Đó là những vấn đề được trao đổi tại phiên thảo luận “Góc nhìn chính sách: Định hình lộ trình chuyển đổi AI”, thuộc Tuần lễ Số quốc tế Việt Nam 2026 (VIDW 2026) tại Quảng Ninh. Tham dự trực tiếp và trực tuyến, 11 đại biểu đến từ các cơ quan quản lý, ngoại giao và tổ chức quốc tế chia sẻ kinh nghiệm, đề xuất hướng hợp tác phát triển và ứng dụng AI.
Từ nhu cầu người dân đến nền tảng chuyển đổi
Mở đầu phiên thảo luận, bà Lucy Poole, Phó Tổng Giám đốc phụ trách Chiến lược, chính sách và triển khai thuộc Cơ quan Chuyển đổi số Australia chia sẻ, Australia đạt vị trí thứ hai trong Đánh giá Chính phủ số năm 2025 của OECD và vươn lên đứng thứ nhất thế giới về tiêu chí thiết kế chính phủ lấy người dùng làm trung tâm.
Nếu như trước đây Australia tập trung ứng dụng AI ở các quy trình hậu cần để giảm thiểu rủi ro, thì hiện nay quốc gia này đang dịch chuyển mạnh mẽ sang các dịch vụ tiếp xúc trực tiếp với người dân nhằm tạo ra giá trị lớn nhất.
Đại diện từ Australia dẫn một thí dụ về việc Bộ Cựu chiến binh Australia đã triển khai AI trong công tác hỗ trợ tìm kiếm dịch vụ cho các cựu chiến binh theo từng nhu cầu cá nhân riêng biệt, giúp rút ngắn đáng kể thời gian thẩm định và giải quyết hồ sơ nhưng vẫn bảo đảm con người giữ vai trò quyết định cuối cùng của quy trình xử lý.
Trước sự phát triển của các tác nhân AI tự chủ, Australia đã ban hành hướng dẫn kỹ thuật bảo đảm sự giám sát liên tục của con người và đang chủ trì Nhóm công tác OECD về Quản trị tác nhân AI để liên tục cập nhật, hoàn thiện chính sách, hướng tới một chính phủ phục vụ người dân tốt hơn, trách nhiệm hơn và giữ vững niềm tin công chúng.
Đóng góp ý kiến từ góc độ một quốc gia châu Phi, bà Francine Inarukundo, Thư ký thường trực Bộ Ngân sách, tài chính và kinh tế số Burundi khẳng định, chuyển đổi số là trụ cột thiết yếu trong tham vọng phát triển quốc gia nhằm đưa Burundi trở thành quốc gia mới nổi vào năm 2040 và phát triển vào năm 2060.
Cơ quan quản lý Burundi đã đạt được những bước tiến quan trọng như thành lập Ủy ban thường trực quốc gia về Số hóa dịch vụ công vào tháng 1/2025, ban hành Chiến lược Quản trị dữ liệu quốc gia đầu tiên vào tháng 11/2025, cùng với việc hoàn thiện Khung pháp lý gồm Luật An ninh mạng năm 2022 và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân vừa ban hành năm 2026.
Dù vậy, bà Francine Inarukundo thẳng thắn chỉ ra thách thức lớn của quốc gia châu Phi này khi tỷ lệ người dân sử dụng Internet vẫn ở mức khiêm tốn, chỉ khoảng 10% dân số. Do đó, Burundi kêu gọi các đối tác quốc tế đẩy mạnh đầu tư vào hạ tầng mạng băng rộng, cáp quang và công nghệ 5G tại các vùng nông thôn.
Bà Francine Inarukundo đánh giá cao sự hiện diện của thương hiệu viễn thông Lumitel thuộc Tập đoàn Viettel tại Burundi như một minh chứng thực tế cho hợp tác hiệu quả giúp phát triển hệ sinh thái viễn thông địa phương.
Về tài chính số, Ngân hàng Trung ương Burundi đã chính thức khai trương hệ thống thanh toán tức thời quốc gia “Burundi Pay” vào ngày 20/4/2026, cho phép giao dịch thời gian thực giữa người dân và các đơn vị cung cấp dịch vụ, hướng tới nền kinh tế không dùng tiền mặt.
