Khơi dậy sức mạnh văn hóa:

Gợi ý về mô hình kinh tế di sản

Kinh tế di sản hiện diện rộng khắp trong tất cả các lĩnh vực của đời sống con người, được phát triển trên nền tảng giá trị bền vững đến từ quá khứ, hiện tại và tương lai. Thực tiễn đã cho thấy nhiều mô hình thành công trong việc kết hợp bảo tồn di sản với phát triển kinh tế.
Các nhà khoa học tham quan vị trí khảo cổ tại Hoàng thành Thăng Long. Ảnh: HOÀNG HOA
Các nhà khoa học tham quan vị trí khảo cổ tại Hoàng thành Thăng Long. Ảnh: HOÀNG HOA

Từ thế giới…

Kinh tế di sản có một chặng đường dài như chính sự phát triển của nhân loại. Trong lịch sử, Con đường Tơ lụa là một minh chứng rõ nét cho sức mạnh kinh tế của di sản. Những món hàng thông thường, khi đi qua con đường huyền thoại, đã được thổi hồn bởi những câu chuyện về các vương triều phương Đông xa xôi. Chính sự giao thoa văn hóa đã biến chúng thành những “di sản” có giá trị gấp hàng trăm lần chi phí sản xuất và vận chuyển, được giới quý tộc châu Âu săn lùng bất chấp giá cao.

Trước đó, thời đồ đá, những chiếc rìu đã là hiện thân của di sản - kết tinh tri thức và kỹ thuật lao động được truyền thừa - mang lại của cải vật chất trong công xã nguyên thủy. Vạn năm sau, những di sản này vẫn không ngừng tạo ra giá trị mới: Từ hiện vật bảo tàng đến đề tài nghiên cứu, từ nguồn cảm hứng sáng tạo đến dữ liệu cho trí tuệ nhân tạo.

Dù hoạt động kinh tế từ di sản đã tồn tại hàng thiên niên kỷ, việc nghiên cứu và định danh lại là câu chuyện của thời hiện đại. Vào thập niên 1960, khi xã hội ngày càng nhận thức rõ vai trò của văn hóa trong phát triển kinh tế, ngành Kinh tế Văn hóa (Cultural Economics) đã ra đời như một điều tất yếu. Các nhà kinh tế bắt đầu áp dụng công cụ phân tích kinh tế vào những lĩnh vực vốn được xem là phi thương mại: Từ đấu giá nghệ thuật đến bản quyền sáng tạo, từ hiện tượng ngôi sao đến kinh tế phúc lợi trong văn hóa. Sự ra đời của Hiệp hội Kinh tế văn hóa quốc tế (the Association for Cultural Economics International - ACEI) năm 1973, Tạp chí Kinh tế Văn hóa (Journal of Cultural Economics) năm 1977 hoạt động liên tục đến nay cùng nhiều đầu sách trong lĩnh vực này đã thể hiện nền tảng vững chắc cho việc nghiên cứu mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa.

Khi các đô thị và quốc gia ngày càng nhận ra tiềm năng to lớn của di sản trong phát triển bền vững, một nhánh mới của Kinh tế Văn hóa đã dần hình thành. Khái niệm Kinh tế di sản (Heritage Economics) được phát triển trong những năm 2010 đã mở rộng tầm nhìn từ việc nghiên cứu các hoạt động văn hóa-nghệ thuật đơn lẻ sang nghiên cứu tổng thể về vai trò của di sản trong phát triển. Năm 2012, Ngân hàng Thế giới (World Bank) xuất bản cuốn “The Economics of Uniqueness: Investing in Historic City Cores and Cultural Heritage Assets for Sustainable Development” (Kinh tế của Sự độc đáo: Đầu tư vào các Khu lõi đô thị lịch sử và Di sản văn hóa cho phát triển bền vững), tập hợp nghiên cứu từ nhiều học giả hàng đầu, trong đó có học giả người Australia David Throsby - người đã phát triển khung lý thuyết về “Kinh tế di sản” (Heritage Economics). Tầm quan trọng của công trình này đối với ngành Di sản đã được khẳng định khi được ICOMOS - Hội đồng Di tích và Di chỉ quốc tế - chính thức lưu trữ trong kho tài liệu mở của họ.

