Khảo cứu nghệ thuật Việt Nam trong dòng chảy lịch sử

Là một trong những tác phẩm quan trọng nghiên cứu về nghệ thuật của Việt Nam trong dòng chảy lịch sử nhiều thế kỷ, “Nghệ thuật An Nam” của tác giả Louis Bezacier cung cấp một cái nhìn đa chiều, đa góc cạnh trên nhiều khía cạnh của nghệ thuật. Sách được chuyển ngữ sang tiếng Việt do các dịch giả Trang Thanh Hiền và Mai Yên Thi, vừa được trao giải C tại lễ trao giải Sách Quốc gia.
Hai dịch giả cuốn “Nghệ thuật An Nam”. (Ảnh: MAI LỮ)
Hai dịch giả cuốn “Nghệ thuật An Nam”. (Ảnh: MAI LỮ)

“Nghệ thuật An Nam” là một cuốn sách lịch sử của tác giả Louis Bezacier (1906-1966), một nhà nghiên cứu nghệ thuật người Pháp. Sách được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1944 và được dịch ra nhiều thứ tiếng. Sách cung cấp một cái nhìn toàn diện về nghệ thuật Việt Nam từ thời tiền sử đến hiện đại. Sách là một tài liệu quan trọng cho những ai muốn tìm hiểu về nghệ thuật Việt Nam, cung cấp một cái nhìn toàn diện và có hệ thống về lịch sử nghệ thuật của Việt Nam.

Sách viết một cách dễ hiểu giúp người đọc hiểu rõ hơn về những tác phẩm nghệ thuật tuyệt đẹp của Việt Nam.

Khi thực hiện cuốn sách, Louis Bezacier tự nhận thức rằng công việc mà ông làm là nhặt nhạnh từng hạt ngọc, so sánh, đối chiếu, giám định, khảo tả, và phân tích, rồi tổng hợp lại để tạo nên chuỗi vòng nghệ thuật An Nam. Đó là chuỗi vòng có 11 thế kỷ tồn tại.

Louis Bezacier trình bày lịch sử nghệ thuật Việt Nam một cách mạch lạc và dễ hiểu. Ông đã phân chia lịch sử nghệ thuật Việt Nam thành các giai đoạn khác nhau và ông đã chỉ ra những đặc điểm nổi bật của mỗi giai đoạn.

Cuốn “Nghệ thuật An Nam”.

Cuốn “Nghệ thuật An Nam”.

Đặc biệt, ông phản đối cách nhìn nhận thành kiến và nhầm lẫn giữa nghệ thuật Việt Nam với nghệ thuật Trung Quốc. Là nhà nghiên cứu phương Tây, khi nhận định về mỹ thuật Việt Nam, bạn đọc sẽ thấy quan điểm khách quan, khác biệt của Louis Bezacier trong cuốn sách “Nghệ thuật An Nam” qua cách so sánh, đối chiếu các chi tiết nhỏ của kiến trúc tôn giáo, nghệ thuật lăng mộ, đền chùa. Cuốn sách cung cấp nguồn tư liệu nghiên cứu quý giá cho những ai muốn tìm hiểu về nghệ thuật An Nam, cách thiết đặt nền móng nghiên cứu về nghệ thuật Việt Nam một cách bài bản với những minh chứng nhằm biện luận rằng, nghệ thuật truyền thống thẩm mỹ rực rỡ, huy hoàng của người An Nam từ ngàn xưa là một nền nghệ thuật độc lập, đậm đà bản sắc dân tộc và thuần Việt.

Tác giả Mai Yên Thi (sinh năm 1994) bày tỏ sự xúc động khi tác phẩm dịch của chị và tác giả Trang Thanh Hiền mang tên "Nghệ thuật An Nam" (Nhà xuất bản Mỹ thuật) do Công ty Cổ phần đầu tư phát triển Trường Phương in ấn, phát hành đoạt giải C.

