Tái cấu trúc nguồn cung, bảo đảm yêu cầu xuất xứ

Thực thi CPTPP mở thêm thị trường cho hàng Việt nhưng đặt ra yêu cầu về nguồn nguyên liệu và xuất xứ. Khi lợi thế thuế quan gắn chặt với khả năng đáp ứng quy tắc xuất xứ, tái cấu trúc nguồn cung, kết nối với các đối tác trong CPTPP và nâng sức chống chịu của chuỗi sản xuất đang trở thành yêu cầu thiết thực đối với doanh nghiệp.

Tọa đàm với chủ đề “Từ “Made in Vietnam” đến “Made in CPTPP”: Tái cấu trúc nguồn cung để đáp ứng xuất xứ và tăng sức chống chịu”. (Ảnh: KIM DUNG)
Tọa đàm với chủ đề “Từ “Made in Vietnam” đến “Made in CPTPP”: Tái cấu trúc nguồn cung để đáp ứng xuất xứ và tăng sức chống chịu”. (Ảnh: KIM DUNG)

Ngày 2/10, Tạp chí Công thương tổ chức tọa đàm với chủ đề “Từ “Made in Vietnam” đến “Made in CPTPP”: Tái cấu trúc nguồn cung để đáp ứng xuất xứ và tăng sức chống chịu”, với sự tham gia của đại diện Bộ Công thương, Hiệp hội Dệt may Việt Nam và doanh nghiệp.

Doanh nghiệp cần thay đổi cách tiếp cận

Sau hơn 7 năm thực thi, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đã trở thành một trong những động lực thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và các thành viên Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương đạt 124,5 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 70,6 tỷ USD. Tuy nhiên, theo ông Ngô Chung Khanh, Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường nước ngoài và thương mại đa biên (Bộ Công thương), thị phần hàng hóa Việt Nam mới chỉ chiếm hơn 1% tổng kim ngạch nhập khẩu của các thành viên Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương.

Đáng chú ý, tỷ lệ tận dụng giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) ưu đãi Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương năm 2025 chưa đến 10%. Bà Trần Thanh Bình, Trưởng phòng Xuất xứ hàng hóa, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương), cho biết tỷ lệ này đã tăng từ 2% năm 2019 lên 10% năm 2025, tương đương hơn 6 tỷ USD kim ngạch hàng hóa xuất khẩu. Những con số này cho thấy dư địa tận dụng Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương còn lớn, đồng thời đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải thay đổi cách tiếp cận. Thay vì chỉ quan tâm đến thị trường đầu ra, doanh nghiệp cần nhìn lại toàn bộ chuỗi cung ứng, từ nguyên liệu, nhà cung cấp đến khả năng chứng minh xuất xứ.

Đối với dệt may, yêu cầu xuất xứ là một thách thức rõ nét, theo ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương đã giúp mở rộng thị trường và tạo điều kiện để doanh nghiệp tận dụng ưu đãi thuế quan. Kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam vào khu vực Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương tăng từ 6,27 tỷ USD trước khi Hiệp định có hiệu lực lên 8,3 tỷ USD năm 2025.

Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn nhất nằm ở khâu dệt, nhuộm và hoàn tất vải. Trong khi đó, toàn ngành hiện mới nội địa hóa khoảng 50% nguyên phụ liệu, sản xuất vải trong nước mới đáp ứng khoảng 36% nhu cầu. Theo ông Cẩm, nhiều doanh nghiệp may vẫn chủ yếu sản xuất theo phương thức CMT, trong đó khách hàng cung cấp hoặc chỉ định nguồn nguyên phụ liệu. Vì vậy, việc chuyển đổi nguồn cung không thể thực hiện trong thời gian ngắn mà cần một quá trình nâng cấp phương thức sản xuất và tổ chức lại chuỗi cung ứng.

Từ thực tế doanh nghiệp, ông Trần Minh Hiếu, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư và thương mại TNG, cho biết trước khi Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương có hiệu lực, doanh nghiệp chủ yếu lựa chọn nhà cung cấp dựa trên giá thành, chất lượng và tiến độ giao hàng. Khi quy tắc “từ sợi trở đi” được áp dụng, tiêu chí xuất xứ được đưa vào điều kiện lựa chọn nhà cung cấp.

TNG đã rà soát, phân loại lại toàn bộ danh mục nhà cung cấp theo xuất xứ, ưu tiên hợp tác dài hạn với những nhà máy đáp ứng yêu cầu. Doanh nghiệp đồng thời xây dựng quan hệ đối tác chiến lược với các nhà cung cấp vải trong nước đạt tiêu chuẩn, nhằm bảo đảm nguồn cung ổn định.

Từ xúc tiến thương mại đến xúc tiến chuỗi cung ứng

Theo ông Ngô Chung Khanh, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương cần được nhìn nhận không chỉ là thị trường tiêu thụ mà còn là thị trường cung cấp nguyên liệu cho doanh nghiệp Việt Nam. Trong năm Việt Nam đảm nhiệm vai trò Chủ tịch Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, thúc đẩy chuỗi cung ứng là một trong những nội dung quan trọng được quan tâm.