…đến Việt Nam

Ngược xuôi hành trình từ thực tiễn đến lý thuyết đang tiếp tục tiến triển không ngừng, đã trở thành một trong những câu chuyện thú vị nhất đang diễn ra: Có lẽ đây là một ngành kinh tế hiếm hoi mà Việt Nam gia nhập với tư cách khởi xướng xu hướng phát triển.

Trên thực tế, chúng tôi bắt đầu nghiên cứu lĩnh vực này từ những năm 2000 và khởi động khái niệm Kinh tế di sản tại Nghệ An từ năm 2013. Cuối năm 2017, UBND tỉnh Nghệ An ban hành Quyết định 6103/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch hệ thống di tích tỉnh Nghệ An đến năm 2030, tầm nhìn 2050, đánh dấu lần đầu tiên khái niệm này xuất hiện trong một văn bản chính thức của Việt Nam. Ngày 8/5/2019, Hội thảo Khoa học “Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển kinh tế di sản tỉnh Nghệ An” do UBND tỉnh Nghệ An tổ chức, mời nhiều nhà khoa học, nhà quản lý đến hiến kế, trong đó có chủ đề “Kinh tế di sản - Một động lực tăng trưởng mới”. Tiếc rằng, Nghệ An là nơi chấp nhận tư duy khởi xướng nhưng chưa có đủ điều kiện hiện thực hóa những ý tưởng này.

Ở bình diện quốc gia, dù vấp phải những phản ứng dè dặt ban đầu, thậm chí là đề nghị “bỏ khái niệm kinh tế di sản” từ phía Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong Văn bản số 4271/BVHTTDL-DSVH ngày 6/10/2023 góp ý Nhiệm vụ lập Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Danh lam thắng cảnh Vịnh Hạ Long giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, nhưng dường như “con thuyền” Kinh tế di sản đã đủ vững vàng tiến về phía trước.

Thí dụ thành công ở nước ngoài

Kinh tế di sản là một hình thái kinh tế phát triển dựa trên nền tảng giá trị bền vững, với đặc tính cốt lõi là sự truyền thừa và không ngừng sáng tạo giá trị mới. Trong kỷ nguyên số, AI nổi lên như một công cụ mạnh mẽ để khai thác tiềm năng này. Với khả năng kế thừa nền tảng dữ liệu và tính chất cá thể hóa, AI đang trở thành tác nhân quan trọng làm tăng giá trị di sản từ quá khứ đến tương lai.

Kỷ nguyên số đang viết lại định nghĩa về di sản. Những gì được coi là “đồng nát số” - dữ liệu cũ, thông tin tưởng chừng vô giá trị - đang trở thành nguồn tài nguyên quý giá cho tương lai. Google Books số hóa hàng triệu cuốn sách cũ, OpenAI biến dữ liệu internet thành nền tảng cho ChatGPT, cho thấy trong thời đại của Big Data và AI, mọi dấu vết kỹ thuật số đều có tiềm năng trở thành di sản.

“Di sản trí tuệ cá nhân” cũng đang được định hình lại. MrBeast xây dựng “đế chế” YouTube trị giá hơn 1 tỷ USD không chỉ từ nội dung giải trí, mà từ cả một di sản số về cách kể chuyện trong thời đại mới. Coursera biến những bài giảng đại học - vốn chỉ tồn tại trong không gian lớp học - thành tài sản tri thức có thể tiếp cận toàn cầu. Meta đầu tư 10 tỷ USD vào metaverse và thị trường NFT đạt 40 tỷ USD, báo hiệu một kỷ nguyên nơi di sản không còn bị giới hạn bởi tồn tại vật lý.

