Danh tính mới cho hạt gạo Việt

Sau một năm triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh, nông dân Đồng bằng sông Cửu Long đã mạnh dạn thay đổi tư duy sản xuất, để hạt gạo Việt bắt đầu có “danh tính xanh” trên thị trường quốc tế.

Tham gia Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao giúp nông dân miền Tây có sự chuyển biến mạnh mẽ về tư duy sản xuất. (Ảnh NGUYỄN HỮU TÙNG)
Tham gia Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao giúp nông dân miền Tây có sự chuyển biến mạnh mẽ về tư duy sản xuất. (Ảnh NGUYỄN HỮU TÙNG)

Lúa phát thải thấp “ra Bắc”

Ông Lê Thanh Tùng, Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam (VIETRISA) cho biết: Năm 2025, VIETRISA đã phát triển được 148 hội viên (bao gồm tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã và cá nhân). Hiệp hội cũng đã cấp nhãn hiệu “Gạo Việt xanh phát thải thấp” cho tám doanh nghiệp, với diện tích hơn 18.000 ha, lượng gạo được chứng nhận tương ứng 71.420 tấn trong cùng năm. Đặc biệt, Công ty cổ phần nông nghiệp công nghệ cao Trung An là đơn vị đầu tiên đã xuất khẩu thành công 500 tấn gạo mang nhãn hiệu này sang thị trường Nhật Bản, vào tháng 6/2025. Sang năm 2026, hiệp hội dự kiến sẽ mở rộng áp dụng quy trình kỹ thuật, xây dựng thêm nhiều mô hình liên kết và hoàn thiện hệ thống dịch vụ hỗ trợ sản xuất lúa phát thải thấp.

Được biết, bắt đầu từ những mô hình tiên phong ở An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ..., nông dân miền Tây thời gian qua đã mạnh dạn giảm giống, giảm phân, giảm nước trong trồng lúa. Nhờ đó, bà con giảm chi phí, đất khỏe hơn, cây lúa bền hơn.

Theo đó, tổng kết thực hiện đề án trên cho thấy, trong năm 2024 và 2025, qua ba vụ triển khai, bảy mô hình thí điểm ở Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp và An Giang đã giúp giảm chi phí sản xuất 8,2-24,2% so với mô hình đối chứng. Kết quả có được từ việc giảm 30-50% lượng giống gieo sạ, giảm 30-70 kg phân bón/ha, giảm 30-40% lượng nước tưới và giảm 1-4 lần phun thuốc bảo vệ thực vật/vụ so với mô hình đối chứng. Quy trình sản xuất nêu trên đã góp phần tăng năng suất lúa 2,4-7%, thu nhập của nông dân tăng 4-7,6 triệu đồng/ha so với mô hình đối chứng. Quan trọng hơn, quy trình sản xuất này đã góp phần giảm lượng phát thải khí nhà kính từ 2-12 tấn CO2 tương đương/ha (tùy phương thức áp dụng).

Sau kết quả tích cực tại Đồng bằng sông Cửu Long, ông Bùi Bá Bổng, Chủ tịch Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam (Vietrisa), cho biết, ngành nông nghiệp dự kiến sẽ lan tỏa mô hình lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh ra Đồng bằng sông Hồng, với quy mô 500.000 ha.

Bước đi này nhằm nhân rộng hiệu quả giảm chi phí, tăng thu nhập cho nông dân và cắt giảm phát thải khí nhà kính trong sản xuất lúa. Đặc biệt, các địa phương Đồng bằng sông Cửu Long sẽ tiếp tục đồng hành cùng VIETRISA đưa Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao về đích đúng lộ trình 2030.

