Ðẩy mạnh ứng dụng năng lượng nguyên tử trong y tế

Thời gian qua, việc nghiên cứu, ứng dụng năng lượng nguyên tử (NLNT) phục vụ phát triển kinh tế - xã hội được quan tâm, đẩy mạnh. Trong đó, ứng dụng NLNT ở lĩnh vực y tế đã có những bước tiến vượt bậc trong chẩn đoán, điều trị, nhất là bệnh ung thư.

Chuẩn bị ca chụp PET/CT tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu (Bệnh viện Bạch Mai).
Chuẩn bị ca chụp PET/CT tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu (Bệnh viện Bạch Mai).

Năm 2006, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 01/2006/QÐ-TTg phê duyệt Chiến lược ứng dụng NLNT vì mục đích hòa bình đến năm 2020 (viết tắt là Chiến lược) mở ra một giai đoạn mới để NLNT phát huy tiềm năng và có những đóng góp hiệu quả hơn cho đất nước. Ngày 3-6-2008, Quốc hội ban hành Luật NLNT tạo hành lang pháp lý cho nghiên cứu, ứng dụng và bảo đảm an toàn, an ninh lĩnh vực NLNT. Thực hiện Chiến lược, đến nay, các cơ sở y học hạt nhân, xạ trị, điện quang đã được đầu tư tương đối đồng bộ, hình thành từ Trung ương tới địa phương. Theo thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH và CN), đến cuối năm 2020, cả nước có 40 cơ sở y học hạt nhân, chủ yếu tập trung ở các tỉnh, thành phố lớn; có khoảng 52 thiết bị xạ hình, đạt tỷ lệ khoảng 0,55 máy/một triệu dân. Cả nước có 42 cơ sở xạ trị, với 96 thiết bị xạ trị, đạt tỷ lệ một thiết bị/một triệu dân; có khoảng 8.770 thiết bị X-quang, gần 900 máy chụp cắt lớp vi tính, 280 máy chụp cộng hưởng từ và hơn 70 máy chụp mạch máu số hóa xóa nền DSA. Với số lượng quy mô máy móc, trang thiết bị gia tăng như nêu trên, việc sử dụng dược chất phóng xạ cũng tăng cao. Viện Nghiên cứu hạt nhân (thuộc Viện NLNT Việt Nam, Bộ KH và CN) đã vận hành lò phản ứng hạt nhân Ðà Lạt, cung cấp đồng vị và dược chất phóng xạ, đáp ứng đủ nhu cầu cho các cơ sở y học hạt nhân trên cả nước.

TS Trần Bích Ngọc, Phó Cục trưởng NLNT (Bộ KH và CN) cho biết: Ứng dụng NLNT trong lĩnh vực y tế giúp phát hiện, chẩn đoán, điều trị các ca bệnh hiểm nghèo. Nhiều kỹ thuật điều trị y học hạt nhân hiện đại ở tầm khu vực và quốc tế đã được triển khai tại Việt Nam như: Ðiều trị ung thư tế bào gan (HCC) bằng kỹ thuật gây tắc mạch bằng các hạt vi cầu phóng xạ; điều trị miễn dịch phóng xạ bằng kháng thể đơn dòng gắn đồng vị phóng xạ; cấy hạt phóng xạ trong điều trị ung thư tuyến tiền liệt; xạ hình SPECT tưới máu cơ tim; đánh giá cơ tim sống sót bằng chụp FDG PET/CT; chụp xạ hình hạch gác và sử dụng đầu dò gamma trong phẫu thuật ung thư vú; chụp xạ hình SPECT Tc99m gắn hồng cầu chẩn đoán u mao mạch gan... Nhờ đó, nhiều người không phải ra nước ngoài để chẩn đoán, điều trị.