Nếu không gian số cho phép chúng ta tái định nghĩa di sản, thì bảo tàng Louvre Abu Dhabi là một minh chứng xuất sắc cho nghệ thuật “mượn” di sản văn hóa - một mô hình đôi bên cùng có lợi. Pháp chứng minh rằng, có thể khai thác giá trị thương mại từ di sản mà không làm tổn hại đến di sản gốc: Chỉ việc cho phép sử dụng tên “Louvre” trong 30 năm đã mang về 525 triệu USD, trong tổng thỏa thuận 1,3 tỷ USD. Với UAE, khoản đầu tư này nhanh chóng sinh lời khi bảo tàng do “Starchitect” Jean Nouvel thiết kế thu hút hơn 2 triệu lượt khách ngay năm đầu tiên, biến Abu Dhabi thành trung tâm văn hóa mới của Trung Đông.

Kinh nghiệm cũng cho thấy, chìa khóa thành công nằm ở hành động thực tiễn và nhấn mạnh sáng kiến cộng đồng, cùng tham gia, gắn với trách nhiệm và quyền lợi. Cụ thể: (1) Tạo ra các tác nhân làm biến đổi vùng; (2) Cộng đồng cùng tham gia; (3) Thuyết phục các cấp chính quyền ủng hộ; (4) Triển khai dự án với sự hỗ trợ của các chuyên gia; (5) Mỗi di sản “một” quần cư, mỗi quần cư “một” sản phẩm; (6) Tích hợp chức năng, tích hợp giá trị; (7) Mỗi di sản “một” phong cách, mỗi sản phẩm “một” chuyên gia; (8) Chương trình hoạt động phải liên tục như dòng chảy; (9) Giá trị gia tăng đến từ môi trường, thẩm mỹ; (10) Thay đổi và thích ứng không ngừng (tùy duyên và bất biến); (11) Xã hội quyết định thành công; (12) Đầu tiên là văn hóa và cuối cùng là con người.

Công nghệ làm tăng giá trị di sản bằng du lịch văn hóa: Làm biết cho đến; Làm cho đến; Làm cho tiêu thụ; Làm tăng giá trị (sản phẩm); Làm cho quay lại (cùng những người khác); và Mở rộng thị trường (phát triển thương hiệu).

Kinh tế di sản phát triển dựa trên năng lực nhận diện giá trị, hấp lực truyền thừa, chuyển hóa và làm tăng giá trị. Những kinh nghiệm thực tiễn cho thấy triển vọng phát triển Kinh tế di sản gắn với AI là không có giới hạn. Chúng tôi khẳng định rằng: Kinh tế di sản cùng với AI sẽ là tiền đề cho Việt Nam bước vào con đường “sánh vai với các cường quốc năm châu”. AI và Kinh tế di sản là một cặp đối ngẫu tạo sinh, liên kết Khoa học, Công nghệ, Chính trị, Kinh tế, Văn hóa, Lịch sử, là nghệ thuật biến giấc mơ thành hiện thực.

Một địa điểm di sản cần phát triển đồng bộ ít nhất 10 nguồn thu: (1) Vé tham quan, (2) Quản lý thương hiệu, (3) Đồ lưu niệm, (4) Dịch vụ bảo tàng, (5) Các sự kiện và hoạt động biểu diễn, (6) Công ăn việc làm từ bảo tồn bảo trì, (7) Đầu tư xây dựng mới, (8) Thu nhập từ duy trì cảnh quan, (9) Dịch vụ du lịch phụ trợ và (10) Nghiên cứu khoa học.

Có thể bạn quan tâm

Thế hệ trẻ tham gia sản xuất phim hoạt hình.

Cơ hội nào để hoạt hình Việt Nam vươn tầm quốc tế?

