Di sản - Nguồn lực chiến lược cho tương lai

Trong bối cảnh phát triển mới, khi yêu cầu tăng trưởng xanh, bền vững và dựa vào nội lực được đặt ra ngày càng rõ nét, di sản không còn được nhìn nhận đơn thuần như “ký ức của quá khứ” cần bảo tồn nguyên trạng. Di sản đang dần được xác lập vị thế như một nguồn lực chiến lược cho hiện tại và tương lai.

Nhiều di tích trong phố cổ Hà Nội trở thành điểm đến thu hút du khách và người dân dịp Tết cổ truyền Xuân Bính Ngọ 2026. Ảnh: TÚ NHI
Nhiều di tích trong phố cổ Hà Nội trở thành điểm đến thu hút du khách và người dân dịp Tết cổ truyền Xuân Bính Ngọ 2026. Ảnh: TÚ NHI

Từ các văn kiện của Đảng đến thực tiễn điều hành ở nhiều địa phương, thuật ngữ “kinh tế di sản” xuất hiện ngày càng nhiều, phản ánh sự chuyển dịch căn bản trong tư duy phát triển: đưa di sản tham gia vào đời sống kinh tế - xã hội trên cơ sở bảo tồn giá trị cốt lõi.

Kỳ 1: “Đánh thức” di sản

Sức hút của Vịnh Hạ Long, Cao nguyên đá Đồng Văn, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Phố cổ Hội An hay Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên... cho thấy một thực tế: Nếu được quản trị đúng hướng, di sản hoàn toàn có thể trở thành nguồn lực dồi dào cho công nghiệp du lịch, công nghiệp văn hóa và các ngành dịch vụ sáng tạo.

Nhìn nhận đúng về kinh tế di sản

Theo báo cáo tổng kết năm 2025 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, nhiều địa phương có di sản được UNESCO ghi danh ghi nhận mức tăng trưởng du lịch cao hơn mặt bằng chung cả nước. Tiêu biểu như Quảng Ninh tổng thu từ khách du lịch năm 2025 ước đạt 57.084 tỷ đồng, tăng 22,6% so với năm 2024. Ninh Bình đón hơn 19,4 triệu lượt khách, tăng 27% so với cùng kỳ 2024; doanh thu ước đạt hơn 21.238 tỷ đồng, tăng 37% so với cùng kỳ 2024. Thành phố Huế ước đón khoảng 6,3 triệu lượt khách, tăng 61,5% so với năm 2024; doanh thu du lịch đạt hơn 13 nghìn tỷ đồng, tăng 64,4%. Cao Bằng đang là địa phương ghi được dấu ấn mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng nhanh. Cụ thể năm 2025 Cao Bằng đã đón 2,5 triệu lượt khách, tăng khoảng 40,5% so với cùng kỳ năm 2024; tổng thu từ du lịch ước đạt hơn 2.400 tỷ đồng, tăng 78%...

Những con số trên đây phần nào cho thấy khi di sản được “đánh thức” bằng cách tiếp cận đúng, nó có thể tạo ra chuỗi giá trị lan tỏa: Từ vận tải, lưu trú, ẩm thực đến sản phẩm thủ công, biểu diễn nghệ thuật, truyền thông số. Vấn đề đặt ra là phải nhìn nhận đúng bản chất của kinh tế di sản để vận hành đúng cách. Các chuyên gia đều thống nhất rằng, kinh tế di sản không đồng nghĩa với thương mại hóa di sản, càng không phải là chạy theo số lượng khách hay doanh thu ngắn hạn. Bản chất của kinh tế di sản là tổ chức các chuỗi giá trị kinh tế dựa trên tài nguyên di sản, với điều kiện tiên quyết là giữ gìn giá trị cốt lõi.