Ðáng chú ý, tại một số bệnh viện lớn như: Chợ Rẫy, Trung ương Huế, K và Trung ương quân đội 108 đã đưa vào sử dụng hệ thống máy gia tốc xạ trị LINAC thế hệ mới cho phép thực hiện nhiều kỹ thuật xạ trị tiên tiến, giúp điều trị hiệu quả nhiều loại bệnh ung thư, như: Vòm họng, thực quản, cổ tử cung, phổi, tuyến tiền liệt...

Việt Nam được đánh giá là nước ứng dụng NLNT vào hoạt động y tế nhanh nhất trong khu vực, nhất là ở các lĩnh vực: Ðiện quang, y học hạt nhân, xạ trị ung thư. Thời gian tới, nhiều dự án trung tâm y học hạt nhân, xạ trị quy mô lớn sẽ tiếp tục được triển khai, xây dựng nhằm đưa các công nghệ chẩn đoán, điều trị bức xạ tiên tiến của thế giới có mặt tại Việt Nam. TS Trần Bích Ngọc cho rằng, cơ chế, chính sách và hệ thống quản lý vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện để phù hợp điều kiện thực tiễn, nhất là vấn đề quản lý nguồn phóng xạ đã qua sử dụng. Ứng dụng bức xạ, đồng vị phóng xạ có nhiều tiềm năng, triển vọng, nhưng mức độ đầu tư của bộ, ngành và sự quan tâm của doanh nghiệp chưa tương xứng. Cơ chế xã hội hóa đã được áp dụng trong lĩnh vực y tế, nhưng vẫn cần có những giải pháp để phát huy hiệu quả. Hiện nay, trong đội ngũ cán bộ có nguy cơ thiếu hụt lực lượng chuyên gia, do đó cần tổ chức đào tạo ở trình độ đại học và sau đại học, nhất là cán bộ quản lý, chuyên gia trong lĩnh vực bức xạ và đồng vị phóng xạ. Bên cạnh đó, cần tiếp tục đầu tư kinh phí cho nghiên cứu sản xuất đồng vị và dược chất phóng xạ, nghiên cứu chế tạo trang thiết bị y tế công nghệ cao trên cơ sở phù hợp trình độ công nghệ và năng lực của doanh nghiệp. Việc nghiên cứu dược chất phóng xạ phải gắn liền với đào tạo, huấn luyện cán bộ, chuyển giao và hoàn thiện công nghệ.

Có thể bạn quan tâm

Các đại biểu tham dự hội thảo quốc tế do Trường đại học Intracom phối hợp các đơn vị tổ chức. (Ảnh: NHẬT MINH)

Ứng dụng khoa học và công nghệ vào cuộc sống - Từ lý luận đến thực tiễn

Ngày 28/1, tại Hà Nội, Trường đại học Intracom phối hợp Tạp chí Pháp luật và Phát triển, Viện khoa học và Bổ trợ Tư pháp (Liên hiệp Hội Người khuyết tật Việt Nam), Tạp chí Vận động, Nghiên cứu và Giáo dục (JARE)… tổ chức hội thảo quốc tế “Thúc đẩy ứng dụng khoa học và công nghệ vào cuộc sống - Từ lý luận đến thực tiễn”.

Người dân đến giải quyết thủ tục hành chính tại Trung tâm Phục vụ Hành chính công-Chi nhánh số 3-phường Đống Đa, Hà Nội. (Ảnh: nhandan.vn)

Khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu quốc gia

Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức có vai trò thống nhất và chuẩn hóa thông tin nhân sự trong toàn bộ hệ thống cơ quan nhà nước, từ đó có cái nhìn toàn diện về số lượng, chất lượng, cơ cấu đội ngũ nhằm đưa ra các quyết định quản lý và sử dụng nhân sự một cách khoa học, hợp lý.

Sinh viên Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh thực hành nghiên cứu khoa học.