Trong bức tranh sôi động của công nghiệp sáng tạo toàn cầu, lĩnh vực hoạt hình đang ngày càng khẳng định vị thế về giá trị kinh tế, văn hóa và sức ảnh hưởng sâu rộng. Với hoạt hình Việt Nam, những chuyển động tích cực trong thời gian gần đây mang lại tín hiệu khả quan và cơ hội phát triển. Tuy nhiên, để thúc đẩy tiềm năng trở thành lợi thế văn hóa, năng lực cạnh tranh và từng bước xây dựng ngành công nghiệp hoạt hình đúng nghĩa, cần nhận diện, tháo gỡ nhiều điểm nghẽn.

Cảnh phim “Trạng Quỳnh thời nhí nhố”.

Chuyên nghiệp hơn mới có thể bứt phá

Bên cạnh câu chuyện phát triển ý tưởng và xây dựng những dự án nguyên bản, một điểm nghẽn khác của hoạt hình Việt Nam nằm ở mức độ chuyên nghiệp và khả năng vận hành của toàn ngành. Đây cũng là vấn đề được nhiều chuyên gia quốc tế nhắc đến khi đánh giá triển vọng phát triển của các nền hoạt hình mới nổi.

Phim hoạt hình của nhiều nước Đông Nam Á được giới thiệu sinh động tại Liên hoan phim Annecy, Pháp.

Từ Annecy đến hướng đi mở cho hoạt hình Việt

Bên cạnh câu chuyện về tác phẩm xuất sắc, giải thưởng danh giá, hoạt động giao lưu chia sẻ…, bài học về khả năng liên tục tạo ra những ý tưởng, cơ hội mới là hướng đi mà hoạt hình Việt Nam cần bắt nhịp trong hành trình hội nhập quốc tế. Điều này có thể nhận ra qua Liên hoan phim hoạt hình quốc tế Annecy (Pháp). Năm nay, sự kiện quy tụ hơn 19 nghìn nhà làm phim, nhà sản xuất, nhà đầu tư, trường đào tạo và doanh nghiệp sáng tạo từ 120 quốc gia.

Khán giả khắp nơi trên thế giới đổ về cùng thưởng thức các tác phẩm mới ở Annecy, Pháp.

Mặc áo bản sắc để bước ra thế giới

Khi nhắc đến hoạt hình Việt Nam, yếu tố khiến nhiều đối tác quốc tế quan tâm chính là bản sắc văn hóa. Giữa hàng nghìn dự án từ khắp thế giới, lợi thế cạnh tranh không còn dừng lại ở khả năng sản xuất, làm chủ công nghệ, mà là nhận diện về bản sắc giữa bản đồ hoạt hình toàn cầu. Với kho tàng lịch sử, truyền thuyết, văn học dân gian, đời sống đương đại giàu sắc màu, Việt Nam đang sở hữu nguồn chất liệu sáng tạo dồi dào để hình thành những tác phẩm mang dấu ấn riêng. Điều quan trọng làm thế nào để chuyển hóa những giá trị văn hóa ấy thành các tác phẩm có sức sống nghệ thuật và thuyết phục được khán giả toàn cầu.

Mưu sinh trên sông. Ảnh: SONG ANH

Người cửa sông

“Mới đó mà đã hơn 17 năm rồi...”, anh Lê Văn Thức mở đầu câu chuyện bằng một tiếng thở dài, nhưng ánh mắt lại lấp lánh sự bình yên của một người đã đi qua giông bão.

Bên trong phong cảnh

Bên trong phong cảnh

Sóng Mây Gallery.S, Hà Nội đang giới thiệu 100 đơn vị tác phẩm tranh chì và điêu khắc gỗ kích thước trung bình và nhỏ của nghệ sĩ điêu khắc nổi tiếng người Nhật Mukai Katsumi (sinh năm 1946).