Cần nhiều hơn những đột phá

Nói về Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao này, ông Cao Đức Phát, nguyên Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường), nguyên Chủ tịch HĐQT Viện Nghiên cứu lúa gạo Quốc tế (IRRI), nhấn mạnh: Đề án giúp duy trì sự phát triển hiệu quả của ngành lúa gạo, cải thiện thu nhập và đời sống người nông dân, đồng thời, giải quyết các vấn đề môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Cụ thể, về kinh tế, ông Phát phân tích: Thế giới sản xuất khoảng 800 triệu tấn lúa mỗi năm, trong đó, khoảng 90% sản lượng tập trung ở các quốc gia châu Á. 90% sản lượng này nằm ở tám nước, gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Bangladesh, Indonesia, Việt Nam, Thái Lan, Philippines và Myanmar. Tại nước ta, nếu sản xuất theo quy trình của Đề án 1 triệu ha, như các mô hình thí điểm đã triển khai, Việt Nam có giá thành sản xuất 1 kg lúa thấp nhất trong nhóm tám nước này, trong khi nông dân thu được lợi nhuận cao.

Ông Phát đánh giá: Hiện tại đề án đã có nhiều thuận lợi về hướng đi, cách triển khai, sự quan tâm hưởng ứng của nông dân, doanh nghiệp, chính quyền các cấp. Tuy nhiên, thời gian tới, các đơn vị liên quan cần đạt được thêm nhiều đột phá, trong đó quan trọng nhất là chú trọng đến công tác mở rộng thị trường, để lúa xanh, sạch của bà con làm ra được các doanh nghiệp săn đón, xuất khẩu ra thế giới với mức giá xứng đáng hơn.

Từ thực tế địa phương, ông Trần Chí Hùng, Phó Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ chỉ rõ: “Cần Thơ có diện tích trồng lúa lớn thứ hai khu vực, chỉ sau tỉnh An Giang. Sau hai năm triển khai đề án, thành phố có điều kiện để nhân rộng với mục tiêu đến năm 2030 đạt khoảng 170.000 ha. Song, khó khăn lớn hiện nay vẫn là sản xuất nhỏ lẻ, liên kết giữa hợp tác xã và doanh nghiệp chưa chặt chẽ. Việc đo đếm phát thải khí nhà kính dù đã có quy trình và thiết bị nhưng chi phí còn cao, phụ thuộc nhiều vào cán bộ kỹ thuật và chuyên gia”.

Với An Giang - vựa lúa lớn nhất vùng châu thổ Cửu Long, ông Trần Thanh Hiệp, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh cho biết: Năm 2025, diện tích lúa chất lượng cao chiếm 59% diện tích sản xuất toàn tỉnh, địa phương phấn đấu năm 2026 tiệm cận 70%. An Giang đã xác lập 375 vùng lúa chất lượng cao với hệ thống gần 700 hợp tác xã, khoảng 46.000 thành viên và đang tiếp tục được nâng chất. Theo ông Hiệp, thời gian tới đề án sẽ có nhiều thuận lợi khi doanh nghiệp đóng vai trò đầu tàu, cùng với lực lượng khuyến nông cộng đồng được tổ chức lại mạnh mẽ về tuyến xã. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để mở rộng công nhận nhãn hiệu “Gạo Việt xanh phát thải thấp” và thúc đẩy doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi liên kết.

Dưới góc nhìn doanh nghiệp, để mục tiêu của đề án này thành công, ông Huỳnh Văn Thòn, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Tập đoàn Lộc Trời cho rằng, vấn đề quan trọng cần giải quyết là phải có “đột phá” về đầu ra sản phẩm. Bởi nếu không có đầu ra thì không thể tổ chức được vùng nguyên liệu lớn, triển khai đầy đủ các ý tưởng, mong muốn và cả lợi ích của người nông dân. Mong rằng Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao sẽ giải quyết được điểm nghẽn này ■

Thành phố Cần Thơ kiến nghị, cần đẩy mạnh tập huấn, sớm ban hành chuẩn cơ sở về đo đếm phát thải, đồng thời xây dựng thị trường carbon để người dân có thu nhập thực tế từ chứng chỉ carbon”.

Ông Trần Chí Hùng,

Phó Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ

Có thể bạn quan tâm

Trong điều kiện đẩy mạnh xây dựng chính quyền số, yêu cầu nâng cao năng lực số, tư duy số và kỹ năng làm việc trong môi trường số của cán bộ cơ sở là bắt buộc.

