Bộ Nội vụ đã xây dựng dự thảo Nghị định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố; chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố (sau đây gọi tắt là dự thảo Nghị định). Văn bản đang được Bộ Tư pháp thẩm định.
Cả nước còn hơn 89 nghìn tổ dân phố
Bộ Nội vụ cho biết, thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW và các quy định của pháp luật hiện hành, việc sắp xếp thôn, tổ dân phố (dưới đây gọi tắt là tổ dân phố) thời gian qua đã đạt kết quả quan trọng, giảm từ 136.824 đơn vị năm 2015 xuống còn 89.574 năm 2025 (giảm 47.250 thôn, tổ dân phố, tương đương 34,53%,).
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thôn, tổ dân phố chưa bảo đảm tiêu chí về quy mô số hộ gia đình theo quy định hiện hành và không đồng đều giữa các vùng, miền. Sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã năm 2025, bình quân số thôn, tổ dân phố trên mỗi đơn vị hành chính cấp xã tăng lên nhiều (từ khoảng 9 thôn, tổ dân phố/1 cấp xã lên khoảng 27 thôn, tổ dân phố/1 cấp xã), làm tăng số lượng đầu mối và tạo áp lực quản lý lớn đối với chính quyền cấp xã; đồng thời quy định hiện hành chưa được điều chỉnh phù hợp thực tiễn hiện nay.
Cũng theo số liệu tổng hợp từ các địa phương, vào thời điểm tháng 12/2024, cả nước có 271.945 người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố. Sau khi thực hiện sắp xếp, còn 268.722 người đang tiếp tục được bố trí và hưởng phụ cấp theo quy định hiện hành. Ngân sách nhà nước chi khoảng 943 tỷ đồng/tháng (tương đương khoảng 11.316 tỷ đồng/năm) để chi phụ cấp đối với đội ngũ này.
Trong thời gian qua, việc bố trí, sử dụng đội ngũ này cơ bản được thực hiện theo quy định hiện hành và bước đầu đáp ứng yêu cầu hoạt động ở cơ sở. Tuy nhiên, khi thực hiện sắp xếp theo hướng tăng quy mô thôn, tổ dân phố, khối lượng và tính chất công việc có sự thay đổi, đòi hỏi phải tiếp tục rà soát, điều chỉnh chế độ, chính sách và phương án bố trí cho phù hợp, bảo đảm tương xứng với quy mô, tính chất công việc và yêu cầu nhiệm vụ trong bối cảnh mới.
Bộ Nội vụ nêu rõ, việc xây dựng Nghị định của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố là cần thiết nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương, kết luận của Đảng về sắp xếp thôn, tổ dân phố và kiện toàn tổ chức hệ thống chính trị ở cơ sở; cụ thể hóa quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 và các quy định pháp luật có liên quan; đồng thời tạo cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ để thực hiện sắp xếp thôn, tổ dân phố phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở cơ sở, bảo đảm chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách và đáp ứng yêu cầu quản lý trong tình hình mới.
Bổ sung, hoàn thiện để phù hợp thực tiễn và vận hành chính quyền địa phương 2 cấp
Với 4 chương, 16 điều, dự thảo Nghị định có một số nội dung cơ bản và điểm mới dưới đây.
Thứ nhất, dự thảo cơ bản kế thừa các quy định hiện hành về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố; đồng thời bổ sung, hoàn thiện một số quy định để phù hợp với thực tiễn và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
Cụ thể: Thôn, tổ dân phố được tổ chức tại xã, phường và đặc khu. Thôn được tổ chức ở xã, tổ dân phố được tổ chức ở phường; phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định việc tổ chức loại hình thôn, tổ dân phố ở đặc khu để phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn của từng đặc khu; tiếp tục khẳng định thôn, tổ dân phố là tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư, nơi thực hiện dân chủ trực tiếp và tổ chức để nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ được chính quyền cấp xã giao.
