Lao động phi chính thức vẫn chiếm tỷ trọng lớn

Lao động phi chính thức ở nước ta vẫn chiếm tỷ trọng lớn, khoảng hơn 3/5 tổng số lao động có việc làm của cả nước. Điều này khiến thị trường lao động chưa có sự cải thiện nhiều về chất lượng nguồn nhân lực. Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, số lao động phi chính thức trong nước là 33,4 triệu người .
Các bạn trẻ tìm hiểu thông tin về ngành/nghề tại Ngày hội việc làm tỉnh Quảng Ngãi, tháng 2/2024. (Ảnh: HIỂN CỪ)
Các bạn trẻ tìm hiểu thông tin về ngành/nghề tại Ngày hội việc làm tỉnh Quảng Ngãi, tháng 2/2024. (Ảnh: HIỂN CỪ)

Vẫn có lợi thế về lực lượng lao động

Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) nhận định, trên bình diện trong nước, lực lượng lao động, số người có việc làm quý II năm 2024 tăng so với quý trước và tăng so với cùng kỳ năm trước. Lao động phi chính thức vẫn chiếm tỷ trọng lớn, khoảng hơn 3/5 tổng số lao động có việc làm của cả nước. Thu nhập bình quân tháng của người lao động giảm so với quý trước và tăng so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động tăng so với quý trước và giảm so với cùng kỳ năm trước. Tình hình thất nghiệp thanh niên 15-24 tuổi duy trì mức cao, tỷ lệ này tăng so với quý trước và cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động tăng so với quý trước và không thay đổi so với cùng kỳ năm trước.

Việt Nam vẫn đang trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng với quy mô dân số trong độ tuổi lao động dồi dào và tăng hằng năm. Đây là lợi thế để bổ sung lực lượng lao động, bao gồm cả lao động có việc làm.

Trong báo cáo tình hình kinh tế-xã hội quý II và sáu tháng đầu năm 2024, Tổng cục Thống kê nêu ra năm điểm tích cực của thị trường lao động Việt Nam hiện nay.

Thứ nhất, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trong quý II năm 2024 là 52,5 triệu người, tăng 148,6 nghìn người so với quý trước và tăng 217,3 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt gần 52,5 triệu người, tăng 196,6 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.

Thứ hai, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động quý II năm 2024 là 68,6%, tăng 0,1 điểm phần trăm so với quý trước.

Thứ ba, lao động có việc làm quý II năm 2024 đạt hơn 51,4 triệu người, tăng 126,6 nghìn người, tương ứng tăng 0,25% so với quý trước và tăng 217,4 nghìn người, tương ứng tăng 0,42% so với cùng kỳ năm trước.

Việt Nam vẫn đang trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng với quy mô dân số trong độ tuổi lao động dồi dào và tăng hằng năm. Đây là lợi thế để bổ sung lực lượng lao động, bao gồm cả lao động có việc làm.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, lao động có việc làm đạt 51,4 triệu người, tăng 195,7 nghìn người (tương ứng tăng 0,38%) so với 6 tháng đầu năm 2023.

Mô hình đào tạo song song học nghề và học văn hóa cho học sinh đã tốt nghiệp trung học cơ sở tại Trường cao đẳng Than khoáng sản Việt Nam, tỉnh Thái Nguyên. (Ảnh TRỌNG BÌNH)

Mô hình đào tạo song song học nghề và học văn hóa cho học sinh đã tốt nghiệp trung học cơ sở tại Trường cao đẳng Than khoáng sản Việt Nam, tỉnh Thái Nguyên. (Ảnh TRỌNG BÌNH)

Thứ tư, tỷ lệ lao động Việt Nam có bằng, chứng chỉ quý II/2024 đạt 28,1%, tăng 0,3 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 1,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

Nước ta cũng như nhiều quốc gia khác, đang trải qua quá trình phát triển kinh tế và công nghiệp hóa nhanh chóng, nhu cầu về nhân lực có trình độ cao và có kỹ năng ngày càng tăng. Do đó, nhận thức về sự cần thiết của việc duy trì và phát triển kỹ năng thông qua việc học tập liên tục được doanh nghiệp, người lao động chú trọng.

Việt Nam đã quan tâm nâng cao chất lượng giáo dục, mở rộng cơ sở hạ tầng giáo dục nhằm cung cấp cơ hội học tập cho nhiều người lao động hơn. Điều này tạo điều kiện thuận lợi để người lao động tiếp tục học tập và nâng cao trình độ sau khi tham gia vào lực lượng lao động.

