Nhiều con sông khác cũng đã từ lâu ô nhiễm nghiêm trọng, nhiều khu vực “hấp hối”, nhiều đoạn trở thành “sông chết”, cũng đã được dư luận phàn nàn mãi, như sông Kim Ngưu, sông Tô Lịch, sông Đáy, sông Tích, sông Pheo, sông Cà Lồ…
Không thể không nhắc đến các kênh, mương nhỏ nội đô hoặc phân bố bên ngoài khu vực trung tâm, cũng bị xả rác, xả thải bừa bãi, vẩn đục, rác vứt bừa bãi. Cùng với hệ thống các sông nhỏ trên và cả không ít các hồ ao bị ô nhiễm khác, chúng kết thành một mạng lưới nước bẩn len lỏi qua nhiều khu vực của thành phố, nối các phường, xã, khu dân cư. Cuộc sống mưu sinh, đời sống sinh hoạt của người dân trên nhiều địa bàn diễn ra trong “vòng vây” nước bẩn đó.
Có một thực tế đáng sợ, là mong ước, chủ trương làm sạch thì nhiều, và các hành động làm sạch cũng không phải không triển khai, nhưng những nguyên nhân làm bẩn, gây ô nhiễm thì vẫn cứ đầy lên theo thời gian. Và nhiều con sông, địa bàn ô nhiễm sông ngòi, khi chưa kịp áp dụng hoặc chưa thực hiện đầy đủ các biện pháp làm sạch thì qua một thời gian, đã lại càng thêm ô nhiễm nước, đất, môi trường.
Bởi thế, mỗi dự án cải tạo một con sông, hay tổng thể cả hệ thống sông ngòi với những khoản đầu tư được công bố hàng chục, hàng trăm nghìn tỷ đồng, một mặt mở ra kỳ vọng sông sạch, môi trường sạch, đời sống sạch cho tương lai khoảng vài năm tới. Nhưng một mặt cũng dấy lên băn khoăn, kể cả hoài nghi một cách chính đáng, rằng liệu rồi đây việc “sạch hóa” dòng nước, đôi bờ, nhất là nguồn nước đổ ra dòng sông có được triệt để hay không? Hay rất tốn kém với những khoản kinh phí khổng lồ rồi hiệu quả lại không được như mong muốn. Bởi rõ ràng, thực trạng ô nhiễm nhiều con sông đã dai dẳng hàng chục, mấy chục năm rồi.
Những nỗi lo và mong mỏi về tương lai được thấy những dòng nước sạch, được hít thở bầu không khí sạch đặt ra với các nhà chức trách, các cơ quan chức năng, các đơn vị kỹ thuật, thi công không những ở trách nhiệm sử dụng nguồn tài chính tiết kiệm, hiệu quả; mà còn ở việc triển khai, thực thi các giải pháp một cách khoa học, thông minh, nhân văn, đạt được sự đồng hành, hưởng ứng và cùng hành động của cộng đồng dân cư sinh sống hai bên bờ các con sông. Điều này rất quan trọng và có ý nghĩa về nhận thức, hành động của người dân. Nước thải sinh hoạt, nước thải sản xuất có được lọc ngay từ sớm; người dân, doanh nghiệp, các đơn vị… không xả rác bừa bãi ra sông ngòi, kênh mương thì những dòng nước đó mới không bị “bức tử”. Ngoài ra, sự liên thông giữa các sông ngòi, kênh mương là không thể bỏ qua, như thế để tránh hệ quả có thể làm sạch một số đoạn nhất định nhưng những dòng sông bẩn vẫn gây ảnh hưởng chung.
Có bao nhiêu băn khoăn, mong mỏi chung quanh mỗi dự án làm sạch sông, cần được trao đổi, thông tin, giải đáp công khai, thỏa đáng với cộng đồng, với dư luận. Như vậy càng tăng thêm niềm tin, sự đồng hành tích cực và lâu dài, vì sự hồi sinh của những dòng sông.