Danh tính mới cho hạt gạo Việt

Sau một năm triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh, nông dân Đồng bằng sông Cửu Long đã mạnh dạn thay đổi tư duy sản xuất, để hạt gạo Việt bắt đầu có “danh tính xanh” trên thị trường quốc tế.

Tham gia Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao giúp nông dân miền Tây có sự chuyển biến mạnh mẽ về tư duy sản xuất. (Ảnh NGUYỄN HỮU TÙNG)
Tham gia Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao giúp nông dân miền Tây có sự chuyển biến mạnh mẽ về tư duy sản xuất. (Ảnh NGUYỄN HỮU TÙNG)

Lúa phát thải thấp “ra Bắc”

Ông Lê Thanh Tùng, Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam (VIETRISA) cho biết: Năm 2025, VIETRISA đã phát triển được 148 hội viên (bao gồm tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã và cá nhân). Hiệp hội cũng đã cấp nhãn hiệu “Gạo Việt xanh phát thải thấp” cho tám doanh nghiệp, với diện tích hơn 18.000 ha, lượng gạo được chứng nhận tương ứng 71.420 tấn trong cùng năm. Đặc biệt, Công ty cổ phần nông nghiệp công nghệ cao Trung An là đơn vị đầu tiên đã xuất khẩu thành công 500 tấn gạo mang nhãn hiệu này sang thị trường Nhật Bản, vào tháng 6/2025. Sang năm 2026, hiệp hội dự kiến sẽ mở rộng áp dụng quy trình kỹ thuật, xây dựng thêm nhiều mô hình liên kết và hoàn thiện hệ thống dịch vụ hỗ trợ sản xuất lúa phát thải thấp.

Được biết, bắt đầu từ những mô hình tiên phong ở An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ..., nông dân miền Tây thời gian qua đã mạnh dạn giảm giống, giảm phân, giảm nước trong trồng lúa. Nhờ đó, bà con giảm chi phí, đất khỏe hơn, cây lúa bền hơn.

Theo đó, tổng kết thực hiện đề án trên cho thấy, trong năm 2024 và 2025, qua ba vụ triển khai, bảy mô hình thí điểm ở Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp và An Giang đã giúp giảm chi phí sản xuất 8,2-24,2% so với mô hình đối chứng. Kết quả có được từ việc giảm 30-50% lượng giống gieo sạ, giảm 30-70 kg phân bón/ha, giảm 30-40% lượng nước tưới và giảm 1-4 lần phun thuốc bảo vệ thực vật/vụ so với mô hình đối chứng. Quy trình sản xuất nêu trên đã góp phần tăng năng suất lúa 2,4-7%, thu nhập của nông dân tăng 4-7,6 triệu đồng/ha so với mô hình đối chứng. Quan trọng hơn, quy trình sản xuất này đã góp phần giảm lượng phát thải khí nhà kính từ 2-12 tấn CO2 tương đương/ha (tùy phương thức áp dụng).

Sau kết quả tích cực tại Đồng bằng sông Cửu Long, ông Bùi Bá Bổng, Chủ tịch Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam (Vietrisa), cho biết, ngành nông nghiệp dự kiến sẽ lan tỏa mô hình lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh ra Đồng bằng sông Hồng, với quy mô 500.000 ha.

Bước đi này nhằm nhân rộng hiệu quả giảm chi phí, tăng thu nhập cho nông dân và cắt giảm phát thải khí nhà kính trong sản xuất lúa. Đặc biệt, các địa phương Đồng bằng sông Cửu Long sẽ tiếp tục đồng hành cùng VIETRISA đưa Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao về đích đúng lộ trình 2030.

Cần nhiều hơn những đột phá

Nói về Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao này, ông Cao Đức Phát, nguyên Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường), nguyên Chủ tịch HĐQT Viện Nghiên cứu lúa gạo Quốc tế (IRRI), nhấn mạnh: Đề án giúp duy trì sự phát triển hiệu quả của ngành lúa gạo, cải thiện thu nhập và đời sống người nông dân, đồng thời, giải quyết các vấn đề môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Cụ thể, về kinh tế, ông Phát phân tích: Thế giới sản xuất khoảng 800 triệu tấn lúa mỗi năm, trong đó, khoảng 90% sản lượng tập trung ở các quốc gia châu Á. 90% sản lượng này nằm ở tám nước, gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Bangladesh, Indonesia, Việt Nam, Thái Lan, Philippines và Myanmar. Tại nước ta, nếu sản xuất theo quy trình của Đề án 1 triệu ha, như các mô hình thí điểm đã triển khai, Việt Nam có giá thành sản xuất 1 kg lúa thấp nhất trong nhóm tám nước này, trong khi nông dân thu được lợi nhuận cao.