Thiết lập nền hành chính hiện đại

Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở “ngang tầm nhiệm vụ” không chỉ là câu chuyện về số lượng cán bộ hay bằng cấp có được, mà quan trọng hơn là cách tổ chức, sử dụng và phát huy năng lực, ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.

GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương.

Giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ cơ sở

Kỳ vọng lớn từ chủ trương chọn năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” chỉ có thể trở thành hiện thực nếu chúng ta giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ và quan trọng nhất là trả công tác cán bộ về đúng bản chất: Tìm đúng người yêu dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương chung quanh vấn đề này.

Công an xã Sín Thầu (tỉnh Điện Biên) hỗ trợ đồng bào dân tộc người Hà Nhì làm các thủ tục hành chính. Ảnh: Thành Đạt

Gia tăng năng lực tuyến đầu của quản trị công

Chưa bao giờ yêu cầu đặt ra đối với cán bộ cơ sở lớn như hiện nay. Khi chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành, cấp xã trở thành tuyến đầu của quản trị công, gánh trên vai nhiều trọng trách với phương thức hoạt động hoàn toàn mới. Việc lấy năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” vì thế không chỉ là khâu đột phá mà còn là kế hoạch lâu dài. Không như trước, công chức xã bây giờ phải là người kiến tạo phát triển ở cơ sở.

Nâng bước thanh niên kiến tạo kỷ nguyên Xanh

Nâng bước thanh niên kiến tạo kỷ nguyên Xanh

Phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lần thứ XIII và nhiều diễn đàn về thanh niên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm luôn nhấn mạnh yêu cầu khơi dậy mạnh mẽ khát vọng cống hiến, tinh thần tiên phong và trách nhiệm của tuổi trẻ đối với những nhiệm vụ chiến lược của đất nước. Vì thế, trên hành trình hiện thực hóa mục tiêu Net Zero, thanh niên không chỉ là lực lượng tham gia, mà còn phải trở thành chủ thể của quá trình chuyển đổi. 

Trên hành trình hướng đến mục tiêu xanh, thanh niên đang từng bước trở thành chủ thể trực tiếp của phát triển.Ảnh: AGriS

THẾ HỆ NET ZERO - lực lượng quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia

Chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững không còn là những lựa chọn mang tính khuyến khích, mà đã trở thành điều kiện để mỗi quốc gia duy trì sức cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu nhiều biến động. Trong cuộc đua ấy, quốc gia nào chuẩn bị tốt hơn nguồn nhân lực cho nền kinh tế xanh sẽ có lợi thế cạnh tranh trong nhiều thập niên tới.

Với lợi thế công nghệ, thanh niên ngày nay hoàn toàn có thể tham gia hiện đại hóa nông nghiệp. Ảnh: TTXVN

Hiện thực hóa khát vọng bằng hành động

LTS - Từ những chiến dịch tình nguyện vì môi trường, các dự án khởi nghiệp xanh đến những sáng kiến công nghệ phục vụ cộng đồng, thanh niên Việt Nam đang ngày càng hiện diện rõ nét trong hành trình hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng “0”. Đằng sau những chuyển động ấy là vai trò kết nối, dẫn dắt của tổ chức Đoàn cùng tinh thần dấn thân của một thế hệ trẻ sẵn sàng biến khát vọng cống hiến thành những hành động cụ thể. Góc nhìn từ cán bộ Đoàn và các bạn trẻ tiêu biểu cho thấy: Net Zero không còn là một mục tiêu vĩ mô, mà đang được hiện thực hóa từ chính những việc làm gần gũi mỗi ngày.

Dự án Hải Lưu Ngược đã kết hợp truyền thông văn hóa với công nghệ thực tế tăng cường để tuyên truyền bảo vệ môi trường.