"Đây là lần đầu tiên tôi tham dự Giải thưởng Sách quốc gia và thật vinh dự đã đoạt giải. Phần thưởng lớn này tạo động lực rất nhiều cho tôi để tiếp tục lao động. Chúng tôi đặc biệt cảm ơn đơn vị in ấn, phát hành sách đã chăm sóc chu đáo cả nội dung và hình thức cho tác phẩm", nữ tác giả bày tỏ.

Louis Bezacier theo học tại Trường Mỹ thuật Paris từ năm 1926 và tham gia các tiết học về kiến trúc tại xưởng Defrasse-Madeline từ 1931-1932. Ông đến Hà Nội ngày 3/10/1935, đảm nhiệm vai trò bảo tồn các công trình ở Bắc Kỳ, rồi ở miền trung Việt Nam, khu vực địa lý rộng hơn Bắc Kỳ tính thêm cả phần lớn lãnh thổ vương quốc Champa cũ.

Ngay khi đến Việt Nam, Louis Bezacier đã tiến hành công tác tu bổ một trong những công trình đẹp nhất Bắc Kỳ là chùa Ninh Phúc (hay còn gọi là chùa Bút Tháp), ở tỉnh Bắc Ninh. Ông cũng thực hiện các cuộc khai quật nhằm tìm ra dấu vết của các công trình trước đó. Đến năm 1945, ông dành phần lớn thời gian và tâm huyết cho kiến trúc dân sự và tôn giáo cổ như chùa, lăng mộ, di tích cung điện triều Lê, cầu có mái che… ở châu thổ sông Hồng và tỉnh Thanh Hóa.

Louis Bezacier cũng tu bổ một phù đồ gạch ở Bình Sơn, tỉnh Vĩnh Yên, có từ thế kỷ 11. Ông chính là người xác định được một phong cách mới: nghệ thuật Đại La (thế kỷ 11-12). Ngoài ra, Louis Bezacier còn chịu trách nhiệm tu bổ nhiều công trình Champa ở khu di tích Lý Sơn.

Louis Bezacier cũng là tác giả của một số tác phẩm tiêu biểu như “Kiến trúc tôn giáo ở Bắc Kỳ” (1938), “Nghệ thuật và các công trình quân sự An Nam” (1941), “Điện thờ Phật giáo trong các chùa ở Bắc Kỳ” (1943), “Tiểu luận về nghệ thuật An Nam” (1943), “Nghệ thuật Việt Nam” (1955).

Có thể bạn quan tâm

Đại diện lãnh đạo thành phố Hà Nội trao Bằng công nhận di tích lịch sử - văn hóa cấp thành phố cho di tích Nhà thờ họ Hoàng và Công bộ Viên ngoại lang Hoàng Viết Bàn.

Hà Nội trao bằng xếp hạng cấp thành phố cho di tích văn hóa lịch sử làng La Xuyên, xã Cổ Đô

Nhân dân thôn La Xuyên, xã Cổ Đô, thành phố Hà Nội vừa tổ chức Lễ đón nhận Bằng xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp thành phố Nhà thờ họ Hoàng và Công bộ Viên ngoại lang Hoàng Viết Bàn. Buổi lễ có sự tham dự của đại diện lãnh đạo Cục Di sản (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), Sở Dân tộc và Tôn giáo, Sở Nội vụ Hà Nội.

Bìa tác phẩm "Đời như tiểu thuyết" của tác giả Trương Đức Minh Tứ.

Những phận người không hư cấu trong Đời như tiểu thuyết

"Đời như tiểu thuyết" của Trương Đức Minh Tứ không phải là cuốn sách để tìm một cốt truyện theo nghĩa thông thường. Ở đó là những con người cụ thể, những đời sống đã diễn ra, với đủ biến cố, chia ly, lựa chọn, day dứt, hy sinh và cả những cuộc kiếm tìm kéo dài đến tận cuối đời. 

Các đồng chí lãnh đạo tỉnh cùng đông đảo cựu chiến binh, chiến sĩ Điện Biên tham quan triển lãm "Từ ký họa chiến trường đến sắc màu đương đại".

