Học nghệ nhân để phát triển quan họ

Tôi gặp được nghệ nhân Nguyễn Đức Sôi khá muộn. Sau Tết 1991, tôi cùng một sinh viên ngành Hán Nôm về Kinh Bắc và đến Ngang Nội (Tiên Du, Bắc Ninh) tìm cụ để tầm sư học đạo.

Từ phải qua - nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vĩ, NSND Thúy Cải và vợ chồng NSƯT Lệ Ngải - con gái nghệ nhân Nguyễn Đức Sôi. Ảnh: QUANG HƯNG
Từ phải qua - nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vĩ, NSND Thúy Cải và vợ chồng NSƯT Lệ Ngải - con gái nghệ nhân Nguyễn Đức Sôi. Ảnh: QUANG HƯNG

1/Trong quá trình tìm hiểu dân ca quan họ, tôi từng được thụ giáo các bậc tiền bối trong giới sưu tầm và nghiên cứu như nhạc sĩ Nguyễn Viêm, nhạc sĩ Hồng Thao, bác Trần Linh Quý, bác Đặng Văn Lung… và cũng lọ mọ tìm đến một số làng gặp một số nghệ nhân còn lưu giữ rải rác các bài bản vào những năm 70 - 80 của thế kỷ trước.

Nhưng với cụ Sôi, cơ duyên là khá muộn. E vì tính dè dặt cố hữu của mình. Cũng vì lúc đó, cái dư luận câu nệ về “quan họ đài”, “quan họ đoàn”, “quan họ sân khấu” làm cho tôi ngần ngại khi tiếp xúc với các anh chị trong Đoàn dân ca quan họ Bắc Ninh (nay là Nhà hát dân ca quan họ Bắc Ninh). Bác lại là người phụ trách chuyên môn ở đó.

Sau này, tôi mới ngộ ra rằng, những dư luận đó là không đúng với một tổ chức nghệ thuật như đoàn quan họ. Thực chất, họ là một chặng vận động tự nhiên của truyền thống dân ca, vốn tuôn chảy bất tận, vào thời kỳ hiện đại mà thôi.

2/Hôm đó đúng ngày khai hạ, mùng 7 tháng Giêng âm lịch. Khi chúng tôi đến thì cụ đang lấp ló tắm bên giếng đồi. Trong khi đợi cụ, tôi nghĩ rất nhanh bốn câu thơ chữ Hán ghi lại cảnh đó mà cũng để làm cớ, là cái “mẹo” mở đầu câu chuyện khi đi điền dã dân gian:

“Khai hạ tầm nhân sĩ

Kim thời tẩm tỉnh biên

Tằng văn thanh thủy xứ

Xướng ca âm nhiên nhiên”.

(Ngày khai hạ tìm gặp nhân sĩ/Đúng lúc cụ đang tắm bên giếng/Từng nghe nói xứ này nước rất trong/Nên giọng hát người ta cũng thong dong trong trẻo).

Cụ đọc và thoáng mỉm cười. Sau đó, cụ ra sau đồi chặt một nhánh tre tươi đem vào, đập vội thành chiếc bút. Mực thì chấm vào lọ mực Cửu long trên bàn, cụ lật mặt sau tờ lịch trên tường trải ra. Tôi nhờ sinh viên viết nhanh kiểu thư pháp mấy câu trên, treo lên để mấy ông cháu ngắm nghía, bình luận vui vẻ.

Câu chuyện không dứt ra được. Đột ngột cụ nói:

- Anh viết đi. Người như anh viết được đấy. Anh viết bài cho dân hát.

- Dạ cụ. Quan họ như rừng. Cháu như chim chích lạc vô, mần răng mà viết được - Tôi tiếp lời.

- Ô, “mần răng”, “mần răng”. Trong quan họ có “mần răng” đấy. “Ai cấy, bớ mần răng đi cho người gặt”. Lặp lại mấy lần. Dân lâu ngày không hiểu từ cổ nên hát thành “màn giăng”. Chả ra nghĩa gì cả. Chắc bài “Như ruộng tư sào” này lấy từ trong Thanh ra.

- Dạ. “Bớ mần răng” trong Nghệ nhà cháu là “bớ làm sao” đó ạ. Tiếng đệm mà.

Cụ lục hòm lấy ra những tờ ghi chép những bài cụ đã viết cho đến lúc đó làm thí dụ cho thầy trò tôi. Vừa chỉ từng bài vừa hát lên. Tôi ngỡ ngàng vì một giọng cổ văn thuần thục, tự nhiên trong các lời ca. Giọng cụ ấm, tuy đã già nhưng thêu thùa tinh tế, nắn nót. Cứ tay này vỗ tay kia làm nhịp như đang dạy. Sau này, tôi chú ý thấy nhiều học trò của cụ cũng có thói quen y như vậy. Khác chúng tôi thì hay dùng búng tay để tạo nhịp.

