Nhưng để thu được thành quả, thì những trở ngại, bất cập cần được xác định rõ nhằm tháo gỡ. Chúng tôi đã nhận được nhiều ý kiến “kể khổ” từ những người đang trực tiếp phát triển kinh tế trên nền di sản.
Ông Nguyễn Văn Đoại, Chủ tịch HĐQT, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp và Dịch vụ tổng hợp Đại Nam (Đông Anh, Hà Nội):
Vốn ít, chưa có cách tiếp cận khách hàng hiện đại
Tôi cho rằng, hành trình xây dựng thương hiệu từ di sản không phải điều gì quá lớn lao, xa vời mà hoàn toàn có thể bắt đầu từ nét đặc thù, hệ sinh thái của địa phương. Chúng tôi lựa chọn đi từ cái gốc, bám vào đất đai, khí hậu, tập quán canh tác và kinh nghiệm sản xuất, sự chuyển mình… qua nhiều thế hệ.
Dù vậy, chúng tôi cũng gặp không ít khó khăn. Đầu tiên là vấn đề vốn bởi những mô hình này phải đầu tư dài hạn, trong đó cần quan tâm tới hạ tầng phục vụ trải nghiệm. Ngoài ra là hạn chế trong kết nối thị trường, năng lực làm thương hiệu. Nhiều sản phẩm có chất lượng, có câu chuyện, song khi đưa ra thị trường vẫn loay hoay do chưa có chiến lược truyền thông bài bản, chưa biết cách tiếp cận người tiêu dùng hiện đại.
Bà Lường Thị Hồng Tươi, thành viên Hợp tác xã Du lịch và Nông nghiệp Vặt Hồng (Sơn La):
Bà con quen làm nông hơn
Khó khăn cơ bản của chúng tôi là đôi khi còn lúng túng trong câu chuyện làm sao để vừa giữ được bản sắc mà vẫn nâng cao chất lượng dịch vụ. Bà con quen làm nông, chưa quen làm du lịch nên từ cách đón tiếp, phục vụ đến giới thiệu văn hóa đều phải học từ đầu, học mỗi ngày. Việc quảng bá, kết nối với các công ty lữ hành, đưa khách về bản vẫn còn hạn chế.
Nghệ nhân Nguyễn Thị Hằng, Giám đốc Hợp tác xã thêu tay Mỹ Đức (Hà Nội):
Mâu thuẫn công nhiều - giá rẻ
Nếu chạy theo thị trường một cách giản đơn, chắc chắn sẽ đánh mất bản sắc còn giữ nguyên, không đổi mới thì khó tồn tại. Thách thức lớn nhất với chúng tôi làm sao để nghề truyền thống đi vào đời sống thật tự nhiên bởi có không ít nhóm nghề cần rất nhiều thời gian, trong khi thị trường lại quen với sản phẩm nhanh, rẻ.
Bà Lò Thị Trang, đại diện cơ sở du lịch cộng đồng Lake View (xã Tiền Phong, tỉnh Phú Thọ):
Thiếu chia sẻ thông tin từ cơ quan quản lý
Chúng tôi làm du lịch cộng đồng trong những không gian đặc thù, nơi mà cảnh quan, sự yên tĩnh và nhịp sống tự nhiên của cộng đồng làm nên sức hút với du khách. Bởi vậy, khi có những thay đổi lớn về hạ tầng, đặc biệt là các tuyến giao thông đi qua khu vực thì đã ảnh hưởng trực tiếp đến trải nghiệm của du khách và sinh kế của người dân. Thực tế thời gian qua, tại địa phương chúng tôi, những biến động như quy hoạch và triển khai tuyến đường cao tốc đã khiến nhiều cơ sở du lịch gặp khó khăn, thậm chí phải tạm dừng hoạt động. Việc kinh doanh gián đoạn còn dẫn tới sự đứt gãy trong quá trình gây dựng niềm tin với du khách và đối tác.
Điều tôi trăn trở là người dân thường ở thế bị động trước những thay đổi lớn. Khi thông tin đến muộn hoặc chưa đầy đủ, chúng tôi rất khó để chuẩn bị, điều chỉnh mô hình hay tìm hướng đi mới. Vì vậy, chúng tôi mong mỏi có sự chia sẻ thông tin kịp thời, rõ ràng hơn từ các cơ quan quản lý, đặc biệt trong các quy hoạch liên quan trực tiếp đến không gian sinh kế của người dân.
Ông Thào A Vạng, thành viên Hợp tác xã Nậm Nghẹp (Sơn La):
Đối mặt thiên tai thường trực
Chúng tôi canh tác sản xuất, làm du lịch, đóng góp cho di sản trong điều kiện rất đặc biệt của vùng cao khắc nghiệt, vài năm nay liên tục xảy ra mưa đá, sương muối làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới mùa hoa, mùa quả táo mèo. Cây mất mùa, thu nhập giảm, du lịch hay di sản cũng bị ảnh hưởng theo do đời sống người dân gắn chặt với tự nhiên. Do vậy, tôi nghĩ làm kinh tế ở quê hương mình không thể theo cách bình thường được nữa mà phải tính đến yếu tố thiên tai ngay từ đầu.