Tại hội nghị quan chức cấp cao Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương lần thứ 3 năm 2026 tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam đã tổ chức diễn đàn doanh nghiệp và hoạt động kết nối, tạo điều kiện để doanh nghiệp các nước trong khối tìm kiếm đối tác không chỉ ở góc độ mua-bán mà cả cung ứng nguyên liệu.

Bà Trần Thanh Bình cho rằng Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương có những quy tắc xuất xứ được cải tiến, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, trong đó có cơ chế cộng gộp. Tuy nhiên, để tận dụng được những ưu đãi này, doanh nghiệp phải chủ động về nguồn nguyên liệu, đồng thời minh bạch hồ sơ, dữ liệu và thông tin liên quan xuất xứ.

Đây cũng là yêu cầu ngày càng quan trọng trong bối cảnh thương mại toàn cầu có nhiều biến động. Doanh nghiệp không chỉ cần nguồn cung phù hợp mà còn phải có khả năng chứng minh nguồn gốc nguyên liệu. Tại TNG, dữ liệu xuất xứ được quản trị bằng hệ thống phần mềm từ khâu đặt nguyên phụ liệu đến xuất hàng; mỗi lô nguyên phụ liệu được gắn mã QR hoặc mã ERP, liên kết với chứng từ, hóa đơn, hợp đồng và giấy xác nhận xuất xứ.

Từ góc độ quản trị rủi ro, ông Ngô Chung Khanh nhấn mạnh doanh nghiệp cần xây dựng “bản đồ” chuỗi cung ứng, xác định rõ các nhà cung cấp, cũng như phương án thay thế khi nguồn cung chính bị gián đoạn. Đồng thời, cần có tư duy kết nối các FTA để đa dạng hóa nguồn cung và thị trường.

Từ những yêu cầu thực tế đó, vấn đề đặt ra không chỉ là làm thế nào để hàng hóa Việt Nam đáp ứng quy tắc xuất xứ, mà còn là cách thức thiết kế lại chuỗi cung ứng ngay từ đầu.

Theo ông Ngô Chung Khanh, thay vì sản xuất rồi mới kiểm tra sản phẩm có đáp ứng quy tắc xuất xứ hay không, doanh nghiệp cần xác định trước quy tắc xuất xứ của thị trường mục tiêu, từ đó lựa chọn nguồn nguyên liệu phù hợp. Khi đó, quy tắc xuất xứ không chỉ là điều kiện phải đáp ứng mà trở thành cơ sở để thiết kế lại chuỗi cung ứng.

Cùng với đó, xúc tiến thương mại cũng cần được nâng lên thành xúc tiến chuỗi cung ứng, không chỉ tìm kiếm người mua mà còn tìm kiếm nhà cung cấp, đối tác và các mắt xích còn thiếu trong chuỗi giá trị.

“Made in Vietnam” vẫn có ý nghĩa quan trọng, nhưng theo ông Ngô Chung Khanh, nếu muốn xây dựng chuỗi cung ứng bền vững và có khả năng chống chịu, “Made in Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương” cần trở thành một chiến lược. Khi đó, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương không chỉ là nơi để doanh nghiệp xuất khẩu mà còn là không gian để kết nối nguồn nguyên liệu, đầu tư, sản xuất và cùng tạo dựng giá trị gia tăng.

Đây cũng là hướng tiếp cận giúp doanh nghiệp chủ động hơn trước những biến động của thương mại toàn cầu, đồng thời chuyển hóa tốt hơn những ưu đãi của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương thành năng lực cạnh tranh và sức chống chịu của hàng hóa Việt Nam.

Có thể bạn quan tâm

Bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê, Bộ Tài chính phát biểu tại cuộc họp. (Ảnh: PV)

Quý III/2026, chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng 4,80%

Trong 9 tháng năm 2026, thị trường hàng hóa thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, làm gia tăng rủi ro đối với nguồn cung năng lượng và hoạt động vận tải quốc tế. Trong nước, Chính phủ đã triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Nhà máy điện gió bờ tại Gia Lai. (Ảnh: T. THẢO)

Hoàn thiện chính sách cho năng lượng xanh ngoài khơi

Các nguồn năng lượng xanh như điện mặt trời, điện gió, hydrogen… đang ngày càng được quan tâm nghiên cứu, phát triển. Tại Việt Nam, năng lượng xanh được đánh giá có tiềm năng rất lớn, nhưng chưa được “đánh thức”, nhất là điện gió ngoài khơi do còn nhiều “rào cản” từ chính sách, vốn, nhân lực, cơ sở khoa học, công nghệ…

Chế biến thủy sản xuất khẩu tại doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh An Giang. (Ảnh: ĐỨC AN)

Giữ thị phần nông sản Việt Nam tại ASEAN

ASEAN là thị trường có vị trí thuận lợi và còn nhiều dư địa cho xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Tuy nhiên, khi các nước trong khu vực nâng cao tiêu chuẩn nhập khẩu thì doanh nghiệp Việt Nam cần đáp ứng tốt hơn yêu cầu về chất lượng, truy xuất, chứng nhận hàng hóa và tham gia sâu hơn chuỗi giá trị khu vực để giữ vững thị phần.

