Hành trình phát triển bền bỉ của lúa gạo Việt

Hành trình của hạt gạo Việt đi từ mục tiêu “ăn no” đến khẳng định vị thế xuất khẩu cho thấy sự bền bỉ của nông dân, nỗ lực của nhà khoa học và định hướng phát triển bền vững đang mở ra tương lai mới cho ngành lúa gạo Việt Nam.

Cánh đồng lúa thông minh ở xã Tân Xuân, tỉnh Vĩnh Long
Cánh đồng lúa thông minh ở xã Tân Xuân, tỉnh Vĩnh Long

Từ “ăn no” đến vị thế xuất khẩu

Từ nền văn minh lúa nước hàng nghìn năm, người nông dân Đồng bằng sông Cửu Long đã kế thừa và phát triển để hình thành vùng sản xuất lúa gạo trọng điểm như hiện nay. Cây lúa trở thành trụ cột sinh kế, đồng thời là nền tảng hình thành diện mạo nông nghiệp vùng.

Sau năm 1975, một trong những vấn đề cấp thiết của đất nước là bảo đảm nguồn lương thực. Năm 1977, Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long được thành lập trong bối cảnh cả vùng vẫn chủ yếu trồng lúa mùa, diện tích gieo trồng khoảng 1,7-2 triệu hecta, sản lượng khoảng 7 triệu tấn/năm.

Tiến sĩ Trần Ngọc Thạch, Viện trưởng Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long cho biết: Nhiệm vụ trước tiên của viện là thu thập, làm thuần và nâng năng suất các giống lúa mùa địa phương, đồng thời xây dựng cơ sở vật chất và đào tạo nhân lực.

Đến nửa đầu thập niên 1980, viện mới bắt đầu triển khai chương trình lai tạo giống nhằm nâng năng suất và rút ngắn thời gian sinh trưởng. Thách thức đặt ra lúc bấy giờ là lúa mùa chỉ trồng được một vụ, còn các giống cải tiến như Thần Nông 8, IR36, IR42, IR64 đều có thời gian sinh trưởng dài (110-140 ngày), không phù hợp với điều kiện lũ hằng năm của Đồng bằng sông Cửu Long. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là giống lúa năng suất cao, ngắn ngày, có thể gieo trồng trước hoặc sau lũ.

lua-1.jpg
Mô hình lúa tôm ở xã Thạnh Hải, tỉnh Vĩnh Long

Tiến sĩ Trần Ngọc Thạch chia sẻ: “Dấu ấn và thành công nhất của viện là khi công nhận giống OM80 vào năm 1988, đây là giống lúa đạt được yêu cầu về thời gian sinh trưởng lẫn năng suất”. Đây là những yếu tố cấp thiết cần có ở một giống lúa trong bối cảnh cả nước cần “ăn no”.

Đến năm 1989-1990, Việt Nam tự chủ lương thực và bắt đầu xuất khẩu gạo, đánh dấu bước chuyển lịch sử. Từ mục tiêu “ăn no”, ngành giống tiếp tục hướng đến khả năng chống chịu sâu bệnh, thích ứng điều kiện bất lợi, và sau đó là nâng cao chất lượng gạo.

Ngày nay, Việt Nam tham gia sâu vào thị trường toàn cầu với phân khúc lớn nhất là gạo trắng hạt dài, chiếm ưu thế nhờ chi phí sản xuất thấp, chất lượng ngày càng cải thiện. Đây là phân khúc mang lại lợi nhuận cao cho nông dân. Tiến sĩ Trần Ngọc Thạch khẳng định: “Sự cần cù, sáng tạo và sẵn sàng tiếp nhận cái mới của bà con nông dân là yếu tố quyết định thành công của ngành lúa gạo Việt Nam”.

Hành trình từ mục tiêu “ăn no” đến vị thế xuất khẩu đã cho thấy khả năng thích ứng và đổi mới mạnh mẽ của ngành lúa gạo Việt Nam. Từ những giống lúa đầu tiên của Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long đến những cánh đồng chất lượng cao hôm nay, nỗ lực của các nhà khoa học và người nông dân đã tạo nền tảng để lúa gạo Việt bước ra thế giới.

lua-2.jpg
Nông dân tham quan cánh đồng lúa thông minh ở xã Tân Xuân, tỉnh Vĩnh Long

Trong bối cảnh yêu cầu thị trường ngày càng khắt khe, ngành lúa gạo tiếp tục hướng đến chất lượng, bền vững và giá trị cao hơn, khẳng định vị thế của nông nghiệp Việt Nam.