Khép lại phát biểu, đại diện Bộ Ngân sách, tài chính và kinh tế Số Burundi đề xuất mở rộng hợp tác với Việt Nam trong đào tạo kỹ năng số cho thanh niên và phụ nữ, chuyển giao công nghệ, nghiên cứu giữa các trường đại học và thúc đẩy các sáng kiến hợp tác cụ thể, đo lường được.
Là quốc gia láng giềng của Việt Nam, Campuchia đang chuyển dịch dần từ nền kinh tế truyền thống sang nền kinh tế số kết hợp công nghệ cao. Ông Chun Vat, Bộ trưởng Bưu chính và Viễn thông Campuchia nhấn mạnh, mạng 4G tại quốc gia này hiện phủ sóng hơn 96% dân số và mạng 5G chính thức được thương mại hóa từ đầu năm 2026 để phục vụ đô thị thông minh, logistics, nông nghiệp chính xác và sản xuất cao cấp, được nâng đỡ bởi kiến trúc Hạ tầng điện toán đám mây quốc gia.
Cùng với đó, Chiến lược AI quốc gia Campuchia giai đoạn 2025-2027 vạch ra lộ trình rõ ràng tập trung vào sáu ưu tiên gồm phát triển nhân tài, dữ liệu và hạ tầng, ứng dụng chính phủ, giải pháp ngành, quản trị đạo đức và hợp tác nghiên cứu.
Campuchia đã đưa AI vào thực tiễn thông qua các ứng dụng giám sát nông nghiệp hỗ trợ nông dân, công cụ xử lý văn bản và hệ thống xác thực định danh công dân tự động nhằm bảo tồn ngôn ngữ bản địa và nâng cao hiệu suất hành chính.
Ông Chun Vat cho biết: Thông qua Khung chính sách Kinh tế và xã hội số cũng như Chính phủ số, Campuchia tích cực triển khai hệ thống thanh toán Bakong và mở rộng nền tảng số từ thành thị đến nông thôn.
Về phát triển nhân lực, Campuchia nhắm tới mục tiêu đào tạo và nâng cao trình độ cho hơn 100.000 người lao động trong thời gian tới, cải tiến chương trình đại học về khoa học dữ liệu, AI, an ninh mạng và khởi nghiệp.
Đồng thời, Bộ trưởng Bưu chính và Viễn thông Campuchia cũng chia sẻ hệ sinh thái khởi nghiệp tại quốc gia này đã có những thành tựu nhất định khi Trung tâm Khởi nghiệp Quốc gia, nền tảng Start-up Cambodia và cơ chế thử nghiệm pháp lý ngày càng phát huy vai trò giúp các doanh nghiệp công nghệ nội địa giải quyết bài toán tài chính toàn diện và tạo việc làm.
Kết nối hợp tác, tạo thị trường cho AI
Từ những kinh nghiệm triển khai trong từng quốc gia, các ý kiến tiếp tục mở rộng sang hợp tác quốc tế và chính sách hỗ trợ hệ sinh thái AI.
Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Hà Vĩ đánh giá cao VIDW 2026 là nền tảng quan trọng thúc đẩy tinh thần “AI vì mục đích tốt đẹp và phục vụ tất cả mọi người”. Đại sứ chỉ ra rằng AI đang góp phần kiến tạo thế giới với tốc độ chưa từng có, mang lại những thay đổi tích cực trong năng suất lao động và học tập.
Đại sứ Hà Vĩ cho biết, tại Trung Quốc, quy mô ngành công nghiệp AI đã vượt mốc 1,2 nghìn tỷ nhân dân tệ, tương đương khoảng 233 tỷ USD, với hơn 6.600 doanh nghiệp.
Trong đó, robot thông minh chiếm tới 80% doanh số bán ra trên toàn cầu. Đặc biệt, các mô hình ngôn ngữ lớn nguồn mở của Trung Quốc đã được tải về hơn 10 tỷ lượt toàn cầu, giúp giảm chi phí tiếp cận công nghệ cho các quốc gia có nguồn lực hạn chế. Trong 5 năm tới, Trung Quốc cam kết cung cấp 5.000 suất đào tạo về chủ đề AI cho các nước đang phát triển.
