Du lịch chữa lành và cơ hội phát triển

Trước guồng quay hối hả với nhiều áp lực của cuộc sống hiện đại, con người ngày càng có nhu cầu được trải nghiệm những chuyến đi giúp lấy lại sự cân bằng về tinh thần và thể chất.
Du khách trải nghiệm vẽ cát tại Cà phê S-Happy
Du khách trải nghiệm vẽ cát tại Cà phê S-Happy

Đặc biệt, từ sau những biến động lớn của đại dịch Covid-19, nhu cầu này càng gia tăng. Đó là lý do thời gian gần đây, du lịch chữa lành được đề cập khá thường xuyên và đang trở thành xu thế được nhiều du khách lựa chọn.

Vì còn khá mới mẻ cho nên đến nay, vẫn chưa có định nghĩa thật rõ ràng và thống nhất về du lịch chữa lành. Song về cơ bản, có thể hiểu du lịch chữa lành là loại hình du lịch thường được tích hợp trong mô hình nghỉ dưỡng sinh thái kết hợp chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe, với các hoạt động như: thiền, yoga, trị liệu tâm lý, chẩn trị y học cổ truyền, thưởng thức ẩm thực thực dưỡng...

Thay vì vi vu khắp các cung đường đẹp, trải nghiệm nhiều trò chơi thú vị ở công viên giải trí..., du lịch chữa lành hướng đến các dịch vụ mang tính an tĩnh hơn để làm mới cảm xúc, thư giãn tâm hồn, hướng đến những giá trị sống tích cực hơn.

Toàn cảnh tọa đàm về du lịch chữa lành do STDe tổ chức.
Toàn cảnh tọa đàm về du lịch chữa lành do STDe tổ chức.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Thu Hạnh, Chủ tịch Liên hiệp Khoa học phát triển du lịch bền vững (STDe), điểm dừng chân của du lịch chữa lành thường là những không gian sở hữu nền tảng thiên nhiên nguyên sơ, hệ sinh thái thực vật phong phú có khả năng mang đến cho du khách sự kết nối thuần khiết với thiên nhiên.

Tại đây, du khách được xông, tắm, ngâm chân thảo dược, bắt mạch khám bệnh, được gặp gỡ các chuyên gia tâm lý, chuyên gia tư vấn để giải tỏa những căng thẳng, tìm kiếm sự phục hồi sức khỏe tâm-thân.

Các chuyên gia cho rằng hiện có nhiều điểm tương đồng về mặt nội hàm giữa du lịch chữa lành và một số hình thức du lịch khác như du lịch chăm sóc sức khỏe, du lịch dưỡng sinh, du lịch tâm linh..., nhưng du lịch chữa lành sẽ thiên nhiều hơn về mục tiêu chăm sóc cảm xúc, xoa dịu tâm hồn, mang đến nguồn năng lượng tích cực cho du khách.

Đối tượng của du lịch chữa lành vì thế cũng tương đối rộng lớn, bên cạnh những người đang chịu tổn thương về tâm lý, rơi vào trầm cảm sau những biến cố của cuộc đời có nhu cầu được hàn gắn nỗi đau, còn là những người muốn khám phá thế giới tâm hồn bên trong, muốn được chăm sóc, nuôi dưỡng sức khỏe tinh thần của chính mình.

Theo Báo cáo của Viện Nghiên cứu sức khỏe toàn cầu (Global Wellness Institute), đến hết năm 2022, doanh thu của mảng du lịch chữa lành ước đạt 919 tỷ USD, chiếm 18% tỷ trọng ngành du lịch thế giới.

Khảo sát của Tổ chức Du lịch sức khỏe thế giới (Wellness Tourism Association) năm 2022 cũng cho thấy, có tới 76% số người được hỏi muốn chi tiêu nhiều hơn cho các chuyến du lịch để cải thiện sức khỏe, 55% cho hay sẵn sàng trả thêm cho các dịch vụ, hoạt động trị liệu về tâm lý. Những con số này đủ khẳng định sức hút cũng như tiềm năng phát triển dồi dào của thị trường du lịch chữa lành.

Theo Báo cáo của Viện Nghiên cứu sức khỏe toàn cầu (Global Wellness Institute), đến hết năm 2022, doanh thu của mảng du lịch chữa lành ước đạt 919 tỷ USD, chiếm 18% tỷ trọng ngành du lịch thế giới.

Tại nhiều quốc gia trên thế giới, loại hình này đã được chú trọng phát triển với sự ra đời của nhiều mô hình sáng tạo, như các tour du lịch kết hợp thiền định, yoga tại Ấn Độ; tour thiền định giữa rừng ở đảo Jeju, Hàn Quốc; các chuyến đi với liệu pháp chữa lành bằng âm nhạc, hội họa, chăm sóc động vật... ở một số nước phương Tây; hay tại Thái Lan, còn có cả những tour trị liệu chuyên đề dành riêng cho người nghiện game, nghiện việc...

Sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có, đa dạng gồm nhiều bãi biển, rừng nguyên sinh, điểm khoáng nóng, bùn nóng trải dài, cùng với đó là số lượng chùa, thiền viện đồ sộ, nền y học cổ truyền nổi tiếng...; Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển du lịch chữa lành.

Trao đổi tại tọa đàm “Du lịch chữa lành - Tiềm năng, cơ hội và giải pháp” do STDe vừa tổ chức, Tiến sĩ Vũ Tiến Lộc, Ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội nhận định: Trong bối cảnh hiện nay, ngành du lịch nước ta cần quan tâm nhiều hơn đến chất lượng khách du lịch chứ không phải số lượng khách du lịch. Và phát triển du lịch chữa lành chính là hướng đi giúp thu hút du khách chất lượng cao, hướng đến sự phát triển bền vững, góp phần khắc phục tính mùa vụ của du lịch.

Nắm bắt xu hướng này, gần đây, một số hãng lữ hành, điểm đến, doanh nghiệp du lịch đã xây dựng các sản phẩm du lịch chữa lành nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách.

Tiêu biểu như tour chữa lành ở Khu du lịch Medi Thiên Sơn (Ba Vì, Hà Nội) với các hoạt động: thiền, yoga, tư vấn tâm lý, bấm huyệt, ẩm thực thực dưỡng...; Hành trình trải nghiệm lối sống tỉnh thức do Trung Nguyên Legend tổ chức tại Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) gồm các trải nghiệm bắn cung, cưỡi ngựa, tập yoga, ẩm thực theo chủ đề “Ăn tỉnh thức”...; hay mô hình cà-phê du lịch chữa lành của Cà-phê S-Happy (Hà Nội) với dịch vụ du lịch trải nghiệm “Tự tìm hạnh phúc”, chia sẻ cách sống để được hạnh phúc, đưa du khách tham gia các hoạt động du lịch để khám phá thiên nhiên, tìm thấy niềm vui, hòa mình cùng những trải nghiệm độc đáo như vẽ cát, hát cát, múa cát, thiền cát...

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, du lịch chữa lành ở Việt Nam mới ở giai đoạn khởi đầu nên chưa thật sự đa dạng và chuyên nghiệp. Cùng với một số ít sản phẩm định hình tương đối rõ về yếu tố chữa lành, thì phần lớn các sản phẩm mới chỉ quan tâm đến việc nâng cao sức khỏe về phần thân như massage, xông hơi, ngâm chân... mà chưa chuyên sâu về các hoạt động chăm sóc phần tâm.

Bàn về những khó khăn, thách thức mà du lịch chữa lành ở Việt Nam phải đối mặt, Tiến sĩ Nguyễn Thu Hạnh cho hay: Do nhận thức về tầm quan trọng của du lịch chữa lành còn hạn chế cho nên loại hình này chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, chưa có chiến lược phát triển ở tầm quốc gia.

Bên cạnh đó, nguồn nhân lực phục vụ du lịch chữa lành cũng còn thiếu về số lượng và chưa bảo đảm về chất lượng do thiếu liên kết với các chuyên gia y tế, chuyên gia trị liệu tinh thần.

Đứng ở góc độ khoa học luận, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Thanh Thủy, Trưởng khoa Du lịch Trường đại học Văn hóa Hà Nội nêu ý kiến: cần thiết phải có sự phân định rõ ràng, tường minh về khái niệm “du lịch chữa lành” để phân biệt với các loại hình du lịch có nét tương đồng khác. Bởi đây là cơ sở khoa học để xác định sản phẩm, môi trường, đối tượng phục vụ của du lịch chữa lành, từ đó có định hướng phát triển phù hợp.

Nguồn nhân lực phục vụ du lịch chữa lành cũng còn thiếu về số lượng và chưa bảo đảm về chất lượng do thiếu liên kết với các chuyên gia y tế, chuyên gia trị liệu tinh thần.

Đồng quan điểm, Giám đốc Công ty du lịch Khát vọng Việt Nguyễn Bá Toàn cho rằng: Hiện nay, có rất nhiều phương pháp chữa lành được các đơn vị đưa ra, mỗi nơi lại áp dụng những phương pháp khác nhau và hiệu quả cụ thể cũng chưa được kiểm chứng hoàn toàn.

Vì thế, để thúc đẩy sự phát triển của loại hình du lịch rất giàu tiềm năng này, các cơ quan quản lý về du lịch cần có nghiên cứu chi tiết về đặc điểm loại hình và thị trường của du lịch chữa lành, đưa ra những hướng dẫn cụ thể, thiết kế những tour chữa lành mang tính chuẩn mực, công bố các tiêu chí cần đáp ứng của đội ngũ chuyên gia chữa lành... làm căn cứ để các công ty, điểm đến xây dựng và mở rộng phát triển sản phẩm.

