Tại Hội nghị toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết 79 về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết 80 về phát triển văn hóa Việt Nam (ngày 25/2/2026), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ: “Phát triển công nghiệp văn hóa để văn hóa vừa là nền tảng tinh thần, vừa là nguồn lực kinh tế, vừa là sức mạnh mềm của quốc gia”. Và như thế, phát triển công nghiệp văn hóa không còn là câu chuyện riêng của nghệ thuật hay giải trí, mà đã trở thành một định hướng phát triển quốc gia, xây dựng đất nước trong “kỷ nguyên phát triển mới” với mô hình tăng trưởng chuyển mạnh từ chiều rộng sang chiều sâu, từ khai thác tài nguyên sang khai thác tri thức, sáng tạo và sức mạnh mềm văn hóa.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và kinh tế sáng tạo…, công nghiệp văn hóa phát triển, văn hóa ngày càng trở thành nguồn lực cạnh tranh chiến lược, thì kiến trúc được nhìn nhận như một ngành sáng tạo cốt lõi, một công cụ tổ chức đời sống xã hội, một nền tảng của kinh tế sáng tạo và một phương tiện kiến tạo bản sắc quốc gia…
Kiến trúc - nền tảng không gian của công nghiệp văn hóa
Không một ngành công nghiệp văn hóa nào có thể phát triển nếu thiếu không gian kiến trúc phù hợp. Nếu như xưa kia, đình làng với sân đình, hồ đình là nơi diễn ra hội làng, diễn chèo, múa rối nước… thì thời hiện đại, ngành điện ảnh cần đến phim trường và bối cảnh đô thị, các di sản thiên nhiên, di sản kiến trúc hay các công trình kiến trúc hiện đại đặc sắc. Nghệ thuật biểu diễn cần quảng trường, nhà hát, sân vận động thể thao, không gian công cộng. Kinh tế đêm cần phố đi bộ, bến nước, bến sông… Du lịch văn hóa cần các khu phố di sản, công trình biểu tượng và cảnh quan đặc sắc. Thiết kế sáng tạo cần các trung tâm đổi mới, không gian làm việc cộng đồng và hệ sinh thái đô thị sáng tạo. Tất cả những điều đó cho thấy, kiến trúc chính là hạ tầng vật chất của công nghiệp văn hóa.
Nhìn ra thế giới, những đô thị thành công nhất hiện nay đều là các đô thị biết khai thác sức mạnh của kiến trúc và không gian văn hóa. Paris (Pháp) trở thành “kinh đô ánh sáng”, biểu tượng toàn cầu không chỉ bởi bề dày văn hóa-lịch sử mà còn nhờ nghệ thuật cấu trúc đô thị và di sản kiến trúc đặc sắc. Bilbao của Tây Ban Nha từng là thành phố công nghiệp suy thoái, nhưng đã hồi sinh mạnh mẽ nhờ chiến lược phát triển kiến trúc văn hóa với Bảo tàng Guggenheim của KTS Frank Gehry như một biểu tượng toàn cầu. Singapore xây dựng thương hiệu quốc gia dựa trên đô thị xanh, kiến trúc tương lai và không gian công cộng chất lượng cao. Hàn Quốc, với trung tâm là Seoul đã phát triển công nghiệp sáng tạo bằng tái sinh đô thị, khôi phục dòng suối Cheonggyecheon và biến công nghiệp giải trí (K-pop, K-drama và điện ảnh) như một công cụ truyền thông quyền lực mềm, đưa hình ảnh Hàn Quốc ra toàn thế giới.
Đối với Việt Nam, đây là vấn đề đặc biệt quan trọng. Một đất nước có lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, có nền văn hóa đa dạng và điều kiện cảnh quan đặc sắc hoàn toàn có khả năng phát triển công nghiệp văn hóa thành ngành kinh tế mũi nhọn. Nhưng để làm được điều đó, đòi hỏi phải có nền quản trị kiến tạo, có nền kiến trúc mang bản sắc, có không gian văn hóa hấp dẫn và có các đô thị đủ sức cạnh tranh toàn cầu.
Theo cách tiếp cận của UNESCO, kiến trúc nằm trong nhóm các ngành công nghiệp sáng tạo. Giá trị cốt lõi của kiến trúc không chỉ nằm ở vật liệu hay chi phí xây dựng mà nằm ở tư duy sáng tạo, tri thức, bản sắc và khả năng tổ chức không gian sống. Điều này có nghĩa rằng kiến trúc có thể trực tiếp tạo ra giá trị kinh tế lớn. Một đồ án quy hoạch tốt có thể làm gia tăng giá trị đất đai và chất lượng đô thị trong hàng trăm năm. Một công trình biểu tượng có thể tạo ra thương hiệu quốc gia và thu hút hàng triệu du khách. Một khu phố sáng tạo có thể trở thành trung tâm khởi nghiệp và kinh tế tri thức. Một không gian công cộng hấp dẫn có thể thúc đẩy thương mại, du lịch và kinh tế đêm.