Cụ tiếp lời:

- Cần lắm anh ạ. Bao nhiêu cũng không đủ đâu. Dân cần lắm. Ai cũng thích bài mới, bài độc, bài lạ, miễn là hay. Cứ theo làn cũ mà viết lời. Có những bài chưa có bài đối, mất bài đối. Anh cứ nhằm vào đó mà viết. Như bài “Ăn ở trong rừng” của tôi, đã ai đối đâu. Bài đó tôi lấy tích trong chèo về Lục Vân Tiên, cái cảnh Lục Vân Tiên bị nó chọc mù mắt, ăn ở trong rừng đó. “Sa chân tôi bước xuống đò/Sông sâu sào ngắn khôn dò nông sâu”. Thế thôi. Viết lời ca thì nên theo kiểu “có tích mới dịch nên trò”. Bài “Con sông Vị Thủy” của tôi cũng là như vậy. Anh viết đi, đưa tôi góp ý cho. Người như anh làm được đó. Học thêm bài bản đi rồi viết.

3/Lời dạy của cụ làm tôi nhớ đến thời sinh viên, một nhóm chen chúc tàu chợ về Vinh dịp hè, gặp được nhạc sĩ Dân Huyền ngồi cùng, ông nói: “Văn khoa Tổng hợp à! Làm thơ đi. Cứ lục bát mà làm, đưa tôi bẻ làn điệu cho. Tôi làm ở đài phát thanh”. Ấy thế mà chúng tôi có viết được bài nào đâu dù cho tâm hồn vẫn luôn luôn treo ngược cành cây. Mỗi nghề nó có cái khó riêng của nó.

Từ đó, có dịp là tôi về thăm cụ để học hỏi thêm. Con xe máy 80 cà tàng của tôi, chạy về đến làng Ngang Nội là phải đổ đến ba lít xăng. Cứ thế mà đi bất kể đêm ngày.

Những bài học đầu tiên của tôi mà cụ Nguyễn Đức Sôi dạy cho chưa hẳn là bài bản, mà đó là niềm đam mê, là trách nhiệm trước quan họ, là kỳ vọng và niềm tin tưởng vào học trò. Đúng là bây giờ nghĩ lại, tôi mới ngấm được câu nói: Người thầy là người tạo cảm hứng, nhen nhóm những đam mê cho học trò.

Thế hệ các cụ, sáng tác không chỉ là niềm đam mê cá nhân mà là trách nhiệm và nghĩa vụ trước cách mạng, trước vận nước mà cụ thể là trước sự vận dụng dân ca vào các đề tài mà cuộc sống hiện đại đặt ra. Những bài đầu tiên cụ viết là mang tinh thần phục vụ đó. Công việc của cụ lại gắn với việc xây dựng đoàn dân ca quan họ đang ngày càng phát triển. Cụ phụ trách về chuyên môn, dạy hát cho anh chị em như là con cháu của mình, khai mở cho những tâm hồn tươi xanh hướng về truyền thống dân ca của chính quê hương mình. Chính nhu cầu bài bản cổ để xây dựng các hoạt cảnh trình diễn sân khấu - cái mà quan họ cổ truyền không có - đã thúc giục cụ viết. 

Dần dần, cụ đã chuyển sang sáng tác lời cổ. Và chính ở đó, cụ có những đóng góp không ai sánh được… Với cái vốn cổ văn nho học, với kinh nghiệm của một nghệ nhân dân gian thông thạo cả tuồng, chèo và dân ca, cụ đã sáng tạo nên những tác phẩm “cổ trang” nhuần nhị, tinh tế từ cảm hứng, ngôn từ và khúc thức. Điều mà không phải ai cũng đủ tích lũy vốn cổ cho mình trong hoàn cảnh đó. Đặc biệt, cụ bỏ công vào chặng Giã bạn, chặng hát thiết tha nhất trong dân ca quan họ. Từ những bài còn sót lại, cụ đã nhân thêm nhiều bài khác mà hiện nay, nghiễm nhiên đã trở thành dân gian dân dã ở bất cứ làng nào (“Réo rắt chim oanh” đối lại bài cổ “Thân lươn bao quản lấm đầu”, “Bóng xế non đoài” đối lại bài cổ “Con nhện giăng mùng”, “Sao nỡ dứt tình” đối lại bài cổ “Kẻ bắc người nam”, “Ngăn cầu ô thước” đối lại bài cổ “Chia rẽ đôi nơi”…). Chưa đủ, cụ còn viết bài mới cả làn điệu và lời ca như “Nhớ mãi khôn nguôi” mà nay đã trở thành di sản chung của quan họ…