[Infographic] Chứng khoán tuần 28/9-2/10/2026: Thị trường có tuần thứ 2 liên tiếp giảm điểm, khối ngoại tiếp tục bán ròng

[Infographic] Chứng khoán tuần 28/9-2/10/2026: Thị trường có tuần thứ 2 liên tiếp giảm điểm, khối ngoại tiếp tục bán ròng

Thị trường tuần 28/9-2/10/2026 có 5 phiên liên tiếp giảm điểm với áp lực bán tăng mạnh trong phiên cuối tuần. Kết tuần VN-Index giảm 2,66% về mức 1.737,71 điểm, trên hỗ trợ tâm lý 1.700 điểm. Độ rộng thị trường trong tuần tiêu cực, hầu hết các nhóm ngành đều chịu áp lực điều chỉnh. 

Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh CTV)

Triển khai cơ chế đặc thù xử lý vi phạm pháp luật về kinh tế, khoa học công nghệ

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc vừa ký Quyết định 1916/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Nghị quyết 37/2026/QH16 ngày 24/8/2026 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù xử lý vi phạm pháp luật liên quan kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. 

Toàn cảnh Hội nghị đại biểu người lao động lần thứ VII năm 2026 của EVNNPC. (Ảnh: EVNNPC cung cấp)

EVNNPC phát huy dân chủ, củng cố đồng thuận, tạo động lực phát triển

Tổng công ty Điện lực miền bắc (EVNNPC) vừa tổ chức Hội nghị đại biểu người lao động lần thứ VII năm 2026 để đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Hội nghị người lao động lần thứ VI và hoạt động sản xuất kinh doanh giai đoạn 2024-2025, phát huy dân chủ, tăng cường đối thoại, thống nhất mục tiêu, nhiệm vụ giai đoạn 2026-2027.

Một dự án hạ tầng lớn có thể gồm nhiều lĩnh vực chuyên sâu, từ thiết kế, xây dựng, cơ điện đến ITS (giao thông thông minh), chiếu sáng, an toàn giao thông và các hệ thống công nghệ. (Ảnh: TRANG LIÊN)

Chọn doanh nghiệp đủ năng lực đảm nhận vai trò quản trị các dự án lớn

Không phải doanh nghiệp nào cũng đủ năng lực để đảm nhận vai trò quản trị các dự án lớn. Nhưng khi đã lựa chọn được doanh nghiệp đủ năng lực, cần trao quyền chủ động tương xứng với trách nhiệm được giao. Sàng lọc đúng năng lực, trao đủ quyền tổ chức và quy trách nhiệm đến cùng là cơ sở để hình thành những tổng thầu mạnh.

Cải cách hành chính được Tây Ninh xác định là nền tảng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. (Ảnh: THANH PHONG)

Tây Ninh tạo dư địa tăng trưởng từ ba khâu đột phá

Nhiệm kỳ 2026-2030, Tây Ninh xác định cải cách hành chính, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cùng việc huy động nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng là ba khâu đột phá. Đây được xem là nền tảng để khơi thông nguồn lực, nâng cao năng suất, mở rộng không gian kinh tế và tạo thêm dư địa tăng trưởng cho Tây Ninh.

Tiến sĩ Nguyễn Tiến Sáng nghiên cứu SmartPID Tuner - sản phẩm mang dấu ấn khát vọng làm chủ công nghệ của kỹ sư EVNGENCO1. (Ảnh: PHƯƠNG THẢO)

Từ bài toán vận hành đến làm chủ công nghệ tại EVNGENCO1

Đổi mới sáng tạo tại Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1) không chỉ bắt đầu từ những ý tưởng mới, mà còn từ những bài toán cụ thể trong sản xuất. Khi kỹ sư trực tiếp xử lý vấn đề kỹ thuật của nhà máy và tìm cách giải quyết bằng chính năng lực nghiên cứu của mình, những giải pháp “Make by EVNGENCO1” từng bước được hình thành.

Quảng Ngãi tập trung triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm, đột phá về phát triển kinh tế-xã hội nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng năm 2026 đạt 9%. (Ảnh: HIỂN CỪ)

Quảng Ngãi nỗ lực hoàn thành chỉ tiêu tăng trưởng năm 2026

Năm 2026, tỉnh Quảng Ngãi đề ra mục tiêu tăng trưởng 9%. Để đạt được các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ đề ra, Tỉnh ủy Quảng Ngãi đề nghị các cấp ủy, chính quyền tập trung lãnh đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm, đột phá về phát triển kinh tế-xã hội.