Đặc sắc triển lãm “Từ ký họa chiến trường đến sắc màu đương đại” tại Điện Biên

Nhân kỷ niệm 72 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/2026), Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ (Điện Biên) tổ chức trưng bày, triển lãm 28 tác phẩm ký họa tiêu biểu về Chiến dịch Điện Biên Phủ của các họa sĩ Ngô Mạnh Lân, Phạm Thanh Tâm và Dương Hướng Minh với chủ đề “Từ ký họa chiến trường đến sắc màu đương đại”.

Nghệ nhân Nguyễn Công Đạt thực hiện in liễn làng Chuồn trong không gian Ngự Hà Viên, Huế. (Ảnh: MẠNH HÀO)

Những di sản sống của làng nghề

Có những làng nghề không mất đi hẳn nhưng lặng lẽ rút khỏi đời sống, chỉ còn lại trong ký ức của một vài người già hay trong những dấu vết mờ nhạt đâu đó.

Trần Ngọc Vàng và nghệ sĩ Thanh Thủy trong phim. (Ảnh: Galaxy Studio)

“Heo Năm Móng” đạt top 1 phòng vé điện ảnh mùa lễ 30/4

“Heo Năm Móng” nhanh chóng trở thành hiện tượng trên các diễn đàn điện ảnh và mạng xã hội, không chỉ nhờ chiến lược truyền thông hiệu quả, mà còn bởi hiệu ứng lan tỏa sau công chiếu. Sau 6 ngày ra mắt, phim chạm mốc 50 tỷ đồng, trở thành phim có doanh thu Top 1 phòng vé trong thời điểm ra mắt.

Nhà báo Hữu Việt và các diễn giả Phạm Thị Kim Oanh, Phan Cẩm Tú tại buổi tọa đàm. (Ảnh: HỒNG QUÂN)

Bảo vệ bản quyền từ góc nhìn của lĩnh vực điện ảnh

Trong các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, điện ảnh là một trong số những loại hình bị vi phạm bản quyền nhiều nhất. Ở kỷ nguyên số, công nghệ và trí tuệ nhân tạo là sự tiến bộ nhưng cũng là những công cụ đắc lực để sao chép và phát tán sản phẩm điện ảnh, gây ảnh hưởng nặng nề nhiều mặt.

Phối cảnh công trình biểu tượng bông lúa Cà Mau.

Giá trị văn hóa từ "Biểu tượng bông lúa" ở Cà Mau

Sự phát triển của một địa phương trong kỷ nguyên mới không chỉ được đong đếm một cách cơ học bằng những con đường rải nhựa, hay những cây cầu bê-tông nối nhịp đôi bờ. Tầm vóc và sức sống của một vùng đất còn được khắc họa đậm nét qua những biểu tượng văn hóa mang tầm nhìn chiến lược.

Cảnh trong vở kịch ngắn “Chuyện nhà chị Tín” của Nhà hát Kịch Việt Nam biểu diễn tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. (Ảnh: THƯƠNG NGUYỄN)

Mở lối để sân khấu tiếp cận công chúng

Không thiếu những cuộc thi, liên hoan được tổ chức rầm rộ, những vở diễn mới liên tục ra mắt mỗi năm, nhưng sân khấu nước ta vẫn đang loay hoay đi tìm khán giả. Lý do tình trạng này là bởi các đơn vị chức năng chưa xây được nhịp cầu đủ mạnh để kết nối với công chúng trong môi trường truyền thông đang thay đổi từng ngày.

Các văn nghệ sĩ trong chuyến đi thực tế tại mỏ than ở Quảng Ninh vào dịp Ngày Thơ Việt Nam năm 2026. (Ảnh: THIÊN AN)

Chuyển động mới của văn học viết về công nhân

Trong dòng chảy của văn học đương đại, đề tài công nhân từng là mạch nguồn quan trọng, được khai thác nhiều, nhưng cũng có giai đoạn gần như vắng bóng. Vài năm trở lại đây, mảng đề tài này được quan tâm hơn, không còn bó hẹp trong khuôn mẫu cũ mà thể hiện góc nhìn đa chiều, gắn với nhịp vận động của xã hội hiện đại.