Bền vững bắt đầu từ ý tưởng, thực thi

Hành trình chuyển dịch xanh của một quốc gia không thể đơm hoa kết trái, nếu chỉ dừng lại ở những tiếng hô hào hay các bản đề xuất nằm trên giấy. Phát triển bền vững đòi hỏi tư duy hành động thực chất, được bảo chứng bằng năng lực thực thi bài bản.

Những cánh đồng mía bất tận khiến Trần Nguyễn Huy Ninh ngỡ ngàng, thay đổi hoàn toàn cái nhìn về nông nghiệp hiện đại. Ảnh: AgriS

Hãy hình dung về một nền nông nghiệp rất khác!

Tôi sinh ra trong một gia đình làm nông nghiệp truyền thống tại Đà Lạt, vì vậy hình ảnh đầu tiên trong ký ức tôi về nghề nông là những buổi sáng bắt đầu từ rất sớm, những mùa vụ phụ thuộc nhiều vào thời tiết và nỗi lo thường trực về giá cả, sâu bệnh, năng suất…

Hiện nay, không ít cơ hội đang mở ra để các bạn trẻ tiếp cận những nguồn vốn cho các ý tưởng xanh. Trong ảnh: Hội thảo “Kết nối những nhà đổi mới nổi bật cho các hành động bền vững” (P4G) do Mạng lưới Thanh niên Hành động vì Khí hậu YNet Việt Nam, Đại học Công nghệ Đan Mạch (DTU) tổ chức.

Đứng chân trên bản đồ nghề nghiệp mới

Khi các doanh nghiệp phải thay đổi để đáp ứng những tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe của thị trường toàn cầu, một “bản đồ nghề nghiệp” mới cũng dần hình thành. Với thanh niên, đó là cơ hội để khởi nghiệp, để đổi mới sáng tạo và trực tiếp góp phần hiện thực hóa mục tiêu Net Zero của đất nước.

Người dân quét giấy tờ gốc, xác thực bản sao điện tử tại Kiosk thông minh, chi nhánh số 1, Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Tháo bỏ những rào cản vô hình

Mối quan hệ giữa Nhà nước và người dân là một yếu tố mang tính nền tảng đối với hành trình phát triển của mọi quốc gia. Cải cách thủ tục hành chính dựa trên các thành tựu khoa học-công nghệ, vì thế, được xem như minh chứng cho nỗ lực thay đổi từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ, đặt người dân vào vị trí trung tâm của các chính sách.

Anh Lê Minh Thiện (phải) hỗ trợ ông Nguyễn Xuân Bình làm thủ tục ủy quyền lương hưu. Ảnh: Thành Đạt

Đưa hệ thống chạm tới nhóm người yếu thế

Mới đây, Hà Nội đã hoàn thành 100% mục tiêu của chiến dịch liên ngành bảo đảm chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội không bị gián đoạn. Kết quả này có được là nhờ hoạt động của Tổ hành chính công xung kích, với những công chức không quản nắng mưa, gõ cửa từng nhà.

Người dân Ấn Độ liên kết số Aadhaar của mình với tài khoản ngân hàng để phục vụ thanh toán trực tuyến.

Hai mặt của tấm huy chương

Ở Estonia, hầu hết thủ tục từ khai sinh cho con đến kê đơn thuốc, được thực hiện trong vài cú chạm. Còn tại Ấn Độ, một cụ bà có thể bị máy định danh từ chối phát gạo trợ cấp vì dấu vân tay đã mòn. Hai hình ảnh trái ngược ấy cùng gợi mở một số vấn đề mà Việt Nam cần nắm vững khi bước vào nền hành chính số.

Dù triển khai dịch vụ công trực tuyến, người dân vẫn phải mất nhiều lượt đi lại trực tiếp mới hoàn tất khâu nộp hồ sơ.

Gỡ khó cho tuyến cơ sở

Việc đẩy mạnh chuyển đổi số và triển khai dịch vụ công trực tuyến thời gian qua đã đạt được những thành tựu bước đầu rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, thực tiễn vận hành tại một số địa phương sau khi sáp nhập đơn vị hành chính vẫn thể hiện sự thiếu đồng bộ về dữ liệu chuyên ngành và hạ tầng kỹ thuật.