Nhấn mạnh nguyên tắc an toàn và phát triển, Trung Quốc đã đề xuất thành lập Sáng kiến tổ chức Hợp tác quản trị AI quốc tế vào tháng 6/2026 và nhận được sự hưởng ứng tham gia của gần 40 quốc gia, bao gồm Việt Nam.
Đại sứ đánh giá cao tốc độ chuyển đổi số mạnh mẽ của Việt Nam và khẳng định hợp tác AI Việt Nam-Trung Quốc đã bước vào giai đoạn phát triển thể chế hóa, nổi bật là bản ghi nhớ hợp tác cấp Bộ và sự phối hợp giữa Quảng Tây với Hà Nội trong việc triển khai nền tảng đô thị thông minh và chính phủ số, đồng thời cam kết Trung Quốc sẵn sàng đồng hành cùng Việt Nam nâng cao năng lực công nghệ và đưa quản trị AI toàn cầu theo hướng công bằng, bao trùm.
Ông Koizumi Hidechika, Cục trưởng Cục Quan hệ quốc tế thuộc Bộ Nội vụ và Truyền thông Nhật Bản chia sẻ kinh nghiệm từ Gói chính sách AI quốc tế toàn diện của Nhật Bản gồm 4 trụ cột chính. Đó là: Thúc đẩy quản trị AI toàn cầu, tăng cường đối tác AI giữa các quốc gia và bên liên quan, thúc đẩy hạ tầng và đổi mới sáng tạo AI, và xây dựng cộng đồng chuyên gia AI.
Trong hợp tác khu vực, Nhật Bản triển khai sáng kiến Đồng sáng tạo AI Nhật Bản-ASEAN và Tuyên bố Bộ trưởng ASEAN-Nhật Bản về phát triển AI hỗ trợ ngôn ngữ bản địa. Để hỗ trợ trao đổi dữ liệu quy mô lớn, Nhật Bản thúc đẩy sáng kiến “Hành lang số” phát triển hạ tầng công nghệ thông tin tin cậy như mạng di động, trung tâm dữ liệu, mạng quang toàn phần APN, cáp quang biển và viễn thông vệ tinh.
Về quản trị toàn cầu, Nhật Bản khởi xướng Tiến trình AI Hiroshima tại Hội nghị thượng đỉnh G7 năm 2023, xây dựng Nguyên tắc hướng dẫn quốc tế và Bộ quy tắc tự nguyện cho các hệ thống AI tiên tiến.
Nhật Bản đã thành lập Nhóm các nước bạn bè Tiến trình Hiroshima cùng Cộng đồng đối tác doanh nghiệp, đồng thời công bố sẽ Hội nghị cấp cao của Nhóm dự kiến tổ chức vào tháng 2/2027 tại Nhật Bản.
Ông Deuk-Jung Kim, Phó Chủ tịch Thường trực Cơ quan xúc tiến công nghiệp công nghệ thông tin Hàn Quốc, đã chia sẻ 5 hành động thực tiễn trong chiến lược Chuyển đổi AI của Hàn Quốc tích lũy qua nhiều năm hỗ trợ doanh nghiệp. Từ năm 2019, Hàn Quốc đã cung cấp hạ tầng điện toán cho hơn 5.200 tổ chức bao gồm các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp start-up và trường đại học.
Bên cạnh đó, Chính phủ cấp voucher cho bên mua thanh toán cho nhà cung cấp AI, giúp số lượng công ty cung cấp giải pháp AI tăng vọt từ 150 năm 2019 lên hơn 2.800 vào năm 2025. Cùng với đó, Chính phủ thu thập dữ liệu từ thiết bị IoT, cảm biến, dán nhãn và lưu trữ để tạo nguồn dữ liệu sạch từ dịch vụ công.
Về công tác đào tạo nguồn nhân lực, Hàn Quốc đã triển khai mở rộng từ 35 trường đại học đào tạo Công nghệ thông tin năm 2019 lên 60 trường, tăng từ 5 lên 15 viện cao học chuyên sâu AI/AX và thành lập 31 trung tâm đào tạo AI tại 6 trung tâm vùng.