4/Năm 1991, tôi và NSƯT Vũ Tự Lẫm lại lọ mọ đi thăm nhạc sĩ Hồng Thao nhà đang ở Suối Hoa. Trong câu chuyện, nhạc sĩ nói đại ý: 

- Chúng tôi không dùng khái niệm “quan họ gốc” anh ạ. Biết đâu là “gốc”. Chúng tôi sử dụng khái niệm “quan họ cổ” để chỉ tất cả những bài bản được các cụ hát từ trước 1945. Thêm vào đó, là những bài như của cụ Nguyễn Đức Sôi sáng tác hoàn toàn theo phong cách cổ, được nhân dân lưu truyền. Cụ Sôi là người của truyền thống sáng tạo cổ xưa sót lại cho đến ngày nay. Cụ là dân gian và cụ là cổ truyền. Quan họ nào cũng chắp nối, bện vào nhau qua thời gian. Nó không đứt đoạn như một nhát cắt dứt khoát.

Ngẫm về những sáng tác của nghệ nhân Nguyễn Đức Sôi, chúng ta có thể so sánh với những sáng tạo của nhiều nghệ nhân hiện đại khác trong dân ca. Tác phẩm của họ là những giá trị đáng trân trọng, là sự giữ gìn bản sắc một cách trực tiếp nhất cho văn hóa dân tộc. Cần được khẳng định công lao của họ và cần phát huy nó trong cuộc sống. Nghệ nhân tất cả các di sản dân ca nhiều vùng, họ đang cần thiết biết bao nhiêu những sáng tác như vậy.

Những gì tôi học được ở cụ Nguyễn Đức Sôi còn lắm những mẹo mực khác, nhưng cuối cùng cái đọng lại nhất chính là chữ tâm, là niềm đam mê và sự cống hiến vô tư cho bản sắc giá trị truyền thống văn hóa dân tộc.

Chi hội âm nhạc - Hội VHNT tỉnh Bắc Ninh đang phối hợp gia đình cố nghệ nhân Nguyễn Đức Sôi (1912 - 1997), chuẩn bị xuất bản tập sách về các bài quan họ do cụ Sôi sáng tác, viết lời, đã đi vào đời sống dân gian. Cùng với đó là những nhận định sơ bộ về đóng góp đặc sắc của cụ cho sự phát triển dân ca quan họ.

Có thể bạn quan tâm

 Nhân dân chào đón quân giải phóng tiến vào Sài Gòn. Ảnh tư liệu

Làm sao quên được ngày hòa bình

Tôi về Sài Gòn hơi chậm, ngày 7/5/1975 tôi mới có mặt tại Sài Gòn. May quá, tôi kịp dự lễ mừng chiến thắng, mừng Thống Nhất Hòa Bình diễn ra vào ngày 15/5/1975.

Thượng thư Ninh Tốn và giá trị thời đại

Thượng thư Ninh Tốn và giá trị thời đại

Ngày 25/4, dịp kỷ niệm 30 năm nhà thờ chi thứ hai của dòng họ Ninh được cấp bằng Di tích Quốc gia (1996), tộc họ Ninh tổ chức Hội thảo khoa học “Di sản văn hóa dòng họ, danh nhân Thượng thư Ninh Tốn (1744 - 1795)” tại làng Côi Trì (xã Yên Mạc, Ninh Bình).

Tủ sách đặc biệt

Tủ sách đặc biệt

Lễ ra mắt và phát động hiến tặng tài liệu, sách cho tủ sách “Huyền thoại Côn Đảo” vừa diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đêm hội Hoa đăng Hồ Văn

Đêm hội Hoa đăng Hồ Văn

Ngày 3/5 tới, tại Hồ Văn (thuộc Di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám), Ban Quản lý Di tích sẽ phối hợp Công ty Cổ phần Thương mại và Dịch vụ Upleaf Việt Nam tổ chức sự kiện văn hóa trải nghiệm "Đêm hội Hoa đăng Hồ Văn" với chủ đề "Thắp Đăng Khai Trí - Gửi Nguyện Thành Danh".

Mưa dông. Ảnh: SONG ANH

Những cơn dông

Không hiểu sao, từ nhỏ đến giờ, tôi rất thích ngắm nhìn những cơn dông kéo đến trước mỗi trận mưa. Với tôi, đó là một khoảnh khắc kỳ diệu của thiên nhiên vũ trụ.