Thứ năm, thu nhập bình quân tháng của người lao động quý II năm 2024 là 7,5 triệu đồng, tăng 490 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước.

So với cùng kỳ năm trước, tốc độ tăng thu nhập bình quân tháng của người lao động quý II/2024 (đạt 7%) gấp 1,3 lần tốc độ tăng thu nhập bình quân của quý II/2023 (đạt 5,4%).

Trong quý II/2024, thu nhập bình quân tháng của lao động tăng lên ở hầu hết các ngành kinh tế so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung năm 6 tháng đầu năm 2024, thu nhập bình quân tháng của người lao động là 7,5 triệu đồng, tăng 7,4%, tương ứng tăng 519 nghìn đồng so với cùng kỳ năm 2023.

Lao động làm việc trong một số ngành kinh tế có tốc độ tăng thu nhập bình quân khá hơn với cùng kỳ năm trước: Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước là 11,2 triệu đồng, tăng 13,9%, tương ứng tăng 1,4 triệu đồng; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải là 9,0 triệu đồng, tăng 12,3%, tương ứng tăng 981 nghìn đồng; ngành hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm là 12,7 triệu đồng, tăng 11,7%, tương ứng tăng 1,3 triệu đồng; ngành hoạt động kinh doanh bất động sản là 11,7 triệu đồng, tăng 11,1%, tương ứng tăng 1,2 triệu đồng; ngành khai khoáng là 11,0 triệu đồng, tăng 8,5%, tương ứng tăng 866 nghìn đồng.

Chất lượng cung lao động vẫn còn bất cập, hạn chế

Ngày hội tư vấn và giao dịch việc làm quận Hoàn Kiếm năm 2024 tại Hà Nội, tháng 5/2024. (Ảnh: THU DUYÊN)

Ngày hội tư vấn và giao dịch việc làm quận Hoàn Kiếm năm 2024 tại Hà Nội, tháng 5/2024. (Ảnh: THU DUYÊN)

Cũng trong báo cáo nêu trên, cơ quan thống kê quốc gia cũng nêu ra một số những điểm hạn chế của thị trường lao động nước ta trong bối cảnh hiện nay.

Trước hết, chất lượng cung lao động vẫn còn bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng cho cầu lao động của một thị trường lao động hiện đại, linh hoạt, bền vững và hội nhập.

Hiện có khoảng hơn 70% lao động chưa qua đào tạo từ sơ cấp trở lên. Con số này phản ánh một thách thức lớn mà thị trường lao động Việt Nam đang phải đối mặt. Điều này không chỉ cho thấy nhu cầu cần thiết trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mà còn cả sự cấp thiết trong việc mở rộng cơ hội đào tạo và cấp bằng chuyên môn, nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế hiện đại.

Tiếp đó, thị trường lao động chưa có sự cải thiện nhiều về chất lượng lao động khi số lao động phi chính thức làm các công việc bấp bênh, thiếu tính ổn định vẫn chiếm tỷ trọng lớn, khoảng hơn ba phần năm tổng số lao động có việc làm của cả nước.

Số lao động có việc làm phi chính thức chung (bao gồm cả lao động làm việc trong hộ nông, lâm nghiệp và thủy sản) quý II/2024 là 33,5 triệu người, chiếm 65,2% trong tổng số lao động có việc làm và tăng 271,7 nghìn người so với quý trước và tăng 210,3 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, số lao động phi chính thức là 33,4 triệu người, tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức là 65%, tăng 0,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2023. Mặc dù tình hình kinh tế-xã hội đã khởi sắc hơn, số lao động có việc làm đã tăng so với cùng kỳ năm trước nhưng tỷ lệ lao động phi chính thức vẫn khá cao. Điều này cho thấy, thị trường lao động đã dần hồi phục nhưng chưa bền vững.