Về nguyên tắc tổ chức, hoạt động, dự thảo Nghị định cơ bản kế thừa các quy định hiện hành; đồng thời bổ sung yêu cầu bảo đảm cơ cấu tổ chức tinh gọn, hiệu quả, phù hợp với quy mô dân cư và yêu cầu quản lý của chính quyền cấp xã; phân định rõ nhiệm vụ hỗ trợ quản lý nhà nước với nhiệm vụ tự quản của cộng đồng dân cư; tăng cường công khai, minh bạch, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố.
Dự thảo đồng thời quy định hoạt động của thôn, tổ dân phố phải phối hợp chặt chẽ với Ban Công tác Mặt trận thôn, tổ dân phố, lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở và các tổ chức tự quản trên địa bàn; gắn với nội dung hoạt động của chi bộ đảng ở thôn, tổ dân phố nhằm phát huy vai trò của nhân dân trong quản lý cộng đồng dân cư. Giao Bộ trưởng Nội vụ theo thẩm quyền quy định cụ thể về cơ cấu tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố.
Thứ hai là nội dung về thành lập, tổ chức lại, giải thể, đặt tên, đổi tên thôn, tổ dân phố.
Về nguyên tắc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể và đặt tên, đổi tên thôn, tổ dân phố, dự thảo Nghị định cơ bản kế thừa các quy định hiện hành, đồng thời sửa đổi, bổ sung các nguyên tắc để phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp và yêu cầu quản lý của chính quyền cấp xã.
Theo đó, việc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể và đặt tên, đổi tên thôn, tổ dân phố phải bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật, dân chủ, công khai, minh bạch; phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội, đặc điểm dân cư, phong tục, tập quán và nguyện vọng của cộng đồng dân cư; thực hiện sắp xếp, tổ chức lại các thôn, tổ dân phố chưa bảo đảm tiêu chí để tinh gọn đầu mối, nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở.
Về tiêu chí thành lập thôn, tổ dân phố, dự thảo Nghị định quy định cụ thể tiêu chí quy mô số hộ gia đình đối với thôn, tổ dân phố theo từng vùng, miền trên cơ sở rà soát quy định hiện hành, đánh giá mức độ tập trung dân cư và yêu cầu quản lý sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, bảo đảm có căn cứ thống nhất để các địa phương thực hiện sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố trong cả nước.
Các tiêu chí quy mô số hộ gia đình như sau: (1) Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh: Thôn có từ 500 hộ trở lên, tổ dân phố có từ 700 hộ trở lên; (2) Vùng Trung du và Miền núi phía bắc: Thôn có từ 150 hộ trở lên, tổ dân phố có từ 300 hộ trở lên; (3) Vùng Đồng bằng sông Hồng: Thôn có từ 400 hộ trở lên, tổ dân phố có từ 550 hộ trở lên; (4) Vùng Bắc Trung Bộ: Thôn có từ 350 hộ trở lên, tổ dân phố có từ 450 hộ trở lên; (5) Vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên: Thôn có từ 350 hộ trở lên, tổ dân phố có từ 500 hộ trở lên (Riêng các tỉnh Gia Lai, Lâm Đồng và Đắk Lắk: Thôn có từ 300 hộ trở lên, tổ dân phố có từ 450 hộ trở lên); (6) Vùng Đông Nam Bộ: Thôn có từ 400 hộ trở lên, tổ dân phố có từ 550 hộ trở lên; (7) Vùng Đồng bằng sông Cửu Long thôn có từ 400 hộ trở lên, tổ dân phố có từ 550 hộ trở lên.
Bên cạnh đó, dự thảo Nghị định còn quy định thôn, tổ dân phố phải có cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội thiết yếu phục vụ sinh hoạt cộng đồng; đồng thời giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định quy mô của thôn, tổ dân phố phù hợp đối với các địa bàn biên giới, hải đảo, địa hình chia cắt phức tạp hoặc có yếu tố đặc thù khác.