TS Nguyễn Văn Đoàn, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quốc gia, nhấn mạnh: Di sản văn hóa không chỉ là dấu ấn của quá khứ mà còn là nguồn lực chiến lược cho tương lai, kết tinh bản sắc, trí tuệ và sức sáng tạo của dân tộc. Phát triển kinh tế di sản chính là con đường cụ thể để hiện thực hóa chủ trương xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trở thành nguồn lực nội sinh cho phát triển nhanh và bền vững. Còn TS Trần Hữu Sơn, Viện trưởng Nghiên cứu Ứng dụng Văn hóa và Du lịch nhận định kinh tế di sản là một ngành kinh tế mới, bao gồm du lịch di sản, sản phẩm OCOP gắn với tri thức bản địa, công nghiệp văn hóa dựa trên biểu tượng di sản, ẩm thực truyền thống, nghề thủ công mỹ nghệ. Ba trụ cột cơ bản hiện nay là du lịch di sản; công nghiệp văn hóa dựa trên di sản; và hệ thống sản phẩm - dịch vụ hình thành từ tri thức truyền thống. Cách nhìn này cho thấy sự thay đổi căn bản: di sản không còn là “chi phí” của ngành văn hóa, mà trở thành nguồn lực phát triển.

Từ thực tiễn có thể thấy lợi ích đa chiều của kinh tế di sản. Trước hết là lợi ích kinh tế trực tiếp: tăng doanh thu du lịch, mở rộng thị trường cho sản phẩm địa phương, thu hút đầu tư. Thứ hai là lợi ích xã hội: Tạo việc làm, giảm di cư lao động, củng cố sinh kế bền vững ở nông thôn, miền núi. Thứ ba là lợi ích văn hóa: Khi di sản tham gia vào đời sống kinh tế, cộng đồng có động lực bảo tồn, truyền dạy và sáng tạo trên nền tảng truyền thống. Và sâu xa hơn là lợi ích về sức mạnh mềm quốc gia - yếu tố ngày càng quan trọng trong bối cảnh hội nhập sâu rộng.

162.jpg

Di sản trong nguyên tắc phát triển bền vững

Tuy nhiên, di sản mang tính đặc thù, khác biệt với các tài nguyên khác có thể khai thác cạn kiệt và thay thế. Di sản một khi bị tổn thương nghiêm trọng, khả năng phục hồi rất hạn chế. Vì vậy, kinh tế di sản chỉ thật sự có ý nghĩa khi tuân thủ nguyên tắc bền vững: khai thác trong giới hạn chịu tải, tái đầu tư cho bảo tồn, bảo đảm lợi ích công bằng giữa các chủ thể.

Đối với di sản phi vật thể, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên là thí dụ về sự gắn kết giữa bảo tồn và sinh kế. Khi các đội chiêng tham gia biểu diễn trong các tour du lịch cộng đồng, nguồn thu được quay trở lại phục vụ việc truyền dạy cho thế hệ trẻ, hỗ trợ mua sắm nhạc cụ và tổ chức sinh hoạt văn hóa. Di sản vì thế không bị “đóng khung” trong lễ hội mà tiếp tục được thực hành trong đời sống, giữ được sức sống tự nhiên.

Dù vậy, không thể phủ nhận những nguy cơ hiện hữu trong việc “tăng trưởng nóng” của kinh tế di sản có thể dẫn đến tình trạng làm suy kiệt khả năng chịu tải của di sản và đánh mất bản sắc. Từ đây đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện khung pháp lý và quy hoạch tổng thể cho phát triển kinh tế di sản. Theo TS Trần Hữu Sơn, trước mắt cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan, trong đó làm rõ vai trò của cộng đồng - chủ thể sáng tạo và lưu giữ di sản trong quá trình khai thác kinh tế. Cộng đồng không chỉ là “người phục vụ” du lịch mà phải được bảo đảm quyền lợi chính đáng, được tham gia vào quá trình ra quyết định và hưởng lợi công bằng từ nguồn thu. Bên cạnh đó là yêu cầu quy hoạch kinh tế di sản theo từng vùng, từng loại hình; xác định ngưỡng chịu tải; xây dựng hệ thống dữ liệu và ứng dụng công nghệ số trong quản lý.

TS Nguyễn Văn Đoàn đề xuất cần lồng ghép mục tiêu phát triển di sản vào chiến lược phát triển vùng, du lịch văn hóa và công nghiệp sáng tạo. Di sản không thể tách rời khỏi quy hoạch đô thị, giao thông, môi trường. Song song đó là yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để tạo nền tảng cho phát triển lâu dài. Một vấn đề quan trọng khác là cơ chế tài chính. Phần nguồn thu từ khai thác di sản cần được tái đầu tư thỏa đáng cho công tác bảo tồn, trùng tu, đào tạo nghệ nhân và hỗ trợ cộng đồng. Cơ chế đối tác công - tư trong bảo tồn, khai thác di sản cần minh bạch, bảo đảm lợi ích hài hòa giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân.

Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa theo Chiến lược đến năm 2030, kinh tế di sản càng có ý nghĩa chiến lược. Di sản không chỉ là điểm đến du lịch mà còn là nguồn cảm hứng cho điện ảnh, mỹ thuật, thiết kế, thời trang, trò chơi điện tử, sản phẩm lưu niệm sáng tạo. Khi được tích hợp vào chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa, di sản sẽ tạo ra giá trị gia tăng cao hơn và góp phần quảng bá hình ảnh quốc gia.

Sự chuyển dịch từ tư duy bảo tồn nguyên trạng sang phát huy giá trị di sản trong phát triển bền vững phản ánh yêu cầu khách quan của giai đoạn mới. Nhưng để di sản thật sự trở thành nguồn lực nội sinh, điều cốt lõi vẫn là nhận thức đúng và hành động nhất quán. Khi di sản được nhìn nhận như tài sản chung của quốc gia, là nguồn lực cho tương lai chứ không chỉ là “di tích” của quá khứ, kinh tế di sản mới có thể phát triển bền vững, đóng góp xứng đáng vào mục tiêu xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Đánh thức di sản không chỉ là khơi dậy một nguồn tài nguyên đặc biệt, mà còn là đánh thức niềm tự hào, bản lĩnh và sức sáng tạo của cộng đồng, tạo nền tảng để di sản trở thành động lực cho hành trình phát triển mới của đất nước.

Thực tiễn tại Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) cho thấy, khi địa phương tăng cường kiểm soát số lượng tàu du lịch, phân vùng bảo vệ nghiêm ngặt, siết chặt xử lý rác thải và đầu tư hạ tầng thân thiện môi trường, giá trị cảnh quan được bảo vệ tốt hơn, đồng thời chất lượng dịch vụ được nâng cao. Ở Hội An (Đà Nẵng), việc hạn chế phương tiện cơ giới trong khu vực trung tâm, tổ chức phố đi bộ và không gian văn hóa ban đêm không chỉ bảo vệ cấu trúc đô thị cổ mà còn tạo ra trải nghiệm đặc sắc, tăng mức chi tiêu của du khách.

(Còn nữa)

Có thể bạn quan tâm

Gìn giữ di sản qua nghệ thuật đương đại

Gìn giữ di sản qua nghệ thuật đương đại

Những album của Hoàng Thùy Linh, hiệu ứng bùng nổ của “Bắc Bling” cùng nhiều sản phẩm lấy cảm hứng từ di sản truyền thống đang cho thấy nghệ thuật dân tộc chưa bao giờ lạc hậu trong đời sống đương đại. Nhiều nghệ sĩ trẻ đang nỗ lực miệt mài nhằm đưa các chất liệu truyền thống bước vào nhịp sống hiện đại. Đó không phải là sự “bắt trend”. Di sản dân tộc chưa bao giờ cần sự “giải cứu” bằng lòng thương cảm hay tiếc nuối. Thay vào đó, những giá trị này cần được thế hệ sau tiếp nhận bằng tinh thần cầu thị, học hỏi và khiêm nhường trước tiền nhân. Thời Nay xin giới thiệu chuyên đề do tác giả Lan Anh thực hiện.

Ca nương Kiều Anh.

Ca nương Kiều Anh: “Điều quan trọng không phải đưa được bao nhiêu biểu tượng”

12 tuổi, Kiều Anh đã là một ca nương triển vọng, với xuất thân trong gia đình 7 đời truyền thống ca trù. Những dự án âm nhạc của cô sau này, đều ít nhiều mang hơi thở của thứ âm nhạc đã ngấm vào máu. Cô không đo thành công bằng doanh thu hay lượt xem, mà kỳ vọng tạo ra những giá trị từ sự kế thừa văn hóa truyền thống.

Bà Quỳnh Phạm - Giám đốc Phát triển đối tác, nghệ thuật trình diễn, Trung tâm đổi mới và Bảo tồn giá trị di sản.