Miền hoài niệm Nguyễn Chu Nhạc

Miền hoài niệm Nguyễn Chu Nhạc

Nguyễn Chu Nhạc là giọng thơ bền bỉ, lặng lẽ mà ám ảnh. Sinh năm 1957 tại Hà Nội, nguyên quán Hưng Yên, ông đã đi qua nhiều thăng trầm của đời sống để chưng cất thành thơ một chất giọng trầm tĩnh, hoài niệm và giàu suy tưởng. Tập thơ “Giờ thương lại những ngày xưa”, NXB Hội Nhà văn ấn hành, tiếp tục cho thấy một Nguyễn Chu Nhạc nhất quán trong cảm thức thời gian, đồng thời mở ra những rung động tinh tế về ký ức và thân phận.

Mùa truyện, mùa văn hóa

Mùa truyện, mùa văn hóa

Cuộc thi Sáng tác truyện tranh lần thứ ba tại Việt Nam do NXB Kim Đồng; Viện Pháp tại Việt Nam và Phái đoàn Wallonie-Bruxelles tại Việt Nam phối hợp tổ chức đã phát động từ 4/4 và sẽ hết hạn nhận tác phẩm dự thi vào ngày 31/10.

Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết.

Việt Nam tích cực phát triển văn hóa toàn cầu

Từ ngày 27/9 đến 1/10, khoảng 250 đại biểu, chuyên gia trong nước và quốc tế có mặt tại Hà Nội và Ninh Bình để dự Hội nghị Đối thoại châu Á - Thái Bình Dương về Di sản và Tính xác thực. Sự kiện diễn ra chưa đầy một tháng sau khi Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết về “Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững” (Thập kỷ), sáng kiến do Việt Nam khởi xướng.

Vui đọc phê bình

Vui đọc phê bình

Đọc “Người thơ trong cõi thơ” (chân dung và thơ chọn, NXB Văn học) của PGS, TS, nhà văn Ngô Văn Giá, thấy trân quý tình yêu thơ, yêu người thơ khi trông lại, dõi theo hành trình thơ của 30 nhà thơ thuộc nhiều thế hệ, cả tên tuổi lớn cho đến tác giả khẳng định vững vàng và gương mặt mới nhiều kỳ vọng. Và như thế, càng hiểu rằng với riêng nhà phê bình đã là sự chọn lọc chứ không ôm đồm như chính ông có lúc ngầm so sánh nhân vật của mình với số đông.

Ông Nguyễn Phước bên nhà lưu trữ xương cá voi ở Vạn An Thạnh.

Sống cùng Phú Quý qua chuyện của các ông từ

Giữa biển mênh mông, đảo Phú Quý (tỉnh Lâm Đồng) nổi lên như chấm nhỏ nhấp nhô trên sóng nước. Đây là một trong những hòn đảo có mật độ di tích văn hóa lịch sử tâm linh dày đặc bậc nhất nước ta.

Bức tranh nhan đề "Tuổi 14" của Đỗ Trà My, một trong bốn sinh viên được nhận Học bổng Nguyễn Phan Chánh năm 2026.

Lời nhắn gửi thế hệ tương lai

Lần đầu tiên, Giải thưởng mang tên danh họa Nguyễn Phan Chánh dành cho tác phẩm xuất sắc của sinh viên chuyên ngành lụa, Trường đại học Mỹ thuật Việt Nam, đã tìm được chủ nhân.

Đưa sức sống mới vào giá trị cổ xưa

Đưa sức sống mới vào giá trị cổ xưa

Ngày thứ Bảy vừa qua (19/9), Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam tổ chức sớm ngày Giỗ tổ ngành Sân khấu dân tộc tại Hà Nội. Đó là ngày 12/8 Âm lịch (22/9 tới). Ngày này được coi là ngày mất của Huyền nữ Phạm Thị Trân (926-976), vị tổ của diễn xướng hát múa cung đình, được Vua Đinh Tiên Hoàng phong tặng chức “Ưu Bà”…

Một tác phẩm về sen, chất liệu tổng hợp được bày trong triển lãm.