Ông Phát đánh giá: Hiện tại đề án đã có nhiều thuận lợi về hướng đi, cách triển khai, sự quan tâm hưởng ứng của nông dân, doanh nghiệp, chính quyền các cấp. Tuy nhiên, thời gian tới, các đơn vị liên quan cần đạt được thêm nhiều đột phá, trong đó quan trọng nhất là chú trọng đến công tác mở rộng thị trường, để lúa xanh, sạch của bà con làm ra được các doanh nghiệp săn đón, xuất khẩu ra thế giới với mức giá xứng đáng hơn.

Từ thực tế địa phương, ông Trần Chí Hùng, Phó Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ chỉ rõ: “Cần Thơ có diện tích trồng lúa lớn thứ hai khu vực, chỉ sau tỉnh An Giang. Sau hai năm triển khai đề án, thành phố có điều kiện để nhân rộng với mục tiêu đến năm 2030 đạt khoảng 170.000 ha. Song, khó khăn lớn hiện nay vẫn là sản xuất nhỏ lẻ, liên kết giữa hợp tác xã và doanh nghiệp chưa chặt chẽ. Việc đo đếm phát thải khí nhà kính dù đã có quy trình và thiết bị nhưng chi phí còn cao, phụ thuộc nhiều vào cán bộ kỹ thuật và chuyên gia”.

Với An Giang - vựa lúa lớn nhất vùng châu thổ Cửu Long, ông Trần Thanh Hiệp, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh cho biết: Năm 2025, diện tích lúa chất lượng cao chiếm 59% diện tích sản xuất toàn tỉnh, địa phương phấn đấu năm 2026 tiệm cận 70%. An Giang đã xác lập 375 vùng lúa chất lượng cao với hệ thống gần 700 hợp tác xã, khoảng 46.000 thành viên và đang tiếp tục được nâng chất. Theo ông Hiệp, thời gian tới đề án sẽ có nhiều thuận lợi khi doanh nghiệp đóng vai trò đầu tàu, cùng với lực lượng khuyến nông cộng đồng được tổ chức lại mạnh mẽ về tuyến xã. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để mở rộng công nhận nhãn hiệu “Gạo Việt xanh phát thải thấp” và thúc đẩy doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi liên kết.

Dưới góc nhìn doanh nghiệp, để mục tiêu của đề án này thành công, ông Huỳnh Văn Thòn, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Tập đoàn Lộc Trời cho rằng, vấn đề quan trọng cần giải quyết là phải có “đột phá” về đầu ra sản phẩm. Bởi nếu không có đầu ra thì không thể tổ chức được vùng nguyên liệu lớn, triển khai đầy đủ các ý tưởng, mong muốn và cả lợi ích của người nông dân. Mong rằng Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao sẽ giải quyết được điểm nghẽn này ■

Thành phố Cần Thơ kiến nghị, cần đẩy mạnh tập huấn, sớm ban hành chuẩn cơ sở về đo đếm phát thải, đồng thời xây dựng thị trường carbon để người dân có thu nhập thực tế từ chứng chỉ carbon”.

Ông Trần Chí Hùng,

Phó Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ

Có thể bạn quan tâm

Cán bộ kỹ thuật lấy mẫu cho quá trình nghiên cứu chiết tách. (Nguồn: Viện Công nghệ xạ hiếm)

Nền tảng của công nghiệp xanh

Trong bối cảnh toàn cầu hóa cũng như cam kết lịch sử đưa mức phát thải ròng về “0”, đất hiếm nổi lên như một nhóm vật liệu chiến lược mang tính quyết định, không thể thay thế.

Ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Chế biến sâu và nâng tầm công nghệ

Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chia sẻ: Trong quá trình cấp phép đầu tư, khai thác đất hiếm phải bảo đảm không chỉ dừng ở khai thác thô mà luôn gắn với chế biến sâu và chuyển giao, nâng tầm công nghệ.

