Giải bài toán nhân lực nghiên cứu khoa học

Nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nhân lực khoa học, công nghệ đóng vai trò quyết định trong quá trình chuyển dịch nền kinh tế từ thâm dụng nhân công, thâm dụng vốn tới thâm dụng tri thức và công nghệ.
Nhiều viện nghiên cứu đang thiếu hụt nguồn nhân lực kế cận tài năng. Ảnh: VŨ SINH
Nhiều viện nghiên cứu đang thiếu hụt nguồn nhân lực kế cận tài năng. Ảnh: VŨ SINH

Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển, trọng dụng nhân lực chất lượng cao, nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Thiếu hụt số lượng

Tìm hiểu tại một số viện nghiên cứu đầu ngành, được biết tình trạng chung hiện nay là nguồn nhân lực nghiên cứu đang thiếu hụt số lượng, hụt hẫng giữa các thế hệ, đồng thời việc thu hút nhân lực chất lượng cao rất khó khăn. Nguyên nhân của tình trạng này là do chính sách tinh giản biên chế, chính sách đãi ngộ, điều kiện làm việc của chuyên gia trong thời gian qua chưa tính đến đặc thù của ngành khoa học, công nghệ.

Chia sẻ về thực trạng nêu trên, GS Chu Hoàng Hà, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho biết, dường như các tổ chức khoa học, công nghệ công lập chưa có sự khác biệt so với một đơn vị hành chính khi không có cơ chế đặc thù trong chính sách tinh giản biên chế. Trong 10 năm vừa qua, 20% nhân lực đã bị cắt giảm và Viện hiện chỉ có hơn 2.000 biên chế cho tất cả các viện đầu ngành quốc gia là quá ít.

Thời gian qua, tình trạng nhà khoa học chuyển ra ngoài làm theo các chuyên môn khác để có mức lương hấp dẫn hơn cũng khá phổ biến. Kinh phí chi trả lương được Nhà nước cấp hằng năm theo định mức quy định là lý do của tình trạng chảy máu chất xám này.

Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt ra mục tiêu đến năm 2030, nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo đạt 12 người trên một vạn dân; có từ 40-50 tổ chức khoa học công nghệ được xếp hạng khu vực và thế giới.

Thêm vào đó, chính sách tinh giản cũng khiến các cán bộ trẻ chất lượng cao không thể đợi chờ việc làm ổn định và Viện cũng khó có thể tuyển dụng được người trẻ tài năng.

Được biết, một sinh viên tốt nghiệp đại học mất khoảng 5-6 năm tiếp theo để học thạc sĩ, tiến sĩ rồi mới có thể tiến hành nghiên cứu độc lập. Để có nguồn nhân lực kế cận chất lượng, các viện nghiên cứu trên thế giới thường tuyển hợp đồng đối với nhân lực trẻ tài năng để đào tạo theo quy trình như thế. Song, các viện nghiên cứu trong nước dù muốn theo mô hình này cũng không thể thực hiện được do không có nguồn để chi trả lương các cán bộ hợp đồng.

Đối với Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, theo PGS, TS Nguyễn Huy Hoàng, Học viện Khoa học xã hội, đội ngũ các nhà khoa học, chuyên gia của Viện cũng có xu hướng ngày càng giảm. Đặc biệt, là tình trạng thiếu các chuyên gia đầu ngành có khả năng định hướng, dẫn dắt các hoạt động nghiên cứu lớn, mới, phức tạp về khoa học. Tình trạng thiếu hụt về thế hệ viên chức, cả viên chức quản lý khoa học và cán bộ quản lý cũng bộc lộ ngày càng rõ rệt. Một số ngành đào tạo quan trọng có tính chất đặc thù đang có nguy cơ bị mai một dần do thiếu các chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành như Khảo cổ học, Hán Nôm, Tôn giáo học, Dân tộc học, Văn hóa học.

Nâng cấp, nâng tầm nghiên cứu

Để đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 57-NQ/TW đề cập việc đầu tư nâng cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cùng các cơ sở nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo trọng điểm quốc gia. Tại Nghị quyết số 03/NQ-CP của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW đã giao hai Viện Hàn lâm phối hợp các bộ liên quan xây dựng đề án triển khai chủ trương đầu tư nâng cấp này.

Theo GS Chu Hoàng Hà, để đáp ứng các mục tiêu đề ra trong Nghị quyết số 57-NQ/TW, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam kiến nghị Đảng, Nhà nước cần tạo điều kiện hơn nữa cho Viện trong việc nâng cao nguồn nhân lực chất lượng cao. Theo đó, cần hạn chế số lượng, tinh giản biên chế, tinh giản đầu mối để không làm thâm hụt số lượng cán bộ có trình độ cao; xây dựng chính sách, quy định nhằm nâng cao dần về quyền lợi và nghĩa vụ của cán bộ lao động hợp đồng giống như cán bộ biên chế, từ đó thu hút được các nhà khoa học trẻ có trình độ cao. Thêm nữa, cần nghiên cứu xây dựng chính sách đãi ngộ đối với các nhà khoa học có chất lượng cao để họ có thể cống hiến trọn đời cho khoa học mà không làm ảnh hưởng hoạt động của đội ngũ kế cận. Ngoài ra, xây dựng các chủ trương, chính sách nhằm bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao phát triển thành nguồn nhân lực xuất sắc, nguồn nhân lực chủ chốt.