Đổi mới nghiên cứu liên ngành trong lĩnh vực khoa học xã hội

Trong thời đại ngày nay, nhiều vấn đề không chỉ là sự quan tâm của một quốc gia đơn lẻ, mà trở thành vấn đề chung của cả khu vực và thế giới. Theo đó, thúc đẩy nghiên cứu đa ngành là con đường tất yếu để giải quyết các vấn đề thực tiễn một cách toàn diện và hiệu quả.

100% cử tri có mặt tại Hội nghị nhất trí giới thiệu đồng chí Vũ Hải Quân, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Thường trực Bộ Khoa học và Công nghệ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI.

Bộ Khoa học và Công nghệ giới thiệu Thứ trưởng Thường trực Vũ Hải Quân ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI

150/150 cử tri có mặt tại hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác đối với người được dự kiến giới thiệu ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI của Bộ Khoa học và Công nghệ đã nhất trí giới thiệu Thứ trưởng Thường trực Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI.

Đông đảo người dân tham dự triển lãm.

Đẩy mạnh ứng dụng khoa học tiên tiến để bảo tồn và phát triển dược liệu

Sáng 23/1, Viện Dược liệu phối hợp UBND phường Cửa Nam (Hà Nội) tổ chức Triển lãm Sách và Dược liệu Việt Nam với chủ đề “Kết nối tri thức vì sức khỏe cộng đồng” tại Phố Sách Hà Nội. Triển lãm nhằm chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng và 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam.

Người dân cần kiểm tra kỹ thông tin trước khi nộp tiền phạt qua mã QR để tránh bị lừa.

Nhận diện chiêu thức lừa đảo nộp phạt “nguội” qua Zalo

Lợi dụng việc mã QR được sử dụng rộng rãi trong các thủ tục hành chính, nhiều đối tượng xấu đã giả mạo thông báo “phạt nguội”, yêu cầu người dân chuyển tiền qua mã QR trên Zalo. Người dân cần nhận diện rõ quy trình nộp phạt hợp pháp và nâng cao cảnh giác để tránh bị lừa.

Cán bộ Sở Khoa học và Công nghệ Thái Nguyên khảo sát để cấp chỉ dẫn địa lý cho gạo nếp Khẩu Nua Lếch. (Ảnh: THU HIỀN)

Đổi mới sáng tạo ở Thái Nguyên

Tỉnh Thái Nguyên đã và đang khẳng định quyết tâm biến khoa học, công nghệ trở thành khâu đột phá để thúc đẩy kinh tế-xã hội. Với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, Thái Nguyên từng bước đẩy nhanh phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham quan các khu vực bên lề lễ khởi công nhà máy chế tạo chip bán dẫn Hòa Lạc.

Việt Nam sẽ bước vào nhóm số ít quốc gia sở hữu năng lực chế tạo chip bán dẫn

Chip bán dẫn hiện là “đòn bẩy” của những nước chi phối công nghệ sản xuất, sử dụng như công cụ chính trị để kiểm soát, kìm hãm kinh tế, công nghiệp an ninh quốc phòng. Việt Nam xác định bán dẫn là một trong những công nghệ chiến lược cần làm chủ, với mắt xích then chốt vừa được công bố: nhà máy sản xuất chip tại Hòa Lạc.

Ứng dụng khoa học, công nghệ là giải pháp hiệu quả để quản lý, bảo vệ tài nguyên biển.

Ứng dụng công nghệ trong quản lý các khu bảo tồn biển

Đến năm 2030, Việt Nam có 27 khu bảo tồn biển, trong đó có 16 khu bảo tồn biển cấp quốc gia, 11 cấp tỉnh với khoảng 20 hệ sinh thái, 11.000 loại thủy sản, khoảng 3.000 đảo. Đây là địa điểm lý tưởng để thực hiện nhiệm vụ lưu giữ, bảo tồn giống, nguồn gen, đa dạng sinh học; phát triển kinh tế, du lịch; phục vụ nghiên cứu khoa học…