Gần đây nhất, Hàn Quốc đã công bố 3 siêu dự án quy mô quốc gia hồi tháng 6/2026 tập trung vào AI Trí tuệ, AI Robot và Trung tâm dữ liệu chủ quyền AI.
Phát triển hạ tầng gắn với năng lực tự chủ
Đối với các quốc gia trong khu vực, chuyển đổi AI đặt ra yêu cầu đồng thời phát triển kết nối, dữ liệu, nhân lực và năng lực làm chủ công nghệ. Về phần mình, ông Keovisouk Solaphom, Thứ trưởng Công nghệ và Truyền thông Lào khẳng định, chuyển đổi số và AI là yêu cầu tất yếu đối với phát triển kinh tế-xã hội của Lào. Do đó, Lào đã triển khai chiến lược AI trên cả ba trụ cột: Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.
Lào đã chính thức gia nhập Tổ chức Hợp tác trí tuệ nhân tạo toàn cầu, ban hành chiến lược AI quốc gia và rà soát Kế hoạch kinh tế số quốc gia giai đoạn 2020-2030, đồng thời phối hợp với các đối tác phát triển Mô hình Ngôn ngữ lớn tiếng Lào huấn luyện trên kho dữ liệu quốc gia về hành chính, giáo dục và văn hóa.
Về hạ tầng kết nối, Lào đặt mục tiêu đưa dịch vụ di động về đến 1.730 bản làng trước năm 2030, đồng thời phối hợp hoàn thành tuyến cáp quang xuyên biên giới dài 2.500km nối Lào-Việt Nam-Ấn Độ-Singapore.
Nhân dịp này, Thứ trưởng Công nghệ và Truyền thông Lào bày tỏ sự trân trọng đối với Chính phủ Việt Nam đã hỗ trợ Lào xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và hệ thống định danh số với 36 trung tâm trên toàn quốc.
Đồng thời, ông đề xuất ba hướng hợp tác khu vực gồm: nâng cao kỹ năng AI theo tiêu chuẩn quốc tế, mời gọi các tập đoàn công nghệ Việt Nam và toàn cầu đầu tư vào trung tâm dữ liệu năng lượng xanh tại Lào, và hợp tác xây dựng các tiêu chuẩn an toàn AI tôn trọng chủ quyền dữ liệu quốc gia.
Ông Min Zeyar Hlaing, Thứ trưởng Phát triển số và Truyền thông Myanmar đưa ra ba đề xuất hợp tác vùng trọng tâm, trong đó có xây dựng hạ tầng kết nối thông minh làm nền tảng cho AI thông qua việc tăng tốc phủ sóng 4G/5G, hạ tầng đám mây và triển khai hạ tầng số công cộng (DPI) bao gồm định danh số quốc gia, thanh toán số và nền tảng trao đổi dữ liệu.
Myanmar thúc đẩy chuyển đổi AI mang lại lợi ích thiết thực cho người dân thông qua chính phủ số dựa trên dữ liệu, thành phố trực tuyến, chính sách ưu đãi ngành kinh tế số và nâng cao kỹ năng cho lực lượng lao động. Myanmar khẳng định sẵn sàng hợp tác sẵn sàng với các đối tác quốc tế để hướng tới một tương lai số bao trùm, an toàn và an ninh.
Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Jennifer Wicks khẳng định mối quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đang tạo nền tảng vững chắc cho hợp tác công nghệ cao như bán dẫn siêu thông minh, điện toán đám mây và viễn thông thế hệ mới.
Về hạ tầng năng lượng, Đại sứ Jennifer Wicks lưu ý các trung tâm dữ liệu AI đòi hỏi công suất điện khổng lồ, do đó nguồn cung cấp năng lượng an toàn, ổn định và xanh sẽ là yếu tố quyết định duy trì tăng trưởng số và thu hút đầu tư dài hạn. Đại sứ đánh giá các quyết định hạ tầng trong 1 đến 3 năm tới về 5G, cáp quang biển và dữ liệu sẽ định hình nền tảng số quốc gia trong nhiều thập kỷ...
Gắn quản trị với ứng dụng và phát triển con người
Trình bày định hướng của Việt Nam, ông Nguyễn Khắc Lịch, Cục trưởng Cục Công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho biết, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 thuộc nhóm ba nước dẫn đầu ASEAN về nghiên cứu và phát triển AI, hướng tới mức đóng góp của AI bằng 6% GDP. Việc triển khai gắn với phân công nhiệm vụ cụ thể cho các bộ, ngành và địa phương.