Có thể bạn quan tâm

Gian hàng Việt Nam tại Triển lãm Du lịch Trung Quốc-ASEAN lần thứ 23 diễn ra từ ngày 19-21/9 vừa qua ở Quế Lâm, Quảng Tây, Trung Quốc. (Ảnh: TITC)

Mở ra chương mới trong hợp tác du lịch Việt Nam-Trung Quốc

Năm hợp tác du lịch Việt Nam-Trung Quốc 2026-2027 đã mở ra một giai đoạn mới với nhiều cơ hội lớn. Song song với việc mở rộng tour, tuyến, phát triển sản phẩm mới, Việt Nam mong muốn tăng cường kết nối hàng không, đường bộ và đường sắt. Từ đó, đẩy mạnh giao lưu văn hóa, tăng cường trao đổi khách hai chiều.

Du khách tham quan Di tích quốc gia đặc biệt Văn Miếu-Quốc Tử Giám (Hà Nội). (Ảnh: TRẦN HẢI)

Cơ hội bứt phá của du lịch Việt Nam

Trước yêu cầu “Tái cơ cấu ngành du lịch, chuyển mạnh mô hình phát triển từ số lượng sang chất lượng, thông minh, xanh, sáng tạo” theo quan điểm chỉ đạo tại Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngành du lịch nước ta cần tăng cường liên kết, xác định đúng thị trường và sản phẩm để thu hút dòng khách chất lượng cao. 

Các tiết mục biểu diễn tại Festival Thăng Long-Hà Nội năm 2026 cho thấy sức hấp dẫn của việc phát huy chất liệu di sản thông qua sáng tạo và trải nghiệm văn hóa. (Ảnh: Ban Tổ chức)

Festival Thăng Long-Hà Nội 2026: Để di sản tiếp tục được trao truyền và sáng tạo

Từ Hoàng thành Thăng Long, làng gốm Bát Tràng đến hồ Hoàn Kiếm, Festival Thăng Long-Hà Nội 2026 đã kết nối di sản, nghệ thuật với đời sống đương đại. Hơn 16 hoạt động đặc sắc diễn ra, thu hút khoảng 250 nghìn lượt khách với sự tham gia của hơn 3.000 nghệ sĩ, diễn viên, 100 nghệ nhân, cùng các đoàn nghệ thuật trong và ngoài nước.

Hậu trường MV “Lá ngọc cành vàng” của ca nương Kiều Anh. (Ảnh: Antiantiart)

Nghị quyết số 26-NQ/TW: Đòn bẩy phát triển du lịch từ các ngành công nghiệp văn hóa

Từ bộ phim Hộ linh tráng sĩ, đến MV Come My Way hay MV Lá ngọc cành vàng, có thể thấy địa điểm được lựa chọn cho một MV, một bộ phim hay một lễ hội không đơn thuần là câu chuyện của bối cảnh. Đằng sau mỗi lựa chọn không gian là cách một sản phẩm văn hóa được kết nối với một vùng đất và những bản sắc riêng biệt.

Vẻ đẹp của Đại Nội Huế, một phần trong Quần thể di tích Cố đô Huế, mang đậm dấu ấn văn hóa, lịch sử, kiến trúc của triều đại nhà Nguyễn. Nơi đây được tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vào năm 1993. (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Sức hút của du lịch di sản: Đi để khám phá câu chuyện đằng sau mỗi điểm đến

Ngày nay, cách du khách lên kế hoạch cho các chuyến đi khám phá văn hóa tại Việt Nam đã có sự thay đổi không nhỏ. Du khách không chỉ tìm kiếm những điểm đến di sản, mà còn quan tâm tới cách thức để trải nghiệm thông qua các tour có hướng dẫn, chương trình biểu diễn văn hóa, cảnh quan địa phương và các di tích lịch sử.

Khách du lịch đến Thủ đô Hà Nội vào dịp Tết. (Ảnh: THÀNH ĐẠT)

Du lịch Việt nỗ lực giữ vững quy mô, tốc độ tăng trưởng top đầu Đông Nam Á

Thực hiện Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045, theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Việt Nam đặt mục tiêu đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế, 160 triệu lượt khách nội địa vào năm 2030. Tổng thu từ khách du lịch đạt 80-90 tỷ USD, đóng góp trực tiếp 10-12% GDP cho đất nước. 

Công viên đá Núi Chúa kỳ thú dưới nắng chiều.