Mô hình dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội- Quảng Ninh, với tổng mức đầu tư hơn 5,6 tỷ USD vừa chính thức khởi công tại Quảng Ninh. Ảnh có sử dụng đồ họa AI

ĐỘT PHÁ VỀ KẾT NỐI HẠ TẦNG CHIẾN LƯỢC

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, nhiều nghệ sĩ trẻ cùng ekip đã chủ động có các đàm phán đa tầng trong chuyển quyền sử dụng có điều kiện, nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của mình. Ảnh minh họa: KHIẾU MINH

Lấp đầy những khoảng trống ý thức

Bên cạnh Luật Sở hữu trí tuệ, được ban hành lần đầu vào cuối năm 2005, có hiệu lực từ ngày 1/7/2006 và đến nay, đã qua nhiều lần sửa đổi để phù hợp với diễn tiến của xã hội, Việt Nam hiện có một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khá đầy đủ liên quan việc bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Khoảng cách công nghệ giữa đường sắt hiện hữu và đường sắt tốc độ cao là rất lớn, vì vậy Việt Nam cần chuẩn bị tốt việc đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu tiến tới làm chủ công nghệ. Nguồn VNR

Định hình mạng lưới vận tải quốc gia

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức và tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Lớp học nâng cao trình độ về đường sắt tốc độ cao ngành Thi công và Bảo dưỡng công trình.

Mở rộng hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực mới

Một nhiệm vụ mang tính chiến lược, đóng vai trò then chốt trong xây dựng và vận hành đường sắt tốc độ cao, là phải đi trước một bước để đào tạo nguồn nhân lực có đủ năng lực, trình độ tiếp nhận, vận hành, khai thác, bảo trì và từng bước làm chủ các công nghệ tiên tiến, hiện đại đang được áp dụng với đường sắt tốc độ cao.

Ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR).

Bài toán về tầm nhìn và khả năng làm chủ công nghệ

Được xác định là lĩnh vực ưu tiên chiến lược, hợp tác phát triển đường sắt, nhất là đường sắt tốc độ cao, của Việt Nam không chỉ là câu chuyện của một công trình hạ tầng, mà là bài toán lớn đặt ra yêu cầu làm chủ công nghệ, đào tạo nhân lực và năng lực nội sinh.

Hành khách xếp hàng lên chuyến tàu G8389 tại nhà ga ở thành phố Nam Kinh (Trung Quốc). (Ảnh Tân Hoa xã)

Kinh nghiệm của Trung Quốc - Quốc gia “đi sau, về trước”

Không chỉ hiện thực hóa được mục tiêu “đi sau, về trước”, nhờ có sự đầu tư bài bản, mà hiện Trung Quốc còn đang “dẫn đầu thế giới” trong phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao. Đây là thành công góp phần quan trọng vào những kỳ tích tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội ở quốc gia này.

Khi Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh của người sáng tạo được thực thi đầy đủ, các tác giả làm việc trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật mới ở Việt Nam sẽ tích cực chủ động tham gia đăng ký bản quyền tác giả hơn nữa. (Trong ảnh: Vở múa đương đại Nón của biên đạo Vũ Ngọc Khải. Ảnh Đại Ngô)

Chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết 80) đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào năm 2030 và trở thành trụ cột kinh tế với 9% GDP vào năm 2045.

Bà Phạm Thị Kim Oanh.

Đồng hành để hỗ trợ giới sáng tạo một cách tốt nhất

Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi với bà Phạm Thị Kim Oanh, Phó Cục trưởng Bản quyền tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, về những nỗ lực của cơ quan quản lý nhà nước trong việc đồng hành, khuyến khích các tổ chức, cá nhân chủ động nâng cao hơn nữa ý thức về bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Đồi chè Mộc Châu. (Ảnh Huỳnh Văn Truyền)

Chủ động mở những lối đi

Nhiếp ảnh là một trong những lĩnh vực sáng tác mà việc vi phạm bản quyền xảy ra khá thường xuyên, ở nhiều phương thức, cấp độ khác nhau.

Ngành công nghệ cần đặt an toàn của trẻ em vào khâu thiết kế sản phẩm, thay vì coi đó là phần việc xử lý sau cùng. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Đồng hành để bảo vệ

Internet từ lâu đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống, kể cả với trẻ em. Tuy nhiên, mức độ hiện diện cao ấy không đồng nghĩa với việc thế hệ trẻ có đủ năng lực để tự bảo vệ mình.

Trung ương Đoàn luôn chủ động tạo ra các không gian cởi mở để kịp thời lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của trẻ em.

Lắng nghe đúng, hành động trúng

Trong thời đại kỷ nguyên số, không gian mạng không còn là một công cụ hỗ trợ, mà đã trở thành một môi trường sống song hành với đời sống của trẻ em.