Cùng với đó, tình hình doanh nghiệp khó khăn với bình quân một tháng có khoảng 18,4 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong 6 tháng đầu năm là nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp tăng lên trong quý này. Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý II/2024 khoảng 1,08 triệu người, tăng 24,2 nghìn người so với quý trước và tăng 4,2 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý II năm 2024 là 2,29%, tăng 0,05 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,01 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

Thị trường lao động chưa có sự cải thiện nhiều về chất lượng lao động khi số lao động phi chính thức làm các công việc bấp bênh, thiếu tính ổn định vẫn chiếm tỷ trọng lớn, khoảng hơn ba phần năm tổng số lao động có việc làm của cả nước.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, cả nước có khoảng 1,06 triệu người thất nghiệp trong độ tuổi lao động, tăng 4,8 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động 6 tháng đầu năm 2024 là 2,27%, không thay đổi so với cùng kỳ năm trước.

Hơn nữa, tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi quý II năm 2024 tăng so với quý trước và không thay đổi so với cùng kỳ năm trước.

Trong quý II/2024, hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều ngành, lĩnh vực đã khởi sắc nhưng vẫn còn khó khăn, doanh nghiệp đang đối mặt với nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế chưa cao, thiếu ổn định, giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào tăng cao hơn giá hàng hóa đầu ra, khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn, … đã tác động đến tình trạng thiếu việc làm của người lao động.

Cụ thể, số người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động quý II năm 2024 khoảng 948,0 nghìn người, tăng 15 nghìn người so với quý trước và tăng 7,3 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động quý này là 2,06%, tăng 0,03 điểm phần trăm so với quý trước và không thay đổi so với cùng kỳ năm trước, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực thành thị là 1,53% thấp hơn so với khu vực nông thôn (2,41%).

Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, tình trạng thiếu việc làm có xu hướng tăng lên, số người thiếu việc làm trong độ tuổi là 940,5 nghìn người, tăng 27,3 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi 6 tháng đầu năm 2024 là 2,05%, tăng 0,05 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực thành thị thấp hơn khu vực nông thôn (tương ứng là 1,37% và 2,49%).

Cuối cùng là, so với quý trước và cùng kỳ năm trước, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) tăng. Trong quý II năm 2024, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên từ 15-24 tuổi vẫn duy trì mức cao với 8,01%, tăng 0,02 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,6 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 10,19%, cao hơn 3,33 điểm phần trăm so với khu vực nông thôn. So với quý trước, tỷ lệ này tăng ở khu vực thành thị (tăng 0,01 điểm phần trăm) và giảm ở khu vực nông thôn (giảm 0,01 điểm phần trăm).

So với tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên luôn cao và gấp hơn 3 lần do đây là lực lượng trẻ, nhu cầu có việc làm cao hơn và bắt buộc tìm kiếm việc làm.

Bên cạnh đó, thanh niên thường được trang bị các kiến thức tốt với trình độ cao nên họ có nhiều cơ hội lựa chọn công việc theo ý muốn hơn là làm các công việc tạm thời, thu nhập thấp. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 10,19%; khu vực nông thôn là 6,86%.

Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) 6 tháng đầu năm 2024 là 8%, tăng 0,49 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 10,18%, tăng 0,65 điểm phần trăm; khu vực nông thôn là 6,87%, tăng 0,4 điểm phần trăm.

Có thể bạn quan tâm

Người dân cần tra cứu, kiểm tra thông tin trên các kênh chính thức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam. (Ảnh: NHẬT ANH)

Người dân cần cảnh giác với các thủ đoạn lừa đảo liên quan đến bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế

Hiện nay, các đối tượng lừa đảo trên không gian mạng thường sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi, mạo danh cán bộ cơ quan Bảo hiểm xã hội, công an hoặc cán bộ phường/xã để tiếp cận người dân, lợi dụng nhu cầu tra cứu thông tin, thực hiện thủ tục và các giải quyết quyền lợi nhằm đánh cắp thông tin cá nhân, chiếm đoạt tài sản...

Quang cảnh buổi làm việc giữa Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội và Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, tháng 8/2026. (Ảnh HSS)

Thu hồi hơn 396 tỷ đồng tiền chậm đóng, trốn đóng các chế độ bảo hiểm

Đến hết tháng 9/2026, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã ban hành quyết định kiểm tra tại 7.553 đơn vị, yêu cầu truy thu gần 180 tỷ đồng cho 60.710 lao động chưa tham gia hoặc đóng thiếu các chế độ bảo hiểm. Số tiền chậm đóng, trốn đóng thu hồi được trong thời gian kiểm tra là hơn 396 tỷ đồng trên tổng số gần 649 tỷ đồng, đạt hơn 61%.

