chịu của chuỗi sản xuất đang trở thành yêu cầu thiết thực đối với doanh nghiệp.

Tiến sĩ Nguyễn Tiến Sáng nghiên cứu SmartPID Tuner - sản phẩm mang dấu ấn khát vọng làm chủ công nghệ của kỹ sư EVNGENCO1. (Ảnh: PHƯƠNG THẢO)

Từ bài toán vận hành đến làm chủ công nghệ tại EVNGENCO1

Đổi mới sáng tạo tại Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1) không chỉ bắt đầu từ những ý tưởng mới, mà còn từ những bài toán cụ thể trong sản xuất. Khi kỹ sư trực tiếp xử lý vấn đề kỹ thuật của nhà máy và tìm cách giải quyết bằng chính năng lực nghiên cứu của mình, những giải pháp “Make by EVNGENCO1” từng bước được hình thành.

Quảng Ngãi tập trung triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm, đột phá về phát triển kinh tế-xã hội nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng năm 2026 đạt 9%. (Ảnh: HIỂN CỪ)

Quảng Ngãi nỗ lực hoàn thành chỉ tiêu tăng trưởng năm 2026

Năm 2026, tỉnh Quảng Ngãi đề ra mục tiêu tăng trưởng 9%. Để đạt được các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ đề ra, Tỉnh ủy Quảng Ngãi đề nghị các cấp ủy, chính quyền tập trung lãnh đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm, đột phá về phát triển kinh tế-xã hội.

Đại biểu trình bày tham luận tại hội thảo. (Ảnh: BÁ DŨNG)

Đẩy mạnh chuyển đổi xanh, chuyển đổi số trong sản xuất lúa chất lượng cao

Sáng 2/10, tại Vĩnh Long, Trường đại học Cửu Long phối hợp Tổng Hội Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam cùng Trung tâm Khuyến nông quốc gia tổ chức Hội thảo với chủ đề “Chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và giải pháp khoa học, công nghệ trong sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long”.

Ưu đãi thuế nhập khẩu linh kiện góp phần hỗ trợ sản xuất, lắp ráp ô-tô trong nước. (Ảnh: HẢI NAM)

Ưu đãi thuế linh kiện ô-tô cần sát thực tế sản xuất

Bộ Tài chính đề xuất kéo dài ưu đãi thuế nhập khẩu linh kiện phục vụ sản xuất, lắp ráp ô-tô đến hết năm 2032, mở rộng cơ chế thuế suất 0% cho linh kiện sản xuất xe xuất khẩu. Điều kiện hưởng ưu đãi đang được rà soát để sát thực tế sản xuất.

Sản xuất hàng may mặc tại Tổng Công ty cổ phần Dệt may Nam Định. (Ảnh: MINH ĐỨC)

Vinatex đạt doanh thu hơn 15,5 nghìn tỷ đồng

Những tháng cuối năm, các đơn vị dệt may phải giữ vững thành quả đạt được, quản trị tốt các tình huống phát sinh trong quý IV để tối ưu hóa hiệu quả. Song song với việc hoàn thành kế hoạch năm 2026, doanh nghiệp tập trung chuẩn bị tốt cho năm 2027 nhằm sẵn sàng hoàn thành tốt các mục tiêu đề ra.