Ông Bùi Dương, Giám đốc Chi nhánh Trung tâm Phục vụ hành chính công số 1 Thành phố Hà Nội.

Mỗi dữ liệu chỉ khai một lần, mỗi kết quả sử dụng nhiều lần

Xoay quanh nỗ lực thu hẹp khoảng cách giữa một thủ tục được đưa lên môi trường số và một thủ tục thật sự giảm được thời gian cũng như chi phí cho người dân, doanh nghiệp, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với ông Bùi Dương, Giám đốc Chi nhánh Trung tâm Phục vụ hành chính công số 1 Thành phố Hà Nội.

Chuyển đổi số chỉ thành công khi người dân cảm nhận được nền hành chính đơn giản hơn, minh bạch hơn và phục vụ tốt hơn. Ảnh: Thành Đạt

Thiết lập nền hành chính với tư duy số

Năm 2026 đánh dấu bước chuyển quan trọng của nền hành chính Việt Nam khi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành đầy đủ, đồng thời dịch vụ công trực tuyến cấp tỉnh, cấp xã được tập trung trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây không chỉ là sự thay đổi về hạ tầng công nghệ, mà còn là phép thử đối với năng lực cải cách bộ máy và tư duy quản trị.

Hạn hán kỷ lục cấp 4 tại Ninh Thuận (cũ) do chịu ảnh hưởng của đợt El Nino hồi năm 2020. Ảnh: Thành Đạt

Bước chuyển tư duy ứng phó siêu El Nino

El Nino đã hình thành và được dự báo tiếp tục mạnh lên trong nửa cuối năm 2026, tiếp nối sang đầu năm 2027, làm gia tăng nguy cơ nắng nóng kéo dài, thiếu hụt lượng mưa theo mùa, suy giảm nguồn nước, dẫn đến hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng. 

Ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

Chuyển từ “dự báo hiện tượng” sang “cảnh báo tác động”

Chỉ trong vài tháng đầu năm 2026, trạng thái đại dương và khí quyển vùng xích đạo Thái Bình Dương đã đảo chiều đột ngột sang pha El Nino. Với xác suất kéo dài xuyên qua năm 2027 lên tới trên 95%, đợt thiên tai này đang đặt ra những thách thức phi truyền thống đối với an ninh năng lượng, sản xuất nông nghiệp và an ninh nguồn nước quốc gia. Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi sâu với ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) về bước chuyển tư duy chiến lược: Dùng kịch bản rủi ro và dự báo tác động để bảo vệ các động lực tăng trưởng kinh tế.

Lực lượng chức năng và đoàn thể xã Đất Mới (tỉnh Cà Mau) hỗ trợ giúp dân khắc phục hậu quả sau sạt lở đất.

Thiên tai đi qua, tình người ở lại

Dải đất cực nam Tổ quốc có ba bề sóng vỗ. Bên cạnh sự trù phú của tài nguyên biển và rừng ngập mặn, nơi đây cũng là một trong những vùng đất chịu nhiều tổn thương do biến đổi khí hậu. Vào mùa mưa bão, những thiên tai dị thường liên tiếp ập đến, đe dọa trực tiếp đến cuộc sống của người dân.

Các chiến sĩ thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Ninh Thuận (cũ), nay là tỉnh Khánh Hòa, mang nước sạch đến cho người dân thôn Tà Nôi. Ảnh: Thành Đạt.

Ưu tiên bảo đảm an ninh nguồn nước

Dưới tác động của El Nino, các chuyên gia khuyến nghị: Các cấp ngành, địa phương cần ưu tiên giải pháp bảo đảm an ninh nguồn nước cho các vùng có nguy cơ thiếu nước.

Những thách thức rất lớn đang chờ đợi các vòng đàm phán khí hậu sắp diễn ra.