Sản xuất thiết bị điện công nghệ cao tại Công ty cổ phần Kỹ thuật công nghiệp Á Châu tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc. (Ảnh: nhandan.vn)

Người tham gia nhận sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế điện tử như thế nào?

Từ ngày 6/10/2026, Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội cấp sổ bảo hiểm xã hội điện tử cho người tham gia để giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định. Sau đây là hướng dẫn cụ thể cách nhận và sử dụng sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế điện tử.

Tra cứu thông tin thẻ bảo hiểm y tế bằng căn cước công dân gắn chip được triển khai tại 100% cơ sở khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế ở thành phố Hải Phòng. (Ảnh: THANH NGA)

Đề xuất kéo dài thời gian hỗ trợ 70% mức đóng bảo hiểm y tế lên 72 tháng

Từ những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn và yêu cầu đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, Bộ Y tế đang đề xuất sửa đổi, bổ sung 21 khoản thuộc 15 điều của Nghị định số 188/2025/NĐ-CP. Đáng chú ý, Bộ Y tế đề xuất kéo dài thời gian hỗ trợ tối thiểu 70% mức đóng bảo hiểm y tế từ 36 tháng lên 72 tháng với một số đối tượng.

Bảo hiểm xã hội cơ sở Gia Lâm (Hà Nội) truyền thông chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tại Phiên giao dịch việc làm cụm xã Gia Lâm-Phù Đổng-Thuận An-Bát Tràng năm 2026. (Ảnh: HSS)

Hà Nội xây dựng đơn vị học tập và điểm hỗ trợ kỹ năng số tại bảo hiểm xã hội cơ sở

Một trong những nội dung trọng tâm trong Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời năm 2026 của Bảo hiểm xã hội Hà Nội là xây dựng mô hình “Đơn vị học tập” và “Điểm hỗ trợ kỹ năng số” tại bảo hiểm xã hội cơ sở. Theo đó, viên chức, người lao động trực tiếp hỗ trợ người dân thực hiện các giao dịch bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế điện tử.

Tài xế lái xe công nghệ hoạt động trên đường phố Hà Nội. (Ảnh: ĐĂNG ANH)

Mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội với lao động nền tảng số

Sự phát triển của kinh tế số đang tạo ra thị trường việc làm mới với hàng triệu người tham gia thông qua các nền tảng vận tải, giao nhận, thương mại điện tử và dịch vụ… Việc mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội đối với lao động nền tảng số đang đặt ra những yêu cầu mới về thiết kế chính sách và phương thức tổ chức thực hiện

Trạm Y tế xã Ô Diên, Hà Nội khám sức khỏe định kỳ miễn phí cho người dân. (Ảnh: DIỆU THƯƠNG)

Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế từ tuyến y tế cơ sở

Bộ Y tế đang tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định về điều kiện hoạt động khám bệnh, chữa bệnh, danh mục kỹ thuật, thuốc, thiết bị y tế và cơ chế khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế tại Trạm y tế cấp xã. Đồng thời phối hợp các bộ, ngành, địa phương triển khai các giải pháp nâng cao năng lực y tế cơ sở.

Khám, chữa bệnh tại Bệnh viện đa khoa Đống Đa, Hà Nội. (Ảnh LÊ TẤN)

Tám tháng đầu năm 2026, Hà Nội ghi nhận hơn 9,7 triệu lượt khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế

Trong 8 tháng đầu năm 2026, Hà Nội ghi nhận hơn 9,7 triệu lượt khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế, với tổng chi phí bảo hiểm y tế thanh toán hơn 22.000 tỷ đồng. Đáng chú ý, bệnh nhân ngoại tỉnh đến khám, chữa bệnh tại Hà Nội đạt tỷ trọng lớn, chiếm tới 50,9% tổng chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế toàn thành phố.

Người dân khám, chữa bệnh tại Bệnh viện Hữu Nghị. (Ảnh: THU TRANG)

Tự đi khám bảo hiểm y tế trái tuyến: 50% mức hưởng được tính thế nào, thuốc có được thanh toán?

Sau hơn 2 tháng triển khai chính sách mới, người tự đi khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế ngoại trú vẫn còn băn khoăn về mức quyền lợi được hưởng, đặc biệt là cách tính 50% mức hưởng bảo hiểm y tế. Ngoài khám, xét nghiệm được hưởng trái tuyến theo quy định, thuốc có được hưởng không?