Trong giai đoạn tới, cần có chính sách thu hút các sinh viên theo học các chuyên ngành, lĩnh vực khoa học cơ bản; các nhà khoa học giỏi, xuất sắc trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài về hợp tác nghiên cứu trong nước để tận dụng nguồn nhân lực chất lượng cao hoạt động nghiên cứu khoa học, sáng tạo, theo kịp xu thế quốc gia; tạo lập các môi trường nghiên cứu, phòng thí nghiệm hiện đại, tiên tiến tại Việt Nam để thu hút nguồn lực tri thức đến làm việc.

PGS, TS Nguyễn Huy Hoàng chia sẻ quan điểm, để Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam có được những thành tích khoa học ngang tầm các cơ sở khoa học của các nước trong khu vực và thế giới, cần có cơ chế đặc thù phát triển đội ngũ trí thức về số lượng và chất lượng, nhất là đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành trong lĩnh vực then chốt, trọng yếu, lĩnh vực mới, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển nhân lực khoa học xã hội với cơ cấu hợp lý, đồng bộ, có sự tiếp nối giữa các thế hệ khoa học, chú trọng xây dựng đội ngũ chuyên gia, nhất là chuyên gia đầu ngành, có trình độ cao, có năng lực nghiên cứu, đào tạo và giải đáp những vấn đề bức xúc của thực tiễn phát triển đất nước.

Có thể bạn quan tâm

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.

Khách du lịch tham gia các hoạt động trải nghiệm trong tour Về làng học thêu tay. Ảnh: DÃ LIÊN

Tạo sức hút và năng lực cạnh tranh mới

Mô hình trải nghiệm làng nghề ở Hà Nội đã có từ lâu, như ở làng gốm Bát Tràng, song phần lớn đều dừng ở mức đơn giản, nặng tính “cưỡi ngựa xem hoa”, hoặc như một gia vị cho hoạt động tham quan. Thời gian gần đây, nhiều làng nghề đã đổi mới cách làm, từ đó tạo nên sức hút và năng lực cạnh tranh mới.

Trước mắt anh Phương Nam, Côn Đảo mở ra biết bao nhịp sống xanh, nguyên sơ, trong trẻo. Ảnh: MINH LÊ

Những “điểm chạm” nguyên sơ, trong trẻo

Côn Đảo lâu nay thường được nhắc đến như một vùng đất chứa đựng ký ức lịch sử bi tráng của dân tộc, với hệ thống nhà tù của thực dân và đế quốc cùng những trang sử đấu tranh của các chiến sĩ cách mạng. Nhưng đối với nhiều du khách, sau những “điểm chạm” vào thiên nhiên ở nơi này, Côn Đảo còn là biết bao nhịp xanh, nguyên sơ, trong trẻo.

Bên cạnh gia đình luôn là khoảng thời gian chất lượng để vun trồng một thế hệ hạnh phúc. Ảnh: UNICEF Việt Nam

Hôm nay, tôi đã lắng nghe con mình chưa?

Trong nhiều cuộc tiếp xúc với phụ huynh, rất nhiều cha mẹ chia sẻ với tôi một nguyện vọng rất thật: “Mong con được hạnh phúc”. Song, khi được hỏi: “Hạnh phúc là gì?”, nhiều người lại ngập ngừng.

Bà Nguyễn Phạm Duy Trang.

An toàn là nền móng của hạnh phúc!

Mùa hè không chỉ là khoảng thời gian nghỉ ngơi, vui chơi của trẻ em, mà còn là thời điểm đặt ra nhiều nỗi lo về an toàn, sức khỏe tinh thần và môi trường phát triển của các em trong bối cảnh xã hội hiện đại.

Ước mơ trở thành phi hành gia của bạn Nguyễn Lê Hà Vy, lớp 5B, Trường tiểu học Phúc Tân.

Ðiều chúng em mong muốn!

Trong guồng quay hối hả của cuộc sống hiện đại, nhiều khi những mong mỏi của trẻ em chưa được lắng nghe, chưa được thấu cảm trọn vẹn. Cần lắm những diễn đàn, những kênh kết nối để trẻ em được cất tiếng nói.

Ảnh sử dụng đồ hoạ AI.

Agentic AI - Cơ hội không chia đều cho tất cả

Năm 2026, Agentic AI nổi lên như hiện tượng công nghệ định hình lại cách thế giới làm việc. Bài toán đặt ra cho Việt Nam không còn là "có nên ứng dụng", mà phải "làm thế nào để bắt kịp và làm chủ" trong bối cảnh công nghệ đang tái định nghĩa năng suất, lao động và lợi thế cạnh tranh.