Thế giới sau hồi chuông báo động

Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) vừa xác nhận: El Nino đã hình thành và có khả năng gia tăng cường độ trong những tháng tới. Trong bối cảnh nhiều mô hình khí hậu dự báo hiện tượng này có thể phát triển tới mức Siêu El Nino, Liên hợp quốc đã kêu gọi các quốc gia khẩn trương triển khai các biện pháp ứng phó nhằm hạn chế thiệt hại.

Các bạn trẻ tương tác với màn hình ở kios tìm hiểu thông tin về Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Ảnh: Đại Dương

Cần một “nhạc trưởng”

Mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa đang chuyển động theo chiều hướng tích cực nhờ ứng dụng các công nghệ hiện đại. Trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam, việc triển khai Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và có hiệu lực kể từ ngày ký, ngày 2/12/2021, đã cho thấy rất rõ một thực tiễn: Công nghệ đã giúp mở rộng tầm nhìn về di sản.

Đồ án tốt nghiệp thiết kế bao bì và đồ chơi 3D mang tên Thanh Cầm của sinh viên Bùi Khánh Linh, Trường đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương, lấy cảm hứng từ trang phục truyền thống. Nguồn ảnh: NUAE Photography Club

Đồng bộ giữa yêu cầu bảo tồn và số hóa

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà quản lý, nhà nghiên cứu và đại diện đơn vị công nghệ tham gia số hóa di tích, di sản văn hóa về tác động xã hội của thành quả ban đầu trong công tác số hóa di sản văn hóa, cũng như những khả thể trong kiến thiết một nền tảng dữ liệu lớn về di sản văn hóa Việt Nam.

Lâu đài Shuri trước khi bị hỏa hoạn. Nguồn: CC BY-SA 4.0

Phương thức tiếp cận linh hoạt và hiệu quả

Trước những tác động của thời gian, biến đổi khí hậu, thiên tai và quá trình đô thị hóa, việc số hóa di sản đã và đang trở thành một xu hướng được nhiều quốc gia quan tâm như một giải pháp hỗ trợ công tác bảo tồn, nghiên cứu và quảng bá di sản.

Các triển lãm, trưng bày phát huy giá trị của lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II thu hút sự quan tâm của công chúng. Nguồn: NAC2

Những cánh cửa đang ngày càng rộng mở

Hàng loạt triển lãm được thiết kế hiện đại, hình ảnh phong phú, tài liệu văn bản được chuyển ngữ tiếng Việt bên cạnh ngoại ngữ phổ biến là tiếng Anh, được trình hiện cả trong không gian vật lý và trực tuyến. Cùng đó, việc số hóa thúc đẩy công tác truyền thông của các Trung tâm lưu trữ quốc gia đã và đang góp phần quan trọng làm rộng mở hơn bao giờ hết lối về lịch sử cho công chúng hôm nay, nhất là lớp trẻ.

Đội ngũ chuyên gia, kỹ sư của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và đối tác trao đổi về kỹ thuật quét 3D tại Điện Thái Hòa. Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế

Cơ hội lớn cho kinh tế số

Cả nước hiện có 357 bảo vật quốc gia, 153 di tích quốc gia đặc biệt, 6 di sản văn hóa, 2 di sản thiên nhiên, 1 di sản hỗn hợp, 11 di sản tư liệu và 17 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh ở cấp độ thế giới hoặc khu vực. Bên cạnh công tác bảo vệ và phát huy giá trị của các di sản, di tích, hiện vật đặc biệt quý giá này ở định dạng vật lý, việc số hóa một cách bài bản sẽ đem lại rất nhiều lợi ích về văn hóa và kinh tế.

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất thế giới. Nguồn: HAI

TỪ ÁP LỰC AN SINH ĐẾN NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN

Khi con người khỏe mạnh hơn và tiếp tục cống hiến lâu hơn, chính khái niệm về tuổi già cũng đang được viết lại. Từ những chuyển động của kinh tế, chính sách đến sự thay đổi trong mỗi gia đình, thế giới đang bước vào một kỷ nguyên dân số mới, nơi giá trị của một quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô dân số, mà còn bằng khả năng phát huy nguồn vốn con người ở mọi lứa tuổi.