Viếng nghĩa trang Liệt sĩ. Ảnh: NAM HẢI

Ngày mẹ tôi “đi gặp” cha tôi

Sau 36 năm đất nước hòa bình, thống nhất, sáng 23/7/2011 (Tân Mão), trong Nghĩa trang liệt sĩ Cần Giuộc, mẹ tôi mới được gặp cha tôi. Tôi mường tượng và thấy như trước mắt mình hình ảnh mẹ lui cui thắp hương, bóng mẹ nhỏ thó giữa bạt ngàn mộ chí trắng toát, chưa xác định được danh tính.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Chung hòa mình vào không khí lịch sử để nuôi cảm hứng sáng tác.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Chung: “Giúp người nghe thấy lịch sử không hề xa xôi”

Vài năm trở lại đây, âm nhạc về đề tài lịch sử, chiến tranh cách mạng đang thu hút sự quan tâm của đông đảo công chúng, đặc biệt là giới trẻ. Đón các ngày lễ lớn của đất nước, nhạc sĩ Nguyễn Văn Chung chia sẻ với Thời Nay về những tìm tòi làm mới ngôn ngữ âm nhạc, góp phần lan tỏa các giá trị cách mạng trong đời sống đương đại.

Minh họa: TRẦN XUÂN BÌNH

3 triệu đồng

Gã trở nhà mới gần 10 giờ đêm. Trời oi nồng, vài hạt mưa lắc rắc càng làm tăng sức nóng. Trong con hẻm cụt không còn bóng người, gió yếu ớt chẳng rơi nổi chiếc lá, tưởng như màn đêm đã chìm sâu từ kiếp nào.

Các tập san Sinh hoạt, Xây dựng... được bí mật biên soạn và phát hành năm 1973 tại Trại 6 (Trại Phú An).

Chứng tích về sự không khuất phục

Những trang báo viết tay nhòe mực, lá cờ thêu vội trong buồng giam hay bản danh sách ký tên trước giờ vượt biển..., ở “địa ngục trần gian” Côn Đảo, những kỷ vật đó là lời khẳng định đanh thép về một ý chí chưa bao giờ bị khuất phục.

Ông Ksor Thuông (ơi H' Que), buôn Ji, xã Ia Dreh, trong lễ cúng trưởng thành của người Gia Rai.

Giữ được nghệ nhân mới giữ được “hồn cốt” đại ngàn

Giữa đại ngàn Tây Nguyên, nơi những buôn làng Ba Na, Gia Rai, có một lớp người lặng lẽ giữ vai trò đặc biệt quan trọng: Các nghệ nhân khấn. Họ thực hành nghi lễ, là “bộ nhớ sống” lưu giữ hệ thống tri thức dân gian, tín ngưỡng và nghệ thuật ngôn từ độc đáo của cộng đồng.

Dòng sông miền Tây. Ảnh: NAM NGUYỄN

Dòng sông không địa chỉ...

Trong hành trình rong ruổi của mình, có dòng sông tôi ghé lại chỉ để... thương một người. Với tôi, dòng sông Cái Lớn và chú Nguyễn Văn Lúa (cù lao Tắc Cậu, xã Châu Thành (Kiên Giang cũ), nay là An Giang) là một ký ức như thế.

Bibonne (bên phải) trong lúc ghi hình phỏng vấn huấn luyện viên Mai Đức Chung.

Làm phim về Việt Nam để hiểu nguồn cội

Sau bốn năm từ khi công chiếu phim tài liệu đầu tay về Việt Nam, quê hương của bà nội, nhan đề “Once upon a Bridge in Vietnam” (tạm dịch: Xưa, nơi một cây cầu ở Việt Nam), Francois Bibonne giới thiệu cuốn phim tiếp theo, được xem như tập hai.

Không gian ngói (Đông Anh, Hà Nội) gợi hình ảnh một cái cây lớn với lớp màng bao che bằng ngói. Ảnh: LÊ MINH HOÀNG

Kiến trúc không phải như một thứ xa xỉ

KTS Đoàn Thanh Hà (H&P Architects, Việt Nam) là một trong 5 người đoạt Giải thưởng Toàn cầu về Kiến trúc bền vững năm 2026, do UNESCO bảo trợ và là một trong những giải thưởng lớn trong hệ thống giải thưởng của Hiệp hội Kiến trúc sư thế giới UIA.

Việc nhiều du khách sử dụng trang phục khác với bản địa dễ gây lệch nhận diện bản sắc văn hóa địa phương.