Thiên nhiên cầu nguyện không lời

Từ ngày 19 đến 28/9, TAA Gallery (phường Cát Lái, TP Hồ Chí Minh) giới thiệu bộ sưu tập hội họa Lê Bá Đảng (1921-2015) của nhà sưu tập Trần Thắng, gồm loạt 17 bức tranh nhan đề “Thiên nhiên cầu nguyện không lời” (La Nature Prie Sans Parole), sáng tác trong năm 1967, bên cạnh 43 bức tranh biểu hình về hoa, đặc biệt là hoa sen, và các phong cảnh thiên nhiên khác.

Người dân xem và góp ý với phương án điều chỉnh quy hoạch tại Trụ sở UBND phường Hoàn Kiếm, 126 phố Hàng Trống. Ảnh: HOÀNG HOA

Đừng để phải sửa chữa trong tương lai

Hà Nội đang lấy ý kiến cộng đồng về phương án điều chỉnh quy hoạch khu vực Hồ Gươm (Hoàn Kiếm) và vùng phụ cận. Những nội dung chính được công luận quan tâm là mở rộng không gian kết nối quanh hồ tại khu vực phía bắc và phía đông; mở rộng quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục và nghiên cứu bố trí công trình biểu tượng. Theo công bố để lấy ý kiến, một số công trình sẽ được di dời, một số sẽ được tháo dỡ, một số công trình khác sẽ được tái dựng.

Họa sĩ Đào Hải Phong bên cạnh cháu Linh Chi (5 tuổi) với tác phẩm vui của cháu, cắt ảnh của họa sĩ dán vào tranh để tô vẽ.

Mỹ thuật Thủ đô rộn ràng đón thu

Suốt nửa đầu tháng 9, trước rằm Trung thu (vào 25/9 dương lịch), tại Thủ đô vừa diễn ra một số hoạt động mỹ thuật rất ấn tượng. Các tác phẩm tạo ấn tượng trực tiếp và còn khiến người xem “quay đi trở lại” trong những ngày diễn ra.

Các không gian đọc sách nhỏ đang phát huy tác dụng trong đời sống cộng đồng.

Góc đọc nhỏ gieo mầm cho xã hội tương lai

Giữa lúc màn hình điện thoại, máy tính bảng ngày càng chiếm thời gian của trẻ, những không gian đọc sách do cộng đồng và các gia đình gây dựng đang trở thành nơi gieo những hạt mầm cho tình yêu với sách.

Ảnh: SONG ANH

Chiếc hộp nhỏ cuối hành lang

Một chiều đầu thu, Minh trở lại Trường tiểu học Đông Ngạc sau gần 20 năm. Cổng trường vẫn ở đó, chỉ có Minh là đã khác. Cậu ngoại 30, có một gia đình nhỏ và những đứa con đang ở đúng cái tuổi ngày trước cậu từng ngồi trong những phòng học này. Đứng trước cổng trường, ký ức tưởng đã ngủ yên bỗng trở về: Tiếng trống, mùi nắng trên sân, những chiếc áo trắng tung tăng giờ ra chơi và một người phụ nữ thường xuất hiện ở cuối hành lang, tay cầm chiếc chổi, mái tóc điểm bạc.

Hai điểm nhìn về một di sản đang được viết tiếp

Hai điểm nhìn về một di sản đang được viết tiếp

Diễn ra từ ngày 18 đến 20/9 tại London (Anh), sự kiện Áo Dài Fashion Week London quy tụ chín nhà thiết kế và thương hiệu đến từ Việt Nam, Anh và Mỹ. Nhà thiết kế (NTK) Tăng Mai Anh mang đến bộ sưu tập Tứ Linh Tố Nữ, lấy cảm hứng từ tranh dân gian Hàng Trống. Thái Nguyễn - nhà thiết kế người Mỹ gốc Việt đã có hơn hai thập kỷ hoạt động trong ngành thời trang tại Mỹ - giới thiệu IDENTITY, gồm 33 thiết kế kể những câu chuyện về cộng đồng người Việt ở nước ngoài.