Sau Đại hội XIV của Đảng, đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, đẩy mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng kinh tế xanh, kinh tế số và kinh tế sáng tạo. Trong bối cảnh ấy, kiến trúc không còn là ngành “phụ trợ cho xây dựng” mà sẽ phải trở thành một ngành kinh tế văn hóa có giá trị gia tăng cao. Điều này cũng đòi hỏi thay đổi căn bản trong nhận thức xã hội đối với nghề KTS. Họ không chỉ là người vẽ nhà mà là người kiến tạo không gian văn hóa, tổ chức đời sống cộng đồng và định hình tương lai đô thị.
Từ “thiết kế công trình” đến “kiến tạo sức mạnh mềm quốc gia”
Một quốc gia muốn phát triển công nghiệp văn hóa thành công phải có hình ảnh nhận diện rõ ràng. Bản sắc quốc gia không thể chỉ được truyền tải qua khẩu hiệu mà phải được thể hiện bằng không gian, cảnh quan và kiến trúc… Đây không chỉ là câu chuyện kiến trúc mà là chiến lược quốc gia.
Một nền kiến trúc mất bản sắc sẽ khiến đô thị trở nên vô danh, nghèo cảm xúc và khó cạnh tranh quốc tế. Ngược lại, một nền kiến trúc biết kết hợp truyền thống với hiện đại sẽ tạo nên sức hút đặc biệt. Việt Nam có lợi thế rất lớn, kiến trúc nhiệt đới; văn hóa làng xã; cấu trúc đô thị ven sông, cảnh quan tự nhiên đa dạng, di sản thiên nhiên, văn hóa-lịch sử phong phú, tri thức bản địa về khí hậu, về vật liệu phong phú.
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu hiện nay, sức mạnh mềm văn hóa nhiều khi có ảnh hưởng lâu dài hơn cả sức mạnh kinh tế. Kiến trúc vì vậy sẽ là một công cụ quan trọng để nâng cao vị thế quốc gia.
Một trong những thách thức lớn nhất của Việt Nam hiện nay là nhiều đô thị đang phát triển thiếu bản sắc và thiếu chiều sâu văn hóa. Không ít nơi bị cuốn vào vòng xoáy bất động sản hóa, bê-tông hóa và phát triển ngắn hạn. Hệ quả là, không gian công cộng suy giảm, di sản bị xâm lấn, cảnh quan tự nhiên bị phá vỡ, nhiều đô thị trở nên giống nhau, chất lượng sống đô thị giảm sút.
Theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng có thể thấy, nếu muốn phát triển bền vững, Việt Nam phải chuyển từ mô hình “đô thị tăng trưởng nóng” sang “đô thị văn hóa và sáng tạo”. Trong mô hình ấy, kiến trúc có vai trò trung tâm: Tái thiết các khu công nghiệp cũ thành không gian sáng tạo, phục hồi các dòng sông đô thị, phát triển quảng trường và không gian công cộng, kết nối di sản với đời sống hiện đại, hình thành các hành lang văn hóa, xây dựng các biểu tượng đô thị mới. Không gian quanh Hồ Hoàn Kiếm tại Hà Nội là thí dụ tiêu biểu. Đây không chỉ là khu vực cảnh quan văn hóa-lịch sử mà thực chất còn là “trung tâm công nghiệp văn hóa” của Thủ đô, nơi hội tụ: Du lịch, nghệ thuật đường phố, ký ức đô thị, không gian đi bộ, thương mại văn hóa, biểu tượng lịch sử quốc gia. Nếu được quy hoạch và quản trị đúng hướng, các không gian như Hồ Gươm, Hồ Tây, sông Hồng của Hà Nội, hay các đô thị di sản như Huế, Hội An, Đà Lạt… sẽ trở thành những trung tâm công nghiệp văn hóa của Việt Nam có sức cạnh tranh quốc tế và lan tỏa toàn cầu.
Thách thức lớn nhất của kiến trúc Việt Nam hiện nay không phải thiếu tài năng mà là thiếu triết lý phát triển dài hạn. Phải thay đổi tận gốc tư duy phát triển: Kiến trúc không chỉ tạo ra công trình mà phải tạo ra chất lượng sống, lấy con người làm trung tâm, lấy văn hóa làm nền tảng, lấy sinh thái làm giới hạn, lấy cộng đồng làm mục tiêu phục vụ. Đây là điều kiện để công nghiệp văn hóa phát triển bền vững thay vì chỉ là hoạt động thương mại hóa giải trí.
Thay lời kết
Phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ là mục tiêu văn hóa mà là chiến lược phát triển quốc gia trong thời đại kinh tế sáng tạo và cạnh tranh bằng sức mạnh mềm. Trong chiến lược ấy, kiến trúc giữ vai trò đặc biệt quan trọng bởi kiến trúc chính là nơi giao thoa giữa văn hóa và kinh tế, truyền thống và hiện đại, nghệ thuật và công nghệ, bản sắc dân tộc và hội nhập toàn cầu.
Và khi ấy, kiến trúc sẽ không còn chỉ là hoạt động thiết kế-xây dựng công trình mà phải trở thành nền tảng không gian của công nghiệp văn hóa; là động lực tái sinh đô thị, bảo tồn, tôn tạo di sản; là công cụ nâng cao chất lượng sống, phương tiện xây dựng thương hiệu quốc gia; là nguồn lực của kinh tế sáng tạo, biểu hiện của sức mạnh mềm Việt Nam.