Trước đây, bà con chủ yếu trông vào một mùa hoa, mùa quả và như vậy rất rủi ro. Bây giờ, chúng tôi đang cố gắng làm đa dạng hơn, không để phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết. Một hướng đi bền vững cho di sản chính là bám vào đời sống thật. Du khách có thể đến vào nhiều thời điểm khác nhau, tham gia các công việc hằng ngày và dù thời tiết có thay đổi, người dân vẫn cần duy trì hoạt động.
Tôi thấy cần thiết phải có thêm sự hỗ trợ để bà con thích ứng tốt hơn với thiên tai, như hướng dẫn cách chăm sóc, phục hồi cây trồng sau mưa đá, tìm thêm những cây, sản phẩm khác phù hợp với điều kiện khí hậu. Đóng góp cho di sản mà chỉ trông vào nguồn thì hoàn toàn bị động. Điều nữa là cần thay đổi cách nhìn về du lịch vùng miền. Không phải lúc nào cũng phải đẹp, thuận lợi mà chính khó khăn, khắc nghiệt của thiên nhiên, cuộc sống cũng là một phần câu chuyện đầy chân thực, du khách sẽ hiểu và trân trọng hơn.
Bà Lý Sao Mai, đại diện Tổ hợp tác sản xuất giấy dó thủ công bản Sưng (Cao Sơn, Phú Thọ):
Kết nối chưa thuận lợi, giao thông khó khăn
Trong suốt nhiều năm, bản của tôi gần như không có sóng điện thoại. Muốn gọi, phải đi ra một điểm cao, có khi đứng rất lâu mới bắt được tín hiệu. Trong thiếu thốn, chúng tôi sống chậm, bám vào rừng, vào suối với những công việc quen thuộc của người Dao Tiền là làm giấy dó, in sáp ong, nhuộm chàm… Nhiều lúc tôi nghĩ, giữ được nghề đã là may mắn mặc dù đó cũng là nỗi lo.
Là phụ nữ, chăm lo gia đình lại giữ nghề và phải tính sao để nghề không mất đi. Những di sản liên quan tới giấy dó, vải chàm, nghề dệt còn gắn với chữ viết, nghi lễ, ký ức của đồng bào ta. Khó khăn của chúng tôi còn là làm sao để mọi người biết đến mình. Khi bản chưa có kết nối thuận lợi, giao thông khó khăn, sản phẩm làm ra chủ yếu còn ở bản.
Tôi mong có sự kết nối nhiều hơn, ngoài phương tiện còn là kết nối giữa người làm nghề với thị trường và những người hiểu và trân trọng giá trị truyền thống. Tôi cũng nghĩ, nếu chỉ giữ nghề thì chưa đủ mà khi ta coi đó là một phần của di sản thì phải gắn lại với nhau mới có thể tìm được chỗ đứng.
Nghệ nhân Hà Thị Vinh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ và làng nghề Hà Nội:
Không thiếu di sản nhưng thiếu ngôn ngữ chung
Tôi muốn nhìn nhận câu chuyện xây dựng thương hiệu từ di sản ở bình diện rộng cho cả hệ sinh thái làng nghề. Mỗi nơi một nét đặc thù là tốt, nhưng về lâu dài nếu thiếu liên kết và định hướng chung thì giá trị di sản rất khó được nâng tầm tương xứng dù từng sản phẩm riêng lẻ có thể rất tốt. Nhiều năm làm nghề và tham gia công tác hiệp hội, tôi thấy điểm nghẽn lớn không nằm ở việc chúng ta thiếu di sản mà là thiếu tổ chức và thiếu ngôn ngữ chung để đưa di sản lan tỏa rộng.
Chúng ta có rất nhiều làng nghề, mỗi nơi một thế mạnh, song rõ ràng chưa kết nối thành chuỗi, chưa hình thành được những thương hiệu vùng, thương hiệu quốc gia đủ mạnh để cạnh tranh. Sau cùng, điều cốt lõi vẫn là yếu tố con người. Nghệ nhân phải là đội ngũ nắm giữ tri thức, tinh thần di sản. Nếu không có cơ chế để họ sống được bằng nghề, sáng tạo và được tôn vinh đúng lúc, đúng mức thì rất khó nói đến phát triển bền vững.
Họa sĩ, Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Tấn Phát (Đường Lâm, Hà Nội): “Hiện nay nhiều sản phẩm từ di sản đang bị “cào bằng” để dễ tiếp cận thị trường. Đồng nghĩa với giảm bớt công đoạn, rút ngắn thời gian, đơn giản hóa kỹ thuật. Điều này có thể giúp bán được nhiều hơn trong ngắn hạn, song về lâu dài sẽ làm mất đi chiều sâu mang tính nền tảng của di sản”.