Không thể tiếp cận di sản bằng tâm thế vay mượn hay chiếm dụng bề mặt

“Nhìn vào bức tranh nghệ thuật hiện nay, chúng ta thấy một tín hiệu đáng mừng khi văn hóa truyền thống đang trở thành mối quan tâm của thế hệ trẻ. Rất nhiều chất liệu dân gian đã được đưa vào các sản phẩm giải trí. Tuy nhiên, nếu chúng ta chỉ coi văn hóa truyền thống như một công cụ để tạo ra các xu hướng ngắn hạn nhằm thu hút triệu view, triệu like trên mạng xã hội, thì những hiệu ứng đó sẽ trôi qua rất nhanh.

Bản thảo của nhà văn Nguyễn Thi tại Bảo tàng Văn học Việt Nam. Ảnh: HOÀNG HOA

Phía sau trang văn

Không ít độc giả hình dung nghề văn là một công việc nhẹ nhàng: Người viết ngồi trong phòng điều hòa, đợi cảm hứng tìm đến rồi đặt bút mà thành tác phẩm. Thực ra, phía sau trang văn là những đêm dài mất ngủ, là những tháng năm tích lũy kinh nghiệm sống, không ngừng học hỏi, lao động miệt mài, thể hiện ý thức trách nhiệm và bản lĩnh của mỗi người cầm bút.

Nhà văn Lê Phương Liên (giữa) cùng nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, TS giáo dục Thụy Anh trong một cuộc giao lưu của Câu lạc bộ Đọc sách cùng con. Ảnh: QUANG HƯNG

Người đi đường dài cùng trẻ thơ

Hơn nửa thế kỷ cầm bút, nhà văn Lê Phương Liên đã đi trên con đường vun đắp cho văn học thiếu nhi Việt Nam bằng sự bền bỉ hiếm có. Từ những truyện ngắn đầu tay viết cho thiếu nhi, những năm tháng làm biên tập ở NXB Kim Đồng đến cuốn "Bạn văn của tuổi thơ" vừa ra mắt, hành trình ấy không chỉ là hành trình của một người sáng tác, mà còn là hành trình lưu giữ ký ức của văn học thiếu nhi Việt Nam.

Đến thư viện, các em được các cô tận tình chỉ dạy từng nét vẽ.

Hè trong trang sách

Đó là chủ đề được Thư viện tỉnh Lai Châu triển khai hiệu quả trong hè 2026, giúp các bạn nhỏ thoát khỏi sự lệ thuộc vào các thiết bị điện tử như: Ipas, ti vi, điện thoại…

Nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ Bàng Ái Thơ đón nhận 3 cuốn sách của nữ sĩ Canada Linda Mazur.

Đặc sắc thư viện Đồi Nghệ sĩ

Ẩn mình giữa không gian thanh bình của núi rừng Yên Bài (Hà Nội), Đồi Nghệ sĩ hơn 5 năm qua đã trở thành điểm hẹn văn hóa của nhiều văn nghệ sĩ trong và ngoài nước. Chỉ mới xây dựng từ mùa xuân 2026, Thư viện Đồi Nghệ sĩ ra đời như một bước đi kết nối di sản chữ nghĩa.

Neo lại tình yêu, sự hy sinh

Neo lại tình yêu, sự hy sinh

Viết truyện cho thiếu nhi đã khó, dựng một huyền thoại vừa chân thực vừa sống động trong thế giới của những đứa trẻ càng khó hơn. Nhưng lật từng phần trong tập truyện thiếu nhi “Huyền thoại trên đồi cao” của Lệ Hằng, tôi đã thấy nhà văn thật thành công trong việc không dễ này.

Nhiều biên đạo trẻ dùng chất liệu dân gian để sáng tạo nên những hình thức biểu đạt mới. Ảnh: K.MINH

Nghệ thuật múa tăng sức mạnh mềm hội nhập

Trong nhiều cuộc thảo luận về sức mạnh văn hóa của các quốc gia, các lĩnh vực điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật hay thời trang thường được xem là những lĩnh vực có khả năng lan tỏa mạnh mẽ. Tuy nhiên, ở một góc nhìn khác, nghệ thuật múa - đặc biệt là múa dân tộc đang âm thầm trở thành một trong những phương tiện biểu đạt hiệu quả của sức mạnh mềm văn hóa.

