- PV: Thưa ông, Hà Nội, hay rộng hơn là vùng Đồng bằng sông Hồng có kho tàng di sản văn hóa phi vật thể rất phong phú, tuy nhiên có ý kiến cho rằng, các lễ hội vẫn phát huy tốt giá trị, còn các loại hình nghệ thuật như xẩm, chèo tàu Tân Hội, múa rối nước, múa Bài bông… đang thiếu “đất sống” trong cộng đồng, xin ông cho ý kiến?
- Nhạc sĩ Nguyễn Quang Long: Chúng ta hãy nhìn vấn đề một cách toàn diện hơn. Mỗi loại hình di sản có một đặc điểm tồn tại khác nhau nên không thể đặt tất cả trong cùng một trạng thái để đánh giá. Các lễ hội truyền thống hiện nay vẫn giữ được sức sống khá mạnh bởi chúng gắn trực tiếp với nhu cầu tín ngưỡng, sinh hoạt cộng đồng và tâm thức của người dân. Trong khi đó, nhiều loại hình nghệ thuật dân gian như hát xẩm, chèo tàu Tân Hội, múa rối nước hay múa Bài bông vốn tồn tại trong những không gian xã hội rất đặc thù. Trước kia, chúng hiện diện tự nhiên trong đời sống làng xã, ở sân đình, bến nước, chợ quê hay trong các dịp hội hè. Nhưng khi cấu trúc cộng đồng thay đổi, không gian văn hóa truyền thống thu hẹp thì nghệ thuật dân gian cũng buộc phải thay đổi theo.
Thực tế, múa rối nước hiện nay vẫn là một trong số ít nghệ thuật truyền thống có khả năng tiếp cận công chúng và du khách quốc tế khá tốt. Hát xẩm cũng có những chuyển động tích cực trong hơn hai mươi năm qua, từ phục hồi làn điệu cổ, truyền dạy đến việc đưa xẩm vào không gian công cộng, trường học hay môi trường số. Còn với chèo tàu Tân Hội hay múa Bài bông, đây là những di sản mang tính nghi lễ và bản địa rất cao, chỉ tồn tại trong một vài cộng đồng cụ thể, nên cách phát huy giá trị cũng khác. Theo tôi, điều quan trọng hiện nay không chỉ là giữ lại hình thức biểu diễn, mà là tìm cách duy trì hoặc tạo ra những không gian văn hóa mới để di sản tiếp tục có ý nghĩa trong đời sống hôm nay. Bởi nghệ thuật dân gian vốn chưa bao giờ đứng yên, nó luôn vận động cùng xã hội.
- Theo ông, vì sao có sự “lép vế” ấy, có phải do thiếu đầu tư nguồn lực, hay còn nguyên nhân nào khác?
- Sự “lép vế” của một số loại hình nghệ thuật dân gian hiện nay không chỉ là câu chuyện thiếu đầu tư nguồn lực, dù đây vẫn là một yếu tố quan trọng. Nguyên nhân sâu xa hơn nằm ở sự thay đổi của môi trường văn hóa và thói quen tiếp nhận nghệ thuật trong xã hội hiện đại.
Bên cạnh đó, nhiều di sản hiện vẫn đang được tiếp cận theo hướng bảo tồn hình thức, trong khi chưa thật sự tạo được đời sống mới cho nó trong xã hội đương đại. Có lúc chúng ta giữ được tiết mục biểu diễn, nhưng lại thiếu môi trường để di sản tiếp tục giao tiếp tự nhiên với công chúng. Ngoài ra, nghệ thuật truyền thống vốn cần chiều sâu, cần tính cộng đồng và sự kiên trì, bền bỉ trong tiếp nhận, trong khi đời sống hiện đại ngày càng thiên về tốc độ và tính giải trí. Đây là thách thức chung của nhiều quốc gia chứ không riêng Việt Nam.
- Cần làm gì để các di sản văn hóa phi vật thể khu vực Đồng bằng sông Hồng có thể “neo đậu” trong lòng công chúng trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo (AI)?
- Chúng ta cần phải nhìn nhận AI hay công nghệ số là một điều tất yếu của phát triển, cho nên nó không phải đối thủ của nghệ thuật truyền thống. Ngược lại, nếu sử dụng đúng cách, có thể nó sẽ là công cụ rất hiệu quả để lưu trữ tư liệu, quảng bá di sản và kết nối với công chúng trẻ. Một làn điệu xẩm, một tích trò rối nước hay một không gian diễn xướng dân gian hoàn toàn có thể hiện diện trên nền tảng số bằng những hình thức mới mẻ nhưng vẫn giữ được tinh thần văn hóa cốt lõi.
Cần hiểu vị trí của công nghệ chỉ là phương tiện. Điều quan trọng nhất vẫn là con người và giáo dục văn hóa cộng đồng. Một di sản chỉ thật sự sống khi người dân cảm thấy nó thuộc về đời sống tinh thần của mình. Di sản dân gian vùng Đồng bằng sông Hồng từng tồn tại hàng trăm năm vì luôn gắn với đời sống con người.
- Xin trân trọng cảm ơn ông!