Từ những làn điệu quan họ Bắc Ninh, ca trù, hát chèo, hát xẩm, múa rối nước, tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ đến lễ hội truyền thống ở các làng quê ven sông…, mỗi di sản đều là mạch nguồn ký ức cộng đồng, là nếp sống, phong tục và chiều sâu tâm hồn dân tộc.
Nhiều loại hình trong số đó đã vinh dự được UNESCO ghi danh như Dân ca quan họ Bắc Ninh và Nghệ thuật ca trù (2009), Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ của người Việt (2016), cùng các di sản khác góp phần khẳng định vị thế văn hóa Việt Nam trên bản đồ thế giới.
Những chuyển biến tích cực
Những năm gần đây, công tác bảo tồn và phát huy di sản ở Đồng bằng sông Hồng có những chuyển động tích cực. Nhiều địa phương như Bắc Ninh, Hà Nội, Ninh Bình, Hải Phòng đã chủ động đưa di sản vào trường học, mở rộng không gian trình diễn cộng đồng và hỗ trợ nghệ nhân truyền dạy thế hệ trẻ. Nhờ đó, hàng trăm câu lạc bộ quan họ được duy trì và không ngừng phát triển ở Bắc Ninh; nhiều giáo phường ca trù tại Hà Nội được phục hồi; hay Ninh Bình chú trọng bảo tồn loại hình hát xẩm và thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu gắn với du lịch văn hóa tâm linh. Cùng với đó, một số lễ hội truyền thống bị mai một từng bước được khôi phục với sự tham gia ngày càng đông của cộng đồng cư dân địa phương tại các tỉnh, thành phố.
Điều đáng mừng là cách tiếp cận di sản đang có những chuyển biến mạnh mẽ về tư duy và cách thức triển khai. Nếu trước đây bảo tồn chủ yếu mang tính “đóng khung”, lưu giữ thụ động, thì nay các địa phương hướng tới việc làm sống dậy di sản trong đời sống đương đại. Nhiều chương trình diễn xướng quan họ trên thuyền, không gian trải nghiệm chèo tại làng quê, tour khám phá tín ngưỡng dân gian hay các festival văn hóa vùng Đồng bằng sông Hồng đã thu hút khách du lịch trong nước và nước ngoài. Nhờ đó di sản vượt ra khỏi không gian bảo tàng, bước vào đời sống, mang tinh thần mới, từng bước tạo sinh kế cho người dân, góp phần phát triển công nghiệp văn hóa.
Nỗ lực thu hút người trẻ
Tuy nhiên, đằng sau những tín hiệu khởi sắc vẫn còn không ít băn khoăn, trăn trở. Nguy cơ đứt gãy thế hệ tiếp nối hiện hữu ngày càng rõ nét. Nhiều nghệ nhân cao tuổi lặng lẽ truyền nghề trong điều kiện thiếu thốn, lực lượng ngày càng hao khuyết, trong khi lớp trẻ rời quê lên phố hoặc đi làm ăn xa, ít mặn mà với những loại hình đòi hỏi sự gắn bó lâu dài như hát chèo, hát văn hay các nghi lễ tại làng xã.
Điểm nghẽn lớn khác là sự thiếu kết nối liên vùng. Các địa phương vùng Đồng bằng sông Hồng là không gian văn hóa có nhiều nét tương đồng, nhưng việc liên kết phát huy di sản còn rời rạc, mạnh ai nấy làm, thiếu cơ chế phối hợp để hình thành các tuyến, cụm hay chuỗi sản phẩm văn hóa đặc trưng của toàn vùng. Trong khi đó, nhiều loại hình di sản lại có tính lan tỏa liên tỉnh, liên vùng rất rõ như ca trù, tín ngưỡng thờ Mẫu, nghệ thuật hát chèo... nếu chỉ bảo tồn thuần túy theo địa giới hành chính sẽ khó tạo được sức sống bền vững và không phát huy hết giá trị văn hóa đặc sắc của không gian di sản.
Bên cạnh đó, quá trình số hóa và ứng dụng công nghệ vẫn chưa theo kịp nhu cầu xã hội. Nhiều tư liệu quý về các điệu hát cổ, nghi lễ dân gian, tri thức truyền thống còn nằm rải rác trong dân gian, chưa được số hóa đầy đủ, trong khi xu thế của lớp trẻ hôm nay là tiếp cận văn hóa chủ yếu qua môi trường số. Nhiều chuyên gia văn hóa chỉ ra rằng, di sản chỉ thật sự sống khi người trẻ thấy mình trong đó, chứ không phải đứng ngoài để “chiêm ngưỡng” và rồi rời xa lúc nào không hay.
Để đánh thức mạch nguồn di sản một cách mạnh mẽ và bền vững, cần khẩn trương xây dựng tư duy liên kết vùng thông qua các chương trình hợp tác dài hạn giữa các tỉnh về bảo tồn, quảng bá; xây dựng tuyến du lịch văn hóa liên tỉnh; tổ chức festival nghệ thuật dân gian luân phiên; hình thành mạng lưới nghệ nhân và câu lạc bộ di sản toàn vùng; đẩy mạnh giao lưu giữa trường học với cộng đồng... Đồng thời, phải mạnh dạn đổi mới phương thức truyền dạy và lan tỏa: xây dựng các clip ngắn quan họ, chèo để phát trên nền tảng số; chương trình trải nghiệm thực tế cho học sinh; ứng dụng thực tế ảo cho lễ hội và hoạt động bảo tàng; kho dữ liệu số về nghệ nhân và tri thức dân gian. Tất cả phải giữ vững tính nguyên gốc, bản sắc, để di sản không bị mai một mà ngày càng gần gũi, sống động trong nhịp sống hiện đại.
Bảo tồn và phát huy di sản phi vật thể chính là giữ gìn nền tảng tinh thần của cộng đồng cư dân. Trong từng câu hát quan họ, chiếu chèo sân đình, hay nghi lễ truyền thống là ký ức hàng trăm năm của dân tộc được kết tinh. Khi những giá trị ấy được trao truyền thế hệ, cộng đồng sẽ có thêm điểm tựa vững chắc giữa dòng chảy biến động. Từ đó, khơi dậy niềm tự hào dân tộc, nuôi dưỡng sáng tạo và góp phần vào sự chuyển mình mạnh mẽ của đất nước.
Mạch nguồn di sản vùng Đồng bằng sông Hồng là tài sản vô giá mà các thế hệ cha ông đã gửi gắm lại, cần được gìn giữ, nuôi dưỡng, trở thành động lực, sức mạnh nội sinh cho sự phát triển.
Tiêu điểm: Phát huy di dản văn hóa truyền thống
1. Nhạc sĩ Nguyễn Quang Long: Nghệ thuật dân gian luôn vận động