Chiến dịch Không một mình, nằm trong chuỗi các hành động nhằm thực hiện Công ước Hà Nội, hướng tới đồng hành với giới trẻ trong phòng, chống bắt cóc online. Ảnh: Hiệp hội An ninh mạng

Nhật ký một ngày online

LTS - Không phải những con số thống kê khô khan, cũng không phải góc nhìn của người lớn, ký sự này được thực hiện bởi chính những “người trong cuộc” - nhóm phóng viên nhí của Tòa soạn Tiếng Xanh (hoạt động dưới sự hướng dẫn của UNICEF Việt Nam).

Thay vì ngăn chặn, Việt Nam đang hướng đến những giải pháp thân thiện, cùng đồng hành với trẻ trên không gian mạng. Trong ảnh: Trích từ cẩm nang “Tự tin chinh phục Vương quốc Social” của Toà soạn Tiếng Xanh.

Từ chính sách đến từng gia đình

Không gian mạng hôm nay đã là một phần của tuổi thơ Việt Nam. Vì thế, bài toán không còn là “có nên cho trẻ dùng mạng xã hội hay không”, mà là làm sao để trẻ em Việt Nam được lớn lên trong một môi trường số an toàn hơn, lành mạnh hơn và công bằng hơn.

Lần đầu tiên trong lịch sử quy hoạch đô thị Việt Nam, Thủ đô Hà Nội được Trung ương giao quyền lập đồ án Quy hoạch, phù hợp việc tổ chức lại địa giới hành chính, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Ảnh Thành Đạt

Thách thức trong bước chuyển tư duy

Lời tòa soạn - Theo Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, thành phố sẽ phát triển với cấu trúc đô thị “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”, điểm nhấn xuyên suốt là văn hiến, văn minh, hiện đại, hạnh phúc, trong đó yếu tố “hạnh phúc” được đặt ở vị trí trung tâm.

Hà Nội định hình cấu trúc đô thị theo không gian phát triển mở “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”. (Ảnh KHIẾU MINH)

Không để quy hoạch chỉ dừng ở bản vẽ

Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm (Quy hoạch) đã được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua. Quy hoạch cho thấy tầm chiến lược, có các phân kỳ, giai đoạn thực hiện, nhưng cũng cần giải quyết những khó khăn, thách thức để đi vào đời sống.

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội.

Đúc rút bài học thực tiễn, kiến tạo phát triển bền vững

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội chia sẻ: Để kiến tạo một Thủ đô phát triển bền vững xuyên thế kỷ, cơ quan chuyên môn không né tránh mà đi sâu nghiên cứu, bắt đúng bệnh...

Nhiều cuộc tọa đàm được tổ chức, nhằm đóng góp ý kiến cho chuyển đổi số quy hoạch đô thị tại Hà Nội. (Ảnh DIÊN KHÁNH)

“Bộ não số” cho đô thị thông minh

Thủ đô Hà Nội đang từng bước chuyển đổi, đầu tư hạ tầng công nghệ, tích cực chuyển đổi tư duy quản trị đô thị và quản lý quy hoạch, nâng cao chất lượng sống của người dân.

Các di tích, cảnh quan thiên nhiên, ao hồ cần có “đời sống của mình” trong không gian đô thị mới. (Ảnh VĂN HỌC)

Tích hợp yếu tố sinh thái vào từng lựa chọn

Ô nhiễm môi trường không chỉ là thách thức trước mắt, mà còn là lực cản lớn đối với mục tiêu phát triển bền vững của Thủ đô. Vì vậy, quy hoạch tổng thể phải bảo đảm yêu cầu rất cao về phát triển xanh cũng như tạo dựng hệ sinh thái phong phú cho đô thị.

Lãnh đạo phường Hồng Hà giải đáp thắc mắc của người dân bị thu hồi đất tại hiện trường.

Thước đo của một Thủ đô vì con người

Hà Nội đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc đô thị mạnh mẽ. Song, phía sau những công trình mang tầm vóc quy hoạch là đổi thay trong đời sống của người dân, đặt ra yêu cầu phải giải quyết hài hòa bài toán phát triển và an cư.

Các yếu tố mang tính quyết định cho chuyển đổi xanh, như khoa học công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo… cần được đầu tư tương xứng. (Ảnh Thành Đạt)

Thế chân kiềng trong kỷ nguyên xanh

Lời toà soạn - Để đưa nông nghiệp Việt Nam bước vào kỷ nguyên xanh, điều cốt lõi là phải tái định hình vai trò của Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân trong một hệ sinh thái phát triển mới.