Nỗi lo trang phục ngoại lai ở Sa Pa

Tại một số điểm du lịch ở Sa Pa (Lào Cai), sự xuất hiện ngày càng nhiều các bộ trang phục ngoại lai đang làm nhòe đi bản sắc vốn là sức hút riêng của phố núi.

Thi viết “Cha và con gái” lần thứ 4

Thi viết “Cha và con gái” lần thứ 4

Hôm qua ngày 22/4, tạp chí Gia đình Việt Nam phối hợp Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội phát động Cuộc thi viết “Cha và con gái” lần thứ 4 - năm 2026, tiếp tục khơi gợi những câu chuyện đời thường về tình thân trong bối cảnh xã hội nhiều biến chuyển.

Cần giữ cho bạn đọc tiếp cận các nguồn sách, được sáng tác một cách trung thực, viết nên từ trái tim, cảm xúc con người. Ảnh: HOÀNG HOA

Nhiều gợi mở từ chuyên đề “Chống AI lũng đoạn văn chương”

Chuyên đề “Chống AI lũng đoạn văn chương” trên báo Thời Nay số 1696 ra ngày 16/4/2026 đã được nhiều bạn đọc chú ý với những phản hồi tích cực. Không chỉ có những ý kiến đồng tình, báo còn nhận được những gợi mở mới, bàn sâu thêm từ nội dung chuyên đề.

Người dân trải nghiệm mô hình hội sách khuyến đọc được tổ chức tại chung cư Vista Verde (phường Cát Lái).

Đa dạng cách lan tỏa văn hóa đọc

Đón “Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam” năm 2026, Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp phường Cát Lái lần đầu tiên thí điểm hội sách khuyến đọc tại khu dân cư với chủ đề “Tuần đọc sách cộng đồng - Mỗi người một cuốn sách”.

Bà Vũ Thị Quỳnh Liên trong lễ ra mắt Tủ sách thanh niên.

Làm thực chất để Ngày sách không là phong trào nhất thời

Trên cả nước đang diễn ra các hoạt động sôi nổi hưởng ứng Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam 21/4. Đây cũng là dịp để nhìn lại những nỗ lực bền bỉ của các cấp ngành, đơn vị xuất bản trong việc nuôi dưỡng thói quen đọc trong cộng đồng, nhất là thế hệ trẻ.

Tìm mua sách tại hội sách bên Hồ Gươm (Hà Nội).

Nuôi thói quen “đọc sâu” thời AI

Trong thời đại trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ số, việc tiếp cận thông tin trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết. Nhưng cũng chính lúc ấy, văn hóa đọc lại đứng trước nhiều thách thức. Khi sách vẫn được xuất bản nhiều hơn, đẹp hơn, câu hỏi đặt ra là: Con người có còn đọc sâu?

Thi sĩ “vẽ bóng mình trên vết sẹo bong da”

Thi sĩ “vẽ bóng mình trên vết sẹo bong da”

Thi sĩ Đinh Minh Thiện vừa trình làng tập thơ thứ tư: “Bản giao hưởng tháng Tư” (NXB Hội Nhà văn). Ở tập thơ này, nhãn quan của một họa sĩ đối thoại không hồi kết với chiều sâu tĩnh tại của một tâm hồn hướng Phật.

Đoàn văn nghệ sĩ đi thực tế sáng tác ở Pù Luông.

Nét truyền thống mở lối du lịch cộng đồng

Giữa trùng điệp núi rừng miền tây xứ Thanh, thôn Bản Báng - vùng đệm thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (xã Pù Luông) là điểm sáng mới của du lịch cộng đồng. Không chạy theo số lượng và phát triển nóng, người dân Bản Báng chọn cho mình hướng đi chậm nhưng chắc chắn, với điểm tựa là những giá trị bản địa đặc sắc.

Một tác phẩm của Vua Hàm Nghi.

Xem tranh của Vua Hàm Nghi

Trong chiều 18/4 vừa qua, tại Thủ đô đã diễn ra một hội thảo. Đó là hội thảo “Kết nối, phát huy di sản văn hóa gắn với phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên mới”, do Hiệp hội Phát triển Công nghiệp văn hóa Việt Nam tổ chức, thu hút được sự tham gia đông đảo của nhiều chuyên gia.

Cần có chính sách động viên kịp thời những chủ thể đang nắm giữ và lan tỏa bản sắc văn hóa.

Giữ bản sắc phải từ người giữ lửa

Nhân ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4), nhìn lại chặng đường bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số (DTTS) có thể thấy, để di sản thật sự “sống” bền lâu, vẫn cần thêm những chính sách sát thực tiễn và sự tiếp sức đúng chỗ cho nghệ nhân.