[Ảnh] Công viên đá Núi Chúa: "Bảo tàng địa mạo" triệu năm bên bờ biển Khánh Hòa

Nằm tĩnh lặng trong ranh giới Vườn Quốc gia Núi Chúa, Công viên đá Núi Chúa là một trong những điểm đến hoang sơ và kỳ vĩ bậc nhất Ninh Thuận (cũ). Trải qua hàng triệu năm kiến tạo địa chất, hàng vạn khối đá đã bị phong hóa, bào mòn thành những hình thù độc đáo, xếp chồng lên nhau vươn dài ra sát mép sóng.

Khách hàng trải nghiệm thanh toán QR xuyên biên giới. (Ảnh: HOÀNG TRANG)

Kết nối thanh toán, nâng trải nghiệm du lịch

Sự thay đổi trong cách lựa chọn điểm đến và sử dụng dịch vụ của du khách Trung Quốc đang đặt ra yêu cầu mới đối với du lịch Việt Nam. Bên cạnh sức hấp dẫn của cảnh quan, ẩm thực và văn hóa bản địa, khả năng thanh toán thuận tiện trở thành một mắt xích góp phần hoàn thiện trải nghiệm, mở rộng cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp.

Quang cảnh hội nghị. (Ảnh: CÔNG LÝ)

Nâng cao hiệu quả chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng trong đồng bào dân tộc thiểu số ở Đắk Lắk

Chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã tạo được những kết quả bước đầu, hình thành một số mô hình, cải thiện điều kiện phục vụ khách du lịch, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập và phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng trong phát triển du lịch gắn với bảo tồn văn hóa dân tộc.

Bức tranh thiếu nữ đánh đàn, được làm bằng những cây lúa.

[Ảnh] Những cánh đồng "bội thu sớm" ở Trung Quốc

Những bãi đỗ xe gần như chật kín, dòng người đông đúc đổ về trải nghiệm văn hóa và cảnh sắc thôn quê, hài lòng với những bức ảnh check-in trên cánh đồng đa sắc màu rực rỡ, tuy chưa vào thời điểm thu hoạch nhưng đã cho thấy sự tốt tươi, được mùa. Đây là một trong nhiều lát cắt về công cuộc chấn hưng nông thôn ở Trung Quốc.

Hình ảnh nghệ nhân điêu khắc tác phẩm từ rễ tre trên phố cổ Hội An, thu hút nhiều du khách đến chiêm ngưỡng, tìm hiểu. (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Khơi thông nguồn lực, đưa du lịch Việt Nam bứt tốc

Để khơi thông mọi nguồn lực phát triển, du lịch Việt cần đổi mới tư duy, cách tiếp cận và cách làm nhằm chuyển đổi mô hình tăng trưởng, phương thức quản trị du lịch từ số lượng sang chất lượng. Qua đó, nâng cao giá trị gia tăng cho nền kinh tế, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển đất nước nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

Du lịch và Công nghiệp văn hóa có mối quan hệ mật thiết. (Ảnh: VEC)

Nghị quyết số 26-NQ/TW: Khi hai trụ cột du lịch và công nghiệp văn hóa song hành

Nghị quyết số 26-NQ/TW đã định hướng phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, với mục tiêu đến năm 2030 đóng góp trực tiếp từ 10-12% GDP, đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế; đến năm 2045, tỷ lệ này đạt 14-15%, đưa Việt Nam vào nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới.

Bãi đá cuội 7 màu ở biển Cổ Thạch, Lâm Đồng được xem kiệt tác địa chất hiếm có, thu hút khách du lịch khám phá. (Ảnh: TÙNG LÂM)

Mở hướng phát triển mới cho du lịch Lâm Đồng

Bằng việc tái cấu trúc không gian thành mô hình liên kết mới và khai thác vào chiều sâu di sản bản địa, ngành du lịch Lâm Đồng đang hướng tới mục tiêu phát triển xanh, bền vững, từng bước định vị thương hiệu điểm đến chất lượng cao với chuỗi trải nghiệm riêng biệt, thú vị cho du khách.

Trận bán kết lượt đi giữa hai đội Thẩm Dương và Trường Xuân, diễn ra ngày 11/9, tại sân vận động Thiết Tây, thành phố Thẩm Dương. (Ảnh: LẬP ĐÀ)

Một giải bóng đá bình dân hâm nóng ngành du lịch Trung Quốc

Mùa hè năm nay, có một giải đấu đã trở thành hiện tượng nóng bỏng trong giới thể thao Trung Quốc, không chỉ bởi sự quan tâm của những người yêu bóng đá và công chúng, mà còn bởi khả năng kích cầu tiêu dùng, hâm nóng ngành du lịch các tỉnh Đông Bắc, vốn chỉ nổi tiếng bởi các loại hình du lịch băng tuyết vào mùa đông.