Về quản trị, Việt Nam áp dụng phương pháp quản lý dựa trên mức độ rủi ro, quy định kiểm soát nghiêm ngặt đối với các ứng dụng AI rủi ro cao ảnh hưởng đến quyền công dân, đòi hỏi tính minh bạch và trách nhiệm giải trình rõ ràng của con người từ khâu thiết kế.
Để hỗ trợ phát triển, Việt Nam quy hoạch hạ tầng điện toán phục vụ AI với công suất năng lượng lên tới 500MW, song song với việc nghiên cứu phát triển các mô hình AI tiếng Việt hiểu sâu ngôn ngữ, ngữ cảnh và văn hóa bản địa trên nguồn dữ liệu sạch, chuẩn hóa.
Về đào tạo nhân lực, Việt Nam triển khai kế hoạch phổ cập kỹ năng AI cơ bản cho 10 triệu lao động, đào tạo lại công nhân và nâng cao năng lực cho các nhà nghiên cứu.
Đặc biệt, ông Nguyễn Khắc Lịch chia sẻ kết quả thực tiễn ấn tượng tính đến ngày 26/10/2026 khi Việt Nam đã cấp phát hơn 700.000 tài khoản AI công sở cho cán bộ công chức để soạn thảo báo cáo, kiểm tra dữ liệu và đạt tỷ lệ phản hồi tích cực lên tới 95%, đồng thời ngỏ lời mời các quốc gia hợp tác nghiên cứu mô hình ngôn ngữ dùng chung và ứng dụng AI dịch vụ công.
Bà Renate Nikolay, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Mạng thông tin, nội dung và công nghệ thuộc Ủy ban châu Âu (EC) phát biểu trực tuyến từ Brussels khẳng định, AI đang tái thiết nền kinh tế, xã hội và an ninh toàn cầu.
Bà Renate Nikolay cho biết, Liên minh châu Âu đang hành động quyết liệt thông qua Kế hoạch hành động “Châu lục AI” và Chiến lược “Ứng dụng AI” nhằm tăng tốc ứng dụng AI trong các ngành công nghiệp và dịch vụ công.
Ngày 2/8/2026, EU đã chính thức ban hành Đạo luật Trí tuệ nhân tạo của Liên minh châu Âu, khung pháp lý toàn diện đầu tiên trên thế giới về AI, sử dụng phương pháp tiếp cận phòng ngừa rủi ro nhằm bảo đảm các hệ thống AI trên thị trường an toàn, minh bạch và tôn trọng các quyền cơ bản.
Bà Renate Nikolay đánh giá việc nâng cấp quan hệ Liên minh châu Âu-Việt Nam lên Đối tác chiến lược toàn diện vào tháng 1/2026 đã mở ra chương mới cho hợp tác số. EU cam kết đồng hành cùng Việt Nam trong tự chủ chiến lược, hỗ trợ phát triển kỹ năng số, chia sẻ kinh nghiệm quản trị AI và xây dựng chuỗi cung ứng bán dẫn an toàn, đa dạng, hướng tới một tương lai số đổi mới sáng tạo, an ninh và lấy con người làm trung tâm.
Các ý kiến tại phiên thảo luận “Góc nhìn chính sách: Định hình lộ trình chuyển đổi AI” tại Tuần lễ Số quốc tế Việt Nam 2026 cùng nhấn mạnh vai trò của kết nối thông minh, hạ tầng điện toán và quản trị AI dựa trên niềm tin. Dù có điều kiện phát triển khác nhau, các quốc gia đều đặt ra yêu cầu gắn chính sách với nguồn lực triển khai và nhu cầu thực tế của người dân, doanh nghiệp.
Trên cơ sở đó, hợp tác phát triển hạ tầng, xây dựng mô hình ngôn ngữ bản địa, đào tạo nhân lực và chia sẻ kinh nghiệm quản trị là những hướng đi cụ thể để mở rộng khả năng tiếp cận, ứng dụng AI an toàn, hiệu quả.