Nồng nhiệt cuối hè

Nồng nhiệt cuối hè

Bước vào những ngày nghỉ cuối hè của giới học sinh, sinh viên, tuy cơn nắng nóng bất thường vừa trở lại, nhưng cùng với đó, là hàng loạt sự kiện văn hóa biểu hiện qua võ… và vẽ thật tưng bừng.

Tái hiện lễ cưới Nam Bộ truyền thống tại chương trình "Kết duyên tơ hồng".

Tái hiện lễ cưới Nam Bộ xưa

Thân nghinh - một nghi lễ quan trọng trong đám cưới Nam Bộ truyền thống - vừa được tái hiện trọn vẹn tại sự kiện văn hóa “Kết duyên tơ hồng”. Điều đặc biệt là cả ban tổ chức lẫn khách tham dự đa phần là người trẻ. Họ cùng nhau trải nghiệm nét độc đáo của lễ cưới xưa thông qua chuỗi hoạt động giàu ý nghĩa.

Màn trình diễn tại Lễ hội pháo hoa quốc tế Đà Nẵng 2026 thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.

Dọn đường đưa văn hóa vào kinh tế sáng tạo

Hiện nay, sức hấp dẫn của các sản phẩm văn hóa phần lớn được quyết định bởi năng lực sáng tạo, sản xuất và phân phối sản phẩm. Để văn hóa có sức sống bền vững và lan tỏa, Việt Nam cần phát triển hệ sinh thái sáng tạo một cách tương xứng.

Tình thương trên mạng

Gần đây, tôi theo dõi một nhóm Facebook chuyên cho tặng đồ miễn phí ở Hà Nội, thành viên đâu đó hơn 200 nghìn người. Nhóm có nguyên tắc khá đơn giản rằng cho đồ, xin đồ, có thể xin việc, nhưng không xin tiền, cho tiền. Nhờ thế, câu chuyện vẫn còn giữ được chút trong trẻo của việc một người thừa cái gì đó và một người khác vừa hay đang thiếu.

Triển lãm “Địa tầng ký ức" vào ngày khai mạc.

Cuộc đối thoại giữa đất và ánh sáng

Các tác phẩm trong triển lãm “Địa tầng ký ức”, diễn ra tại Bảo tàng nghệ thuật Quang San, TP Hồ Chí Minh từ ngày 24/7 đến 23/8 được họa sĩ Vũ Đức Hiếu (Hiếu Mường) bày chung với đồng nghiệp, được chắt lọc từ quá trình nghiên cứu và thực hành nghệ thuật của anh hơn hai mươi năm.

Ban Chấp hành khóa X ra mắt đại hội.

Chờ gỡ mối buộc cho sân khấu vươn mình

Mở đầu cho chuỗi đại hội các hội văn học, nghệ thuật nhiệm kỳ mới sắp lần lượt diễn ra, Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam lần thứ X, nhiệm kỳ 2026-2031 vừa gióng lên những khó khăn, bất cập với đời sống sân khấu và một phần cũng là của đời sống văn học, nghệ thuật. Thời Nay chia sẻ một số nhìn nhận thẳng thắn và kỳ vọng phát đi từ đại hội.

Vợ chồng nhà thơ Vũ Cao.

Nhà thơ Vũ Cao thực hành văn nghệ

LTS: Gần đây, dư luận xã hội quan tâm bàn luận nhiều về nhà văn, nghề văn, công việc cầm bút, cả những vấn đề nhân cách, đạo đức, quan hệ xã hội, tinh thần lao động nghề nghiệp, ý thức dấn thân, cống hiến… Với nhiều góc nhìn khác nhau và những ý kiến đa chiều, có sự ghi nhận, tôn vinh, nhưng cũng có cả những băn khoăn, những đánh giá chưa đầy đủ hoặc thái độ coi thường…

Bày tranh kể niềm hạnh phúc với Việt Nam

Bày tranh kể niềm hạnh phúc với Việt Nam

Họa sĩ Lester, hội viên Hội Nhà văn Anh Quốc, từng có nhiều triển lãm tại Vương quốc Anh. Chiều qua 2/8 tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (Hà Nội), đã diễn ra lễ khai mạc triển lãm “Việt Nam - Niềm đam mê khám phá” của anh.