Về thành lập thôn, tổ dân phố trong các trường hợp đặc biệt, dự thảo Nghị định bổ sung quy định xử lý một số trường hợp đặc biệt phát sinh trong thực tiễn để đơn giản hóa quy trình, thủ tục, tạo thuận lợi cho công tác quản lý của chính quyền cấp xã và sinh hoạt của cộng đồng dân cư như: (1) Chuyển đổi thôn thành tổ dân phố khi thành lập phường; (2) Ghép khu dân cư mới hình thành vào thôn, tổ dân phố hiện có khi chưa đủ điều kiện thành lập thôn, tổ dân phố; (3) Chuyển giao quản lý đối với các thôn, tổ dân phố xâm canh, xâm cư.
Về trình tự, thủ tục, hồ sơ thực hiện, dự thảo Nghị định kế thừa quy trình hiện hành nhưng sửa đổi, bổ sung để phù hợp Luật Tổ chức chính quyền địa phương và Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở hiện hành.
Theo đó, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm xây dựng Đề án; tổ chức lấy ý kiến nhân dân bằng hình thức phù hợp theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở; tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến của nhân dân để hoàn thiện hồ sơ trình hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định việc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể, đặt tên, đổi tên thôn, tổ dân phố. Đối với những nơi không tổ chức cấp chính quyền địa phương thì Ủy ban nhân dân cấp xã xây dựng Đề án và quyết định theo thẩm quyền.
Thứ ba, dự thảo xây dựng quy định số lượng, chức danh và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố.
Trước hết về số lượng, chức danh và quỹ phụ cấp.
Dự thảo Nghị định quy định thống nhất người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố có 3 chức danh: Bí thư chi bộ, Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng tổ dân phố và Trưởng Ban công tác Mặt trận. Đồng thời, thực hiện điều chỉnh tăng mức khoán quỹ phụ cấp từ ngân sách nhà nước so với quy định hiện hành, bảo đảm phù hợp với quy mô thôn, tổ dân phố và khối lượng công việc sau sắp xếp (tăng từ mức 6,0 lần lên mức 8,0 lần mức lương cơ sở đối với thôn, tổ dân phố có yếu tố đặc thù; tăng từ 4,5 lần lên 6,5 lần mức lương cơ sở đối với các thôn, tổ dân phố còn lại).
Trên cơ sở mức khoán của ngân sách Trung ương và khả năng cân đối của ngân sách địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định mức phụ cấp cụ thể đối với từng chức danh, phụ cấp kiêm nhiệm và mức hỗ trợ đối với các chức danh khác ở thôn, tổ dân phố theo quy định của pháp luật có liên quan.
Về chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách, dự thảo Nghị định tiếp tục quy định chế độ đào tạo, bồi dưỡng theo hướng bảo đảm đội ngũ này được nâng cao năng lực, kỹ năng thực hiện nhiệm vụ, nhất là kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số; đồng thời bổ sung quy định quỹ khoán do ngân sách nhà nước bao gồm hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố để bảo đảm chế độ, chính sách đối với đối tượng này theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội hiện hành.
Thứ tư, về điều khoản thi hành, dự thảo Nghị định quy định cụ thể nguồn kinh phí thực hiện chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố do ngân sách nhà nước bảo đảm theo phân cấp ngân sách hiện hành; đồng thời Quỹ Bảo hiểm xã hội bảo đảm chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật.
Dự thảo Nghị định bổ sung điều khoản chuyển tiếp để bảo đảm ổn định tổ chức trong quá trình sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố và bố trí đội ngũ người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố dôi dư sau sắp xếp. Trong đó, quy định việc tổ chức loại hình thôn, tổ dân phố đối với một số địa bàn đặc thù; quy định chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách nghỉ việc do sắp xếp; quy định chuyển tiếp về thực hiện bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố và trách nhiệm của địa phương trong việc bố trí kinh phí để thực hiện đóng, truy đóng theo quy định.