Lúa gạo Việt vươn mình

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Bá Bổng, Chủ tịch Hiệp hội Ngành hàng Lúa gạo Việt Nam, đơn vị tiên phong trong việc kết nối các chuỗi giá trị lúa gạo bền vững gắn với Chương trình 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp cho biết: Hiệp hội mới được thành lập cách đây hai năm với tôn chỉ trở thành “sợi dây nhỏ” liên kết hai chủ thể quan trọng nhất của ngành hàng: Người trồng lúa và người tiêu dùng.

Từ sự kết nối này, nhiều tác nhân khác nhau đã cùng góp sức tạo dựng hệ sinh thái ngành hàng lúa gạo bền vững, trong đó có các nhà khoa học, cơ quan quản lý nhà nước và những nông dân nhiệt huyết, gắn bó trực tiếp với ruộng đồng.

Bên cạnh đó, khẳng định vai trò then chốt của an toàn thực phẩm trong phát triển ngành hàng lúa gạo, Tiến sĩ Phan Thị Thu Hiền, Giám đốc Trung tâm Kiểm dịch thực vật sau nhập khẩu II cho rằng, lĩnh vực tiêu dùng lúa gạo chịu ảnh hưởng của hai nhóm yếu tố quan trọng.

Thứ nhất là khâu sản xuất, liên quan đến dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, các hóa chất độc hại và kim loại nặng-những yếu tố có thể ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nông sản.

Thứ hai là khâu chế biến và bảo quản, nơi các rủi ro về tạp chất và độc tố Aflatoxin có thể xuất hiện nếu quá trình tồn trữ không đạt yêu cầu, gây ẩm mốc và đe dọa sức khỏe người tiêu dùng.

Ở khâu sản xuất ngoài đồng, Tiến sĩ Phan Thị Thu Hiền cho rằng, phải đặc biệt lưu ý đến vấn đề mà dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cho phép hiện nay trên ngành hàng lúa gạo dù là trong tiêu dùng hay xuất khẩu. Ngoài ra, những yếu tố liên quan đến vấn đề về kiểm dịch thực vật cũng đóng vai trò quan trọng.

Song song đó, bà con nông dân cũng cần nắm vững những yêu cầu về dịch hại chính trên cây lúa. Đặc biệt là phải chọn những biện pháp phòng trừ những loại dịch hại phù hợp, cập nhật thông tin chính xác về các danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam.

lua-3.jpg
Nông dân xã Tân Xuân, tỉnh Vĩnh Long thăm cách đồng lúa thông minh

Không chỉ nắm vững quy định trong nước, người tham gia sản xuất lúa gạo hướng đến xuất khẩu còn cần hiểu rõ yêu cầu của từng thị trường nhập khẩu. Theo Tiến sĩ Phan Thị Thu Hiền, mỗi một quốc gia đều có quy định khác nhau, danh mục các dư lượng tối đa cho phép trong từng mặt hàng của mỗi quốc gia khác nhau sẽ có sự khác biệt.

Điều đó đòi hỏi nhà sản xuất phải xác định rõ mục tiêu thị trường ngay từ đầu, từ đó chuẩn hóa quy trình sản xuất và chế biến phù hợp với tiêu chuẩn của thị trường đó. Ngay cả với thị trường nội địa, việc tuân thủ đầy đủ các tiêu chí an toàn thực phẩm cũng là yêu cầu tất yếu nhằm bảo đảm quyền lợi và sức khỏe người tiêu dùng.

Những yêu cầu ngày càng khắt khe về chất lượng và an toàn thực phẩm đang mở ra hướng phát triển mới cho ngành lúa gạo Việt Nam: Không chỉ sản xuất nhiều mà phải sản xuất sạch, minh bạch và có trách nhiệm.

Khi nông dân chủ động thay đổi tập quán, doanh nghiệp đầu tư sâu vào chế biến, và các hiệp hội giữ vai trò điều phối, ngành hàng lúa gạo đang hình thành một chuẩn mực mới hiện đại hơn, bền vững hơn. Đây chính là nền tảng để hạt gạo Việt nâng tầm giá trị và tự tin chinh phục những thị trường khó tính nhất.

Có thể bạn quan tâm

(Ảnh minh họa)

Giá vàng trong nước tăng gần 8 triệu đồng/lượng trong tháng 8

Giá vàng thế giới vừa trải qua tuần giảm giá, đóng cửa ở mức 4.454,4 USD/ounce khi Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) củng cố lập trường chống lạm phát, khơi lại kỳ vọng về việc tăng lãi suất vào tháng 9. Trong nước, giá vàng đã tăng gần 8 triệu đồng/lượng trong tháng 8, vàng miếng SJC giao dịch ở mức 148,7 triệu đồng/lượng.

EVNCPC bảo đảm cung cấp điện an toàn, ổn định, thông suốt trong dịp lễ 2/9.

Ứng dụng khoa học công nghệ vào vận hành lưới điện miền trung

Từ trạm biến áp không người trực, điều khiển xa đến robot giám sát, những giải pháp công nghệ đang từng bước thay đổi việc vận hành, nâng cao năng suất và độ tin cậy cung cấp điện, góp phần cụ thể hóa Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Ông Trần Văn Chín, Chủ tịch Arobid.com và ông Kim Joung Tae CEO CHUNGYONG23 Corp, thực hiện nghi thức ra mắt trung tâm số CHUNGYONG23-Powered by Arobid.com. (Ảnh: A.T)

Ra mắt trung tâm số thúc đẩy kết nối giao thương Việt Nam-Hàn Quốc

Chiều 29/8, tại Thành phố Hồ Chí Minh, trong khuôn khổ "Ngày hội Xúc tiến giao thương-Cánh cửa kết nối thị trường Hàn-Việt 2026", CHUNGYONG23 Corp. chính thức ra mắt trung tâm số CHUNGYONG23 Global Digital Trade & Investment Hub-Powered by Arobid.com và công bố chuỗi Triển lãm Thương mại số Việt-Hàn 2026-2027.

EVNNPT sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị để bảo đảm vận hành an toàn, liên tục, ổn định dịp nghỉ lễ 2/9. (Ảnh: EVNNPT)

Chủ động phương án, bảo đảm truyền tải điện an toàn, liên tục dịp lễ 2/9

Nhằm bảo đảm cung cấp điện an toàn, liên tục, ổn định phục vụ các hoạt động chính trị, kinh tế-xã hội và nhu cầu sinh hoạt của nhân dân trong dịp Quốc khánh 2/9, Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT) đã triển khai đồng bộ các phương án vận hành, tăng cường kiểm tra, giám sát và bảo vệ an toàn hệ thống truyền tải điện.

Sở hữu trí tuệ đang trở thành một trong những nền tảng quan trọng của tăng trưởng kinh tế. (Ảnh: SONG ANH)

Từ bảo hộ quyền đến tạo giá trị cho công nghiệp văn hóa và sáng tạo

Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP, năm 2045 quy mô sản phẩm công nghiệp văn hóa số chiếm hơn 80%. Trong quá trình đó, quyền sở hữu trí tuệ cần được nhìn nhận như một bộ phận của hạ tầng thể chế, bảo đảm cho tài sản sáng tạo được định danh, bảo vệ, giao dịch và tạo ra dòng tiền.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Phan Sơn Mai Hồng Đăng tham quan mô hình của Hợp tác xã lúa Mẹ Phan Lâm. (Ảnh: Thanh Hải)

Sức sống mới trên miền cao nguyên

Nhiều xã miền núi tỉnh Lâm Đồng đang đẩy mạnh các chương trình hỗ trợ, tư vấn giúp đồng bào dân tộc thiểu số phát triển nông nghiệp phù hợp với thế mạnh của địa phương và nhu cầu thị trường. 

Người dân mua sắm hàng hóa tại một hộ kinh doanh nhỏ lẻ trên địa bàn Thành phố Hà Nội (Ảnh: THÀNH ĐẠT)

Tạo thuận lợi, giúp hộ kinh doanh tăng trưởng

Việt Nam hiện có hơn 6 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, tạo việc làm cho khoảng 10 triệu lao động, góp phần quan trọng vào thu ngân sách nhà nước và mạng lưới phân phối hàng hóa, dịch vụ. Thế nhưng thay vì mở rộng, hiện nay một số hộ kinh doanh lại chọn duy trì quy mô hoặc thu hẹp hoạt động.

Chủ tịch Ủy ban chứng khoán Nhà nước Việt Nam trao đổi với lãnh đạo S&P Dow Jones Indices.

Tăng cường hợp tác phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam

Trong khuôn khổ chương trình công tác ở Hoa Kỳ, tại New York, Chủ tịch Ủy ban chứng khoán Nhà nước Vũ Thị Chân Phương có buổi làm việc với lãnh đạo S&P Dow Jones Indices (S&P DJI), trao đổi về sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam, các giải pháp cải thiện khả năng tiếp cận thị